VĂN PHÒNG UBND TỈNH QUẢNG TRỊ THAM MƯU LÃNH ĐẠO TỈNH CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 5 NĂM 2006 - 2010.

Thứ hai - 30/11/2015 10:47 - Đã xem: 296
1. Đường lối phát triển kinh tế - xã hội tỉnh giai đoạn 2006 - 2010.
Sau 20 năm cùng với cả nước thực hiện công cuộc đổi mới, những thuận lợi từ thành quả của công cuộc đổi mới đất nước và kết quả đạt được của quá trình xây dựng và phát triển sau hơn 15 năm tỉnh nhà lập lại là những tiền đề cơ bản và quan trọng cho quá trình phấn đấu phát triển trong thời kỳ mới. Hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư xây dựng là cơ sở vật chất đảm bảo để phát triển năng lực sản xuất của các ngành, các thành phần kinh tế trên địa bàn tỉnh. Cơ chế chính sách được tạo lập đã có tác dụng huy động, thu hút nguồn lực đầu tư phát triển và hứa hẹn khả năng huy động nguồn lực đầu tư phát triển lớn hơn cho thời kỳ tiếp theo. Ngoài ra, Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng an ninh các tỉnh Trung bộ và duyên hải miền Trung là định hướng quan trọng cho kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2006 - 2010).
Tuy nhiên, tỉnh Quảng Trị cũng gặp không ít khó khăn, thách thức do điểm xuất phát thấp, tích lũy từ nội bộ nền kinh tế còn quá nhỏ bé, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội chưa thật sự hấp dẫn đầu tư từ bên ngoài; tiềm lực kinh tế của Nhà nước và nhân dân trong tỉnh đang rất hạn chế. Quảng Trị lại là một trong những địa phương xa các trung tâm kinh tế - văn hóa, xã hội lớn của cả nước. Thiên tai, dịch bệnh xảy ra ở nhiều vùng trong tỉnh; lạm phát tăng cao trong năm 2008 và suy thoái kinh tế thế giới trong những năm 2008, 2009,… đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn này.
Ngày 02/12/2005, tại thị xã Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đã chính thức khai mạc với chủ đề “Tăng cường đoàn kết, chủ động sáng tạo, khai thác tiềm năng, vượt lên thách thức, phấn đấu đưa Quảng Trị phát triển toàn diện, bền vững”. Mục tiêu tổng quát được đặt ra là “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ, toàn diện, vững chắc trên tất cả các lĩnh vực. Tập trung huy động mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội; giữ vững quốc phòng an ninh; tăng cường xây dựng, chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; hiệu lực quản lý, điều hành của các cấp chính quyền; vai trò hoạt động và giám sát của mặt trận và các đoàn thể nhân dân, phấn đấu đưa tỉnh thoát khỏi nhóm tỉnh nghèo của cả nước”. [1]
[1] Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV
 
Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ XIV nhiệm kỳ 2005 - 2010
Với sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, đúng đắn của các cấp uỷ Đảng, cùng với các biện pháp điều hành có hiệu quả của chính quyền; vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể được phát huy; đồng thời được sự hỗ trợ tích cực của Trung ương Đảng, Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh, Đảng bộ và nhân dân Quảng Trị đã nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, thách thức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV và đạt được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá - xã hội, quốc phòng - an ninh và xây dựng hệ thống chính trị.
Quan điểm tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt giai đoạn này là Phát triển nhanh gắn với đảm bảo tính hiệu quả và bền vững trên cơ sở xác định vùng kinh tế động lực, khâu đột phá, ngành kinh tế mũi nhọn. Đầu tư phát triển kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ xã hội, tạo dựng tiền đề cho bước phát triển nhanh thời kỳ sau 2010.
Theo đó, một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội được đặt ra trong giai đoạn 2006 - 2010 như: Đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục bình quân 5 năm đạt 11 - 12%; Phấn đấu đến năm 2010 cơ cấu kinh tế của tỉnh có thương mại - dịch vụ - du lịch chiếm tỷ trọng 38 - 40%, công nghiệp - xây dựng chiếm tỷ trọng 33 - 35%, nông - lâm - ngư nghiệp chiếm tỷ trọng 25 - 27%; Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt trên 10 triệu đồng (khoảng 620 - 650 USD), tăng gấp 2 lần so với năm 2005; Tốc độ thu ngân sách nội địa bình quân hàng năm 14 - 15%, phấn đấu đến năm 2010 thu ngân sách trên địa bàn tỉnh đạt 550 - 600 tỷ đồng; Tỷ lệ hộ đói nghèo đến năm 2010 giảm còn dưới 15%; Tạo việc làm mới hàng năm cho 7.500 - 8.000 lao động. Sản lượng lương thực có hạt bình quân 22 vạn tấn/năm. Kim ngạch xuất khẩu năm 2010 phấn đấu đạt 50 triệu USD. Kim ngạch nhập khẩu năm 2010 phấn đấu 40 triệu USD. Phấn đấu đến năm 2010 có 65 - 70% số xã đạt chuẩn phổ cập trung học phổ thông. Đến năm 2010, phấn đấu đảm bảo tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên 1,1%. Về xây dựng Đảng, hàng năm có trên 75% tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh, 70 - 75% đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ; trong nhiệm kỳ kết nạp trên 5.000 đảng viên mới.
Tạo bước đột phá về chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phát triển nền kinh tế toàm diện, vững chắc, sớm rút ngắn khoảng cách so với các tỉnh trong cả nước. Trong đó, các định hướng lớn trong đầu tư phát triển nền kinh tế được xác định: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa là cơ sở, nền tảng của nền kinh tế. Tập trung chỉ đạo đầu tư phát triển toàn diện, đồng bộ trên cả 3 vùng, đặc biệt chú trọng đầu tư khai thác chiều sâu, đa dạng hóa cây con, chuyên canh, thâm canh, nhằm không ngừng nâng cao giá trị và hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích, coi đó là thước đo phát triển kinh tế trong nông - lâm - ngư nghiệp. Tốc độ tăng trưởng nông - lâm - ngư nghiệp bình quân đạt 4%/năm; Phát triển công nghiệp - xây dựng là nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên số một của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm tạo động lực quan trọng và cơ bản cho chuyển dịch cơ cấu và phát triển kinh tế của tỉnh. Phấn đấu tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng đạt 25%/năm; Thương mại - du lịch - dịch vụ giữ vị trí quan trọng, phấn đấu sớm trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, tạo bước đột phá cho thời kỳ sau năm 2010. Tốc độ tăng trưởng thương mại - du lịch - dịch vụ bình quân đạt 8,4%/năm.
Xây dựng môi trường, lối sống, đời sống văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát huy bản chất truyền thống quý báu của con người Quảng Trị, tạo nền tảng tinh thần và động lực mới thúc đẩy sự nghiệp phát triển quê hương, giải quyết tốt các vấn đề xã hội. Tập trung xây dựng phát triển sự nghiệp văn hóa - thông tin, thể dục thể thao; chăm lo sự nghiệp giáo dục - đào tạo; đẩy mạnh sự nghiệp y tế, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân, nâng cao chất lượng dân số; nghiên cứu ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ; giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội.
Tăng cường công tác quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị xã hội; Củng cố, mở rộng và tăng cường quan hệ hợp tác trong khu vực và thế giới. Chủ động và tích cực đưa quan hệ hợp tác phát triển với các nước, các tỉnh trên hành lang kinh tế Đông Tây lên một tầm cao mới, đạt mục tiêu và hiệu quả thiết thực; Giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật, đẩy mạnh thực hiện cải cách hành chính, cải cách tư pháp, nâng cao hiệu lực điều hành, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp và hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật; Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, đổi mới hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo sự đồng thuận trong cộng đồng dân cư.
Định hướng phát triển giai đoạn này cũng đã được HĐND tỉnh thông qua. Trong đó [1]:
- Triển khai Đề án quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội. Thực hiện việc quy hoạch và công tác quản lý quy hoạch có hiệu quả; rà soát, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch chung, ngành, lĩnh vực; đảm bảo việc đầu tư tập trung, tính hiệu quả trong đầu tư và sự phát triển có tính bền vững;
- Ưu tiên vốn đầu tư phát triển các vùng động lực để tạo bước đột phá cho nền kinh tế như: thị xã Đông Hà, Khu kinh tế Thương mại đặc biệt Lao Bảo, khu vực Cửa Việt - Cửa Tùng, các Khu công nghiệp Nam Đông Hà, Quán Ngang...;
- Phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra các vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến như: vùng nguyên liệu sắn, nguyên liệu gỗ, nhựa thông, cao su, cà phê, hồ tiêu, thủy sản... Phát triển công nghiệp trên cơ sở nhu cầu thị trường, tạo bước tiến rõ rệt về chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của các ngành chế biến nông lâm thủy sản, sản xuất vật liệu xây dựng thành sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao;
- Khai thác thế mạnh của các ngành dịch vụ còn nhiều tiềm năng. Phát triển mạnh các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao như bưu chính viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn, du lịch... Tiếp tục phát triển các ngành vận tải, thương mại; mở rộng và nâng cao sức mua của thị trường nội địa;
- Tăng cường quản lý về tài nguyên và khoáng sản, tiếp tục đẩy mạnh việc giao đất, giao rừng, quy hoạch việc khai thác vật liệu xây dựng, khoáng sản đáp ứng cho quá trình phát triển;
- Hoàn thành việc sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tích cực hỗ trợ nhằm phát triển mạnh doanh nghiệp vừa và nhỏ; tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển;
- Tăng cường ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất kinh doanh.
- Đẩy mạnh phong trào xây dựng nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc ở các địa phương. Hiện đại hoá các phương tiện nghe nhìn, tăng cường công tác đưa thông tin về cơ sở.
- Nâng cao chất lượng giáo dục ở các cấp học, bậc học; củng cố vững chắc kết quả phổ cập trung học cơ sở, từng bước thực hiện phổ cập giáo dục trung học phổ thông. Tăng cường đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh, nhất là công nhân kỹ thuật lành nghề, cán bộ quản lý và lao động có tay nghề cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Nâng cao y đức và chất lượng chuyên môn đội ngũ y, bác sĩ; coi trọng y học dự phòng, gắn với chương trình y tế cộng đồng; phát triển các loại hình chăm sóc sức khỏe nhân dân; quan tâm công tác khám chữa bệnh cho người nghèo, gia đình chính sách;
- Nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại; củng cố thị trường đã có, mở rộng thị trường mới; tạo mọi điều kiện thuận lợi để tăng nhanh xuất khẩu, thu hút vốn, công nghệ từ bên ngoài. Tích cực hội nhập kinh tế quốc tế;
- Khuyến khích các thành phần kinh tế mở rộng ngành nghề, thu hút lao động. Giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn; đảm bảo xóa hộ đói, giảm nhanh số hộ nghèo theo chuẩn quốc gia. Phát triển mạng lưới an sinh xã hội, chăm sóc tốt người có công với nước…;
- Thực hiện các cơ chế chính sách đủ mạnh, đặc biệt và phù hợp để điều hành kinh tế - xã hội phát triển. Đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính, đổi mới và nâng cao hiệu lực của bộ máy quản lý nhà nước. Từng bước đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân; thực hiện việc công khai, minh bạch trong quan hệ với nhân dân và doanh nghiệp. Tập trung nâng cao hiệu quả việc thực hiện trật tự an toàn giao thông và giảm thiểu các vụ tai nạn giao thông;
- Bảo vệ và cải thiện môi trường, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội bền vững và có hiệu quả. Thực hiện tốt nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh; bảo đảm trật tự kỷ cương trong các hoạt động kinh tế - xã hội.
Trong giai đoạn này, bộ máy lãnh đạo UBND tỉnh có một số thay đổi. Đồng chí Nguyễn Viết Nên, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh nghỉ hưu theo chế độ. Ngày 23/6/2009, đồng chí Lê Hữu Phúc có Quyết định miễn nhiệm chức danh Chủ tịch UBND tỉnh nhiệm kỳ 2004 - 2011[2] và được bầu giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy; Đồng chí Nguyễn Đức Cường được bầu giữ chức vụ Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh.[3] Đồng chí Nguyễn Quân Chính được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Chủ tịch UBND tỉnh. Cũng trong thời kỳ này, một số cán bộ, trưởng, phó các phòng chuyên môn được luân chuyển, điều động sang công tác tại các Sở, ngành, địa phương.
Về cơ cấu bộ máy Văn phòng UBND tỉnh, sau khi có Nghị định 136/2005/NĐ-CP ngày 8/11/2005 của Chính phủ về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thay thế cho Nghị định 156/HĐBT ngày 17/12/1981 của Hội đồng Bộ trưởng, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị đã xây dựng Đề án sắp xếp lại tổ chức, biên chế của Văn phòng để phù hợp với Nghị định 136/2005/NĐ-CP và tình hình thực hiện nhiệm vụ của Văn phòng trong giai đoạn này; đồng thời phối hợp Sở Nội vụ và Sở Tư pháp trình UBND tỉnh ban hành Quyết định số 40/2006/QĐ-UBND ngày 13/4/2006 của UBND tỉnh quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị. Theo đó, tổ chức của Văn phòng UBND tỉnh gồm có các đơn vị, bộ phận:
Lãnh đạo Văn phòng: Chánh Văn phòng và 3 Phó Văn phòng
Khối chuyên viên Nghiên cứu - Tổng hợp (không thành lập phòng, làm việc theo chế độ chuyên viên trực tuyến)
Khối hành chính, quản trị gồm: Phòng Hành chính - Tổ chức, Phòng Quản trị - Tài vụ (bao gồm cả đội xe).
Các đơn vị sự nghiệp gồm: Trung tâm Công báo tỉnh, Trung tâm Tin học tỉnh và Trung tâm Lưu trữ tỉnh
Tổng số biên chế được giao: 72 biên chế, trong đó 44 biên chế quản lý hành chính, 20 biên chế sự nghiệp và còn lại là hợp đồng lao động theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP. So với năm 2005, biên chế năm 2006 được tăng thêm 7 (biên chế sự nghiệp); tổ chức bộ máy thành lập thêm 1 đơn vị: Trung tâm Công báo tỉnh. Trung tâm Hội nghị được triển khai xây dựng để kịp đi vào hoạt động phục vụ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn và 35 năm ngày giải phóng Quảng Trị...
Trong năm 2007, Tổ chức bộ máy của Văn phòng UBND tỉnh đã được kiện toàn và bổ sung biên chế đảm bảo chất lượng để hoàn thành nhiệm vụ được giao gồm có 7 đầu mối: Khối Nghiên cứu - Tổng hợp, Phòng Hành chính - Tổ chức, Phòng Quản trị - Tài vụ, Trung tâm Công báo tỉnh, Trung tâm Tin học tỉnh, Trung tâm Lưu trữ tỉnh và Trung tâm Dịch vụ - Hội nghị tỉnh (thành lập tháng 3/2007 và đi vào hoạt động từ tháng 6/2007)[4] với tổng số 70 biên chế, 6 hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP, 13 hợp đồng lao động được UBND tỉnh, Sở Nội vụ cho phép và 9 lao động do đơn vị tự cân đối trả lương.
Đến năm 2008, tổ chức bộ máy của Văn phòng UBND tỉnh được kiện toàn và bổ sung biên chế đảm bảo chất lượng để hoàn thành nhiệm vụ được giao theo Nghị định 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ. Văn phòng UBND tỉnh có 6 đơn vị trực thuộc: Khối Nghiên cứu - Tổng hợp, Phòng Hành chính - Tổ chức, Phòng Quản trị - Tài vụ, Trung tâm Công báo tỉnh, Trung tâm Tin học tỉnh và Trung tâm Dịch vụ - Hội nghị tỉnh với 66 biên chế/73 biên chế được giao (trong đó có 38 quản lý nhà nước, 23 biên chế sự nghiệp, 5 hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP) và 23 hợp đồng lao động tự trả lương. Ngày 30/7/2008 Trung tâm Lưu trữ tỉnh đã được bàn giao sang Sở Nội vụ theo Quyết định số 1255/QĐ-UBND ngày 01/7/2008 của UBND tỉnh.
2. Hoạt động của Văn phòng UBND tỉnh phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo tỉnh
Xác định nhiệm vụ trọng tâm và xuyên suốt trong giai đoạn này, Văn phòng UBND tỉnh đã tích cực và tăng cường tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo, điều hành nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, tập trung chỉ đạo xây dựng và thực hiện nhiều cơ chế chính sách cấp thiết, phù hợp nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, thực hiện thắng lợi phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006 - 2010.
Trong 5 năm (2006 - 2010), Văn phòng UBND tỉnh đã tiếp nhận 95.433 văn bản đến của Trung ương, các ngành, địa phương và các tổ chức, đoàn thể...; Văn phòng UBND tỉnh đã chủ động xử lý hoặc trao đổi, làm việc trực tiếp với các Sở, ngành, địa phương về những vấn đề còn có ý kiến khác nhau trong quá trình xử lý văn bản, đã tham mưu UBND tỉnh ban hành 38.248 văn bản chỉ đạo, điều hành hoạt động trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng.
Để làm tốt công tác tham mưu và giúp việc UBND tỉnh, Văn phòng UBND tỉnh luôn quan tâm đổi mới lề lối làm việc, tiến hành cải cách hành chính trong cơ quan cũng như thể chế hóa các hoạt động bằng các quy chế, quy định. Rà soát trình UBND tỉnh ban hành: Quy chế làm việc và mối quan hệ công tác của Văn phòng thay thế quy chế cũ không còn phù hợp; Ban hành các Quy chế phối hợp giữa Đảng ủy và Văn phòng; Quy chế phối hợp giữa Đảng ủy và Công đoàn; Quy chế xây dựng đơn vị văn hóa; Quy chế nâng lương trước thời hạn; Quy chế quản lý xăng xe; Kế hoạch thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng; Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí....Với việc ban hành các quy chế đã đưa các hoạt động của cơ quan, đảng, đoàn thể đi vào nề nếp, chặt chẽ, kỷ cương hành chính được chấn chỉnh. Trách nhiệm, quyền hạn, quan hệ, sự phối hợp công tác của Lãnh đạo Văn phòng và từng cán bộ công chức được xác định cụ thể. Các quy trình thủ tục xử lý, soạn thảo văn bản được cải tiến, đơn giản hóa, thuận tiện và giảm đáng kể thời gian thực hiện, tạo thuận lợi cho các tổ chức, công dân đến giao dịch công tác. Các đơn vị sự nghiệp gồm: Trung tâm Công báo, Trung tâm Lưu trữ, Trung tâm Tin học tỉnh đã đi vào hoạt động theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 21/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức, bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công ngay từ đầu năm 2007.
Văn phòng đã nghiêm túc tham mưu cho UBND tỉnh thực hiện Quyết định 114/2006/QĐ-TTg ngày 25/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ Quy định chế độ hội họp trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước. Vì vậy, đã giảm được số lượng và nâng cao chất lượng các cuộc họp của UBND tỉnh cũng như của các cấp, các ngành trong tỉnh, tiết kiệm được thời gian và tạo điều kiện cho các đồng chí lãnh đạo tỉnh có thời gian nghiên cứu và làm việc với các cơ sở.
Trong Công tác tham mưu tổng hợp, Văn phòng giúp lãnh đạo UBND tỉnh tập trung chỉ đạo điều hành những công tác trọng tâm, trọng điểm và những vấn đề phát sinh trong năm, nhất là các chương trình, dự án và công tác trọng tâm cũng như công tác phòng, chống và khắc phục hậu quả bão lụt, sụt lún đất; phòng chống dịch cúm gia cầm... góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh của tỉnh; đời sống của các tầng lớp nhân dân được cải thiện; an ninh, quốc phòng được củng cố, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
Mặt khác, giúp UBND tỉnh giữ mối quan hệ làm việc chặt chẽ với Thường trực, Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực HĐND tỉnh, Thường trực UBMTTQ Việt Nam tỉnh và các tổ chức chính trị - xã hội trong tỉnh; Duy trì tốt mối quan hệ công tác của UBND tỉnh với Chính phủ, Văn phòng Chính phủ và các Bộ ngành Trung ương, các tổ chức quốc tế, các nhà tài trợ, các thành phố, các tỉnh bạn và các nhà đầu tư trong và ngoài nước, tranh thủ sự giúp đỡ của các dự án, tổ chức góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh phát triển.
Giúp UBND tỉnh chỉ đạo điều hành chương trình công tác đúng quy trình, quy chế làm việc, phân công phân nhiệm cụ thể, rõ ràng, giữ vững đoàn kết nội bộ nên công tác quản lý điều hành của UBND tỉnh ngày càng đồng bộ, hiệu quả; các chủ trương chính sách của Đảng, Chính phủ, của Tỉnh ủy và HĐND tỉnh được kịp thời cụ thể hóa trong các đề án, dự án, chương trình hành động và tổ chức thực hiện sâu sát, có hiệu quả.
Ngoài ra, Văn phòng đã tích cực triển khai Đề án 112 của Chính phủ, với việc đưa công nghệ thông tin vào ứng dụng đã tạo ra một phương thức làm việc mới, nâng cao hiệu quả công tác của cán bộ công chức. Duy trì tốt hoạt động của Trung tâm tích hợp dữ liệu của tỉnh; Các Sở, Ban ngành, huyện, thị xã, thành phố đều được cài đặt mạng cục bộ và đã kết nối vào mạng tin học diện rộng của tỉnh và mạng Internet. Hầu hết cán bộ công chức trong Văn phòng đều được trang bị và sử dụng thành thạo máy vi tính để soạn thảo lập hồ sơ công việc và quản lý văn bản; chỉ đạo xây dựng đường truyền trực tuyến tốc độ cao cho 38 đơn vị và 9 cá nhân vào mạng tin học diện rộng của tỉnh; trang bị và lắp đặt thiết bị công nghệ thông tin cho 61 đơn vị; xây dựng và nâng cấp mạng máy tính cục bộ cho 10 đơn vị; duy trì kết nối vào mạng tin học diện rộng của tỉnh thông qua đường truyền cáp quang, đường truyền VPN cho 60 đơn vị; Tổ chức tập huấn sử dụng phần mềm dùng chung cho cán bộ công chức của các Sở, Ban ngành và UBND các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh. Trang thông tin điện tử trên mạng tin học diện rộng của tỉnh đã phục vụ tốt công tác chỉ đạo điều hành của Lãnh đạo tỉnh và giúp cho việc khai thác, tác nghiệp hàng ngày của cán bộ công chức toàn tỉnh.
Văn phòng UBND tỉnh đã ban hành “Quy định về việc tiếp nhận, xử lý và ban hành văn bản tại Văn phòng UBND tỉnh” theo hướng minh bạch, công khai; Tham mưu giúp UBND tỉnh phân công lại việc theo dõi, chỉ đạo và phụ trách các lĩnh vực công tác của Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên UBND tỉnh nhiệm kỳ 2004 - 2009; Phân công lại trách nhiệm trong Lãnh đạo Văn phòng, chuyên viên để phù hợp với thực tế và theo lĩnh vực của Chủ tịch và các Phó Chủ tịch UBND tỉnh phụ trách.
Năm 2006 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ XIV; kế hoạch kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010. Quán triệt tinh thần Nghị quyết các Đại hội, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh cùng với ý thức trách nhiệm cao, tinh thần đoàn kết nhất trí, quyết tâm khắc phục khó khăn của cán bộ công chức, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch công tác năm 2006 trong tham mưu, giúp việc cho lãnh đạo UBND tỉnh.
So với các chỉ tiêu Nghị quyết của HĐND tỉnh đề ra về phát triển kinh tế - xã hội và môi trường trong năm 2006 có 26 chỉ tiêu chủ yếu đạt và vượt kế hoạch đề ra; có 4 chỉ tiêu xấp xỉ đạt so với kế hoạch; có 1 chỉ tiêu không đạt kế hoạch đề ra (chỉ tiêu trồng mới hồ tiêu đạt 49,1% kế hoạch). [5]
Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao 11,54%, tuy chưa bằng mức kế hoạch đề ra là 12% nhưng đã cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của tỉnh trong 5 năm 2000 - 2005 (8,7%). Cơ cấu ngành kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; bước đầu phát huy lợi thế so sánh của từng vùng, từng ngành. Tỷ trọng của ngành nông - lâm - thuỷ sản giảm từ 36% năm 2005 xuống còn 34,3% năm 2006. Trong khi đó, tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng tiếp tục tăng từ 25,6% năm 2005 lên 28,2% năm 2006, dịch vụ giảm từ 38,4% năm 2005 còn 37,5% năm 2006. Ngành công nghiệp chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng kinh tế nhà nước, tăng tỷ trọng kinh tế ngoài quốc doanh và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; nền kinh tế của tỉnh đạt tốc độ tăng trưởng cao; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; bộ mặt đô thị, nông thôn ngày càng khởi sắc.
Kinh tế nông thôn có nhiều tiến bộ rõ rệt; hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn, đặc biệt là hệ thống cấp điện, giao thông, cấp nước sinh hoạt được tăng cường đáng kể. Các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn đang phát huy hiệu quả, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ đồng bào dân tộc khó khăn... Mô hình kinh tế trang trại và các làng nghề, ngành nghề nông thôn bước đầu phát triển tốt. Hệ thống dịch vụ, thương mại phát triển rộng khắp các địa bàn nông thôn, đã góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế và tạo thêm việc làm, nâng cao đời sống nông dân.
[1] Nghị quyết 73/2006/NQ-HĐND của HĐND tỉnh về phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006 - 2010
[2] Quyết định số 887/QĐ-TTg ngày 23/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ
[3] Quyết định số 888/QĐ-TTg ngày 23/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ
[4] Quyết định số 389/QĐ-UBND ngày 2/3/2007 của UBND tỉnh Quảng Trị
[5] Báo cáo số /BC-UBND tháng 11/2006 của UBND tỉnh Quảng Trị
Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo
cây cao su 1.270 ha, đạt 127% kế hoạch, cây cà phê 300 ha, đạt 150% kế hoạch. Diện tích trồng sắn nguyên liệu có bước phát triển khá, đạt 9.300 ha, tăng 18,9% so với năm 2005, từng bước đáp ứng nguyên liệu cho các nhà máy tinh bột sắn trên địa bàn hoạt động. Trồng mới được 4.500 ha rừng tập trung, đạt 112,5% kế hoạch đề ra. Sản lượng gỗ khai thác: 49.970 m3, tăng 5,3%, trong đó sản lượng gỗ rừng trồng 40.750 m3, tăng 5%. Công tác khoanh nuôi, tái sinh rừng được tăng cường. Công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng có nhiều tiến bộ, số vụ cháy rừng giảm mạnh so năm trước. Nuôi thuỷ sản năm 2006 được mùa khá toàn diện, năng suất và giá cả thuỷ sản nuôi tăng khá cao so với các năm trước, dịch bệnh được kiểm soát nên chỉ xảy ra cục bộ ở một số vùng với diện tích nhỏ. Dự án nuôi tôm trên cát Hải Lăng sau nhiều năm sản xuất chưa hiệu quả, nay đã thu hoạch 14,5 ha, năng suất đạt 14 tấn/ha, môi trường sinh thái vùng nuôi đã được cải thiện. Công tác giống thuỷ sản được tăng cường; nhiều loại giống mới được sản xuất và đưa vào nuôi trên địa bàn. Tỉnh đã bàn giao trại tôm giống Triệu Lăng cho Bộ Thuỷ sản để phát triển thành trung tâm giống của vùng.
Sản xuất công nghiệp có tốc độ tăng khá cao, giá trị sản xuất công nghiệp thực hiện 905 tỷ đồng, đạt kế hoạch đề ra và tăng 22,2% so với năm 2005. Trong đó tăng cao nhất là khu vực nhà nước, tăng 32,6% so với năm 2005, tiếp đến là khu vực ngoài quốc doanh, tăng 18,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17%. Một số sản phẩm có tốc độ tăng khá như: đá khai thác tăng 20,1%; xi măng tăng 12,5%; gạch xây dựng tăng 20,7%; nước máy tăng 16,1%; điện thương phẩm tăng 28,8%... các sản phẩm mới như săm lốp xe máy, ván gỗ MDF, tinh bột sắn, sản phẩm giấy... cũng đã đóng góp quan trọng cho mức tăng giá trị sản xuất của ngành công nghiệp. Cơ sở hạ tầng các khu, cụm công nghiệp được đầu tư từng bước, ngoài tập trung đầu tư cho các khu công nghiệp: Nam Đông Hà, Quán Ngang và Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo; nhiều huyện, thị đã đầu tư xây dựng hoặc quy hoạch chuẩn bị xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề để phát triển sản xuất tiểu thủ công nghiệp và thu hút đầu tư.
Hoạt động kinh doanh thư­ơng mại diễn ra khá sôi động, hàng hoá đa dạng, phong phú về chủng loại, mẫu mã, mạng lưới kinh doanh rộng khắp, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và tiêu thụ hàng hoá trên địa bàn thuận lợi, sức mua thị trư­ờng trong tỉnh tăng góp phần thúc đẩy sản xuất. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ thực hiện được 3.645 tỷ đồng, đạt 110,6% kế hoạch và tăng 18% so với năm 2005. Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu có tiến bộ hơn trước. Kim ngạch xuất khẩu đạt 18 triệu USD, đạt 90% kế hoạch, các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là nông sản như cà phê, lạc nhân, tinh bột sắn, cao su sơ chế... Kim ngạch nhập khẩu đạt 38 triệu USD, tăng 36,8% so với năm 2005, hàng nhập khẩu chủ yếu là hàng tiêu dùng, thiết bị sản xuất. Hoạt động du lịch có nhiều tiến bộ, tổng doanh thu du lịch đạt 80 tỷ đồng, tăng 33% so với năm 2005; Tổng lượt khách du lịch trong năm đạt 260.000 lượt khách, tăng 27%, trong đó có 56.000 lượt khách quốc tế và 204.000 lượt khách nội địa; cơ sở hạ tầng và chất lượng các hoạt động dịch vụ bước đầu được nâng lên.
Tổng thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 453,08 tỷ đồng, tăng 29,45% so dự toán đầu năm trong đó thu nội địa: 340 tỷ đồng, tăng 23,6%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 113 tỷ đồng, tăng 50,6%. Tổng chi ngân sách địa phương thực hiện 1.687,866 tỷ đồng, vượt 33,6% dự toán đầu năm. Trong đó chi ngân sách thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục, y tế, quản lý hành chính nhà nước, quốc phòng - an ninh và chi đầu tư phát triển đều được đảm bảo. Hoạt động ngân hàng, kinh doanh tiền tệ có bước phát triển khá so với các năm trước. Các quỹ tín dụng nhân dân hoạt động an toàn và hiệu quả. Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn trong năm ước đạt 1.836 tỷ đồng, tăng 19,8% so với năm 2005. Tổng dư nợ cho vay ước đạt 2.363 tỷ đồng, tăng 17,1% so với năm 2005. Chất lượng các dịch vụ được nâng lên, tỷ lệ nợ xấu giảm. Các ngân hàng đã từng bước hiện đại hóa công nghệ, cải tiến phương thức thanh toán và tăng cường các dịch vụ đáp ứng nhu cầu khách hàng, đặc biệt là hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, thanh toán tự động thông qua hệ thống máy điện tử và thẻ tín dụng...
Các cân đối lớn của nền kinh tế như cân đối ngân sách, cân đối vốn đầu tư phát triển tiếp tục được đảm bảo, đây là nhân tố quan trọng để ổn định nền kinh tế - xã hội, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển có lợi. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2006 tăng 18,3% so với năm 2005. Trong đó, nguồn vốn của dân cư và doanh nghiệp tư nhân chiếm khoảng 36%, nguồn vốn đầu tư nước ngoài chiếm 12,2%. Cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh được tăng cường. Điểm nổi bật trong đầu tư là công trình Thuỷ lợi - Thuỷ điện Quảng Trị được chặn dòng tích nước đúng tiến độ làm giảm lũ kịp thời cho vùng hạ du trong mùa mưa lũ.
Hệ thống giao thông được đầu tư, nâng cấp đảm bảo lưu thông hàng hoá và đi lại của nhân dân. Nhiều công trình giao thông quan trọng được đầu tư, nâng cấp trong năm như: đường Ba Lòng - Hải Phúc, đường vào xã Ba Nang, cầu tràn Ba Lòng, đường 9D, đường Tà Rụt - A Vao, cầu Cửa Tùng... Năm 2006, 138/139 xã đã có đường ô tô đến trung tâm. Giao thông nông thôn và giao thông nội thị từng bước được kiên cố hoá góp phần cải thiện bộ mặt nông thôn, đô thị, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương. Mạng lưới bưu chính - viễn thông, thông tin liên lạc được phát triển mạnh, đạt 17,5 máy điện thoại trên 100 dân (tăng 6,3 máy/100 dân so với năm 2005); 100% số xã có điện thoại. Số thuê bao internet ước đạt 2.700 thuê bao.
Hoạt động xúc tiến đầu tư đạt được kết quả tích cực, thu hút vốn đầu tư ODA, FDI có nhiều chuyển biến đáng kể, đã cấp giấy phép đầu tư cho 4 dự án FDI mới với tổng vốn đăng ký 19,3 triệu USD. Xúc tiến đầu tư trong nước đã mang lại kết quả, có 36 dự án được cấp giấy phép đầu tư vào các Khu kinh tế, Khu du lịch, Khu công nghiệp với tổng số vốn 1.509 tỷ đồng. Tháng 5/2006, Văn phòng đã tham mưu UBND tỉnh tổ chức thành công Hội nghị xúc tiến đầu tư tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo, góp phần tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau và sự nhận thức tiềm năng kinh tế của Quảng Trị và các tỉnh bạn Savannakhet, Mukdahan; tạo cho các nhà đầu tư có thế mạnh riêng biệt tìm kiếm cơ hội, trao đổi kinh nghiệm, hợp tác đầu tư trên hành lang kinh tế Đông Tây; tỉnh cũng tham gia nhiều hoạt động xúc tiến và kêu gọi đầu tư được tổ chức tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, khảo sát xây dựng tuyến du lịch hành lang Đông Tây. Kết quả thu hút đầu tư trong năm là rất khả quan, đã có 17 dự án được cấp giấy phép đầu tư vào Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo với tổng số vốn 1.276 tỷ đồng, có 14 dự án đầu tư vào Khu du lịch tỉnh với tổng số vốn 475 tỷ đồng, 6 dự án đầu tư vào 2 Khu công nghiệp tỉnh (Nam Đông Hà và Quán Ngang) với tổng số vốn 89,9 tỷ đồng.
Ngày 20/12/2006, cầu Hữu nghị nối tỉnh Savannakhet (Lào) và tỉnh Mukdahan (Thái Lan) được khánh thành đánh dấu sự khai thông tuyến hành lang kinh tế Đông Tây, là điều kiện để đẩy mạnh hơn nữa hợp tác phát triển kinh tế của các nước trên trục hành lang kinh tế Đông - Tây. Từ sự kiện này, Đường 9 và cửa khẩu quốc tế Lao Bảo đảm trách nhiệm vụ nặng nề là đưa Việt Nam hội nhập sâu hơn với các nước trong khu vực.
Văn phòng UBND tỉnh tham mưu UBND tỉnh trực tiếp làm việc với các Bộ ngành Trung ương và chú trọng quan hệ hữu nghị đặc biệt với Lào, tăng cường quan hệ với Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản và các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), đặc biệt là trong việc vận động thu hút đầu tư đối với các nhà đầu tư như từ Hồng Kông, Thẩm Quyến, các nhà đầu tư của Đức và thực hiện vận động thu hút các nhà đầu tư trong nước có hiệu quả thực sự. Trong năm 2006, đã khởi động 1 dự án mới - Dự án tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo do ADB tài trợ với tổng số vốn 562.500 USD. Ngoài ra, Văn phòng cũng tích cực giúp UBND tỉnh chuẩn bị thủ tục để ký kết các dự án: Dự án phát triển nông thôn tổng hợp 10 triệu USD; Dự án nâng cấp hệ thống Nam Thạch Hãn; tiếp tục vận động dự án phát triển nuôi trồng thuỷ sản các huyện ven biển, dự án cấp nước vệ sinh thị xã Đông Hà 40.000 m3/ngày đêm...
Thực hiện các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước, Văn phòng đã kịp thời tham mưu và cùng với các Sở, ngành hoàn thành kế hoạch đổi mới sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, UBND tỉnh đã phê duyệt phương án cổ phần hoá cho 5 doanh nghiệp, phê duyệt phương án chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cho 4 doanh nghiệp và tích cực chỉ đạo chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cho 4 Lâm trường quốc doanh để hoàn thành kế hoạch đề ra.
Về công tác giảm nghèo: Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã xác định giảm nghèo là một nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong việc chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh giai đoạn 2006 - 2010 và những năm tiếp theo. Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ 14 xác định, mục tiêu kế hoạch 5 năm (2006 - 2010) bình quân mỗi năm giảm từ 2,5 - 3% hộ nghèo; HĐND tỉnh khóa V, kỳ họp thứ 7 đã ban hành Nghị quyết số 78/2006/NQ-HĐND ngày 22/7/2006 về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2006 - 2010. Chương trình số 1491/Ctr-UBND ngày 4/7/2006 của UBND tỉnh về việc ban hành Chương trình mục tiêu giảm nghèo tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2006 - 2010. Theo đó, mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 28,4% (đầu năm 2006) xuống còn dưới 15% (cuối năm 2010), bình quân hàng năm giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 2,5-3%. Văn phòng UBND tỉnh đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành Quyết định số 50/2006/QĐ-UBND ngày 2/6/2006 về Đề án Tăng cường cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo tại các xã đặc biệt khó khăn. Tỉnh cũng chỉ đạo các địa phương trong tỉnh xây dựng chương trình giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010 của địa phương mình và được HĐND cùng cấp thông qua. Nhờ đó, công tác xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm thu được nhiều kết quả tốt. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới giảm từ 28,5% năm 2005 xuống còn 25,7% năm 2006. Đã giải quyết việc làm cho 8.000 lao động, (kế hoạch đề ra là 6.800 lao động), giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thị xã, thị trấn xuống còn 4%, đạt kế hoạch đề ra.
Đại hội thể dục thể thao tỉnh lần thứ IV
Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội, Văn phòng UBND tỉnh tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo hiệu quả công tác giáo dục - đào tạo, y tế, thể dục thể thao… Nhờ đó, tỉnh Quảng Trị được công nhận hoàn thành phổ cập Trung học cơ sở với 137/139 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập Trung học cơ sở. Công tác đổi mới chương trình giáo dục phổ thông lớp 5 và lớp 10 được chuẩn bị tốt. Chương trình kiên cố hoá trường, lớp học đã xây dựng 548 phòng học, đạt 96% kế hoạch. Mạng lưới y tế, cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị y tế đã đ­ược chú trọng đầu tư; đã có 13 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã; 69% số trạm y tế xã có bác sỹ. Năng lực khám chữa bệnh tăng lên so với năm 2005, số giường bệnh tăng 36 giường, số bác sĩ trên vạn dân đạt 5,43 bác sĩ. Trong năm không có dịch bệnh lớn xảy ra. Công tác phòng, chống dịch cúm gia cầm được tập trung chỉ đạo và ngăn chặn có hiệu quả. Công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình được triển khai đến hầu hết các xã, phường trong tỉnh. Hoạt động truyền thông được đẩy mạnh; các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản - kế hoạch hóa gia đình được triển khai đến các vùng khó khăn. Các mô hình làng không sinh con thứ 3, mô hình truyền thông - tư vấn dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản - kế hoạch hoá gia đình ở các xã, phường được nhân rộng và tổ chức hoạt động có hiệu quả. Công tác khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi đuợc triển khai về tận cơ sở, các chương trình y tế đã được đưa vào học đường. Tình hình sức khoẻ trẻ em được cải thiện, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi đến cuối năm giảm còn 24%. Phong trào xây dựng gia đình văn hoá, đơn vị văn hoá tiếp tục được hưởng ứng rộng rãi, đã công nhận 186 đơn vị văn hoá và 5.208 gia đình gia đình văn hoá. Các thiết chế văn hoá, cơ sở hạ tầng văn hoá được đầu tư xây dựng và trùng tu, tôn tạo; trong đó tập trung, khẩn trương xây dựng các công trình kỷ niệm 100 năm ngày sinh của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn. Phong trào thể dục - thể thao quần chúng được diễn ra sôi nổi, sâu rộng trên địa bàn với nhiều hình thức phong phú, lồng ghép với lễ hội của các vùng miền; Tỉnh đã tổ chức thành công Đại hội thể dục thể thao toàn tỉnh lần thứ IV.
Lễ khánh thành Tượng đài Lê Duẩn và Công viên Lê Duẩn
Trong công tác tổ chức và xây dựng bộ máy chính quyền, Văn phòng UBND tỉnh đã tham mưu cho UBND tỉnh thực hiện củng cố, thành lập mới một số tổ chức bộ máy cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện, giao kế hoạch biên chế hành chính sự nghiệp năm 2006; giải quyết chế độ tinh giản biên chế cho 188 cán bộ công chức ; bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cho 67 trường hợp; tuyển dụng, điều động, thuyên chuyển, luân chuyển cho 787 trường hợp ; nâng lương, nâng ngạch và điều chỉnh phụ cấp cho 3.500 công chức viên chức; đã mở 21 lớp đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, quản lý nhà nước cho 2.280 lượt học viên. Công tác chỉ đạo, điều hành của tỉnh trong việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh đã chủ động, quyết liệt, sâu sát, kiên quyết, công khai, minh bạch, tập trung vào mục tiêu trọng tâm, trọng điểm, có tác động tích cực trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, xử lý kịp thời những vấn đề nổi cộm và củng cố lòng tin của nhân dân, của nhà đầu tư, của các tổ chức quốc tế. Quốc phòng, an ninh được giữ vững, tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Mối quan hệ công tác giữa các ngành nội chính được tăng cường.
Năm 2007, nền kinh tế của cả nước đang tiếp tục đà tăng trưởng cao và ổn định; là năm Việt Nam chính thức gia nhập WTO và đăng cai tổ chức thành công nhiều hội nghị quan trọng của quốc tế và khu vực; sau thành công của hội nghị APEC, hiệp định thương mại Việt - Mỹ được thông qua. Đây cũng là năm trên địa bàn tỉnh Quảng Trị diễn ra nhiều sự kiện chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội quan trọng đã tác động tích cực vào phát triển của tỉnh: Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Tổng Bí thư Lê Duẩn (7/4/1907 - 7/4/2007), 35 năm giải phóng Quảng Trị (1/5/1972 - 1/5/2007) và đón nhận Huân chương Độc lập hạng Nhì, Bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XII, Lễ hội nhịp cầu xuyên Á lần thứ II, kỷ niệm 60 năm ngày Thương binh liệt sĩ, tham gia tuần lễ hành lang kinh tế Đông - Tây…
Toàn tỉnh đã ra sức thi đua, lập thành tích chào mừng các ngày lễ lớn và thu được những kết quả quan trọng: Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao và bước đầu có những chuyển biến tốt về chất lượng tăng trưởng cũng như khả năng cạnh tranh của nền kinh tế; cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tích cực hơn. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân nhìn chung được tăng lên, nhất là đạt được những kết quả quan trọng trên lĩnh vực xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, đào tạo nguồn nhân lực. Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
Cụ thể, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) cả năm đạt 11,2% so với năm 2006; trong đó nông - lâm - ngư nghiệp tăng 4,4%, công nghiệp - xây dựng tăng 21,2%; dịch vụ tăng 9,8%. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện 2.938 tỷ đồng, đạt 131,2% kế hoạch. Tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 555,531 tỷ đồng, tăng 13% so với năm 2006 và vượt 11,1% kế hoạch dự toán địa phương. Tổng chi ngân sách địa phương đạt 2.055,842 tỷ đồng, vượt 28% kế hoạch dự toán địa phương. Duy trì và củng cố vững chắc kết quả phổ cập trung học cơ sở, tỷ lệ xã phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở là 97,8% (kế hoạch là 100%). Tạo việc làm mới đạt 8.500 lao động, đạt kế hoạch (kế hoạch là trên 8.000 lao động). Giảm tỷ lệ hộ nghèo đạt: 2,7%, đạt kế hoạch (kế hoạch giảm từ 2,5-3%); tỷ lệ hộ nghèo còn 23%, đạt kế hoạch (kế hoạch là 23%). [1]
Khắc phục ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh; sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp và kinh tế nông thôn tiếp tục phát triển ổn định, giá trị tăng thêm toàn ngành tăng khoảng 4,4%, đạt kế hoạch đề ra. Giá cả một số mặt hàng nông sản tăng khá đã tạo điều kiện cải thiện đời sống, tăng thu nhập cho nông dân, kinh tế nông thôn có nhiều tiến bộ. Ngành trồng trọt năm 2007 được mùa toàn diện cả về năng suất, sản lượng và giá; tổng đàn trâu, bò, lợn, gia cầm đều tăng so với năm 2006; Chất lượng đàn gia súc được cải thiện, tỷ lệ bò lai sind chiếm 6,8%, lợn lai kinh tế chiếm trên 80% tổng đàn. Văn phòng UBND tỉnh tham mưu UBND tỉnh đã phê duyệt đề án Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đến năm 2010 định hướng đến năm 2020; đề án Rà soát, quy hoạch 3 loại rừng trên địa bàn và hiện nay đang triển khai thực hiện. Tổng sản lượng thuỷ hải sản đạt gần 20 ngàn tấn, tăng 1,6% so với năm 2006 và đạt 100% kế hoạch. Kinh tế nông thôn có tiến bộ, đời sống nông dân được cải thiện hơn do giá cả các mặt hàng nông sản tăng theo hướng có lợi cho nông dân. Hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn, đặc biệt là giao thông, nước sinh hoạt được đầu tư đáng kể.
Mặc dù một số cơ sở sản xuất công nghiệp quan trọng chậm tiến độ để đưa vào khai thác, song sản xuất công nghiệp vẫn phát triển khá. Giá trị gia tăng khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 21,2%. Giá trị sản xuất công nghiệp thực hiện 1.057 tỷ đồng, tăng 18% so với năm 2006; Các sản phẩm chủ yếu như: ván gỗ MDF, săm lốp xe máy, nước uống tăng lực, tinh bột sắn, áo Jacket bước đầu cạnh tranh được với sản phẩm trong nước và tham gia xuất khẩu. Tuy nhiên, sản xuất công nghiệp - xây dựng trong năm chưa đạt mức tăng trưởng theo kế hoạch đề ra. Nguyên nhân chính là: một số dự án sản xuất công nghiệp chậm tiến độ như: sản xuất bia, nhà máy nghiền clinken, nhà máy xi măng 35 vạn tấn/năm; tình hình thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp chậm; diện tích thuê đất các khu công nghiệp đạt thấp; tỷ lệ lấp đầy khu công nghiệp Nam Đông Hà chỉ đạt 29,4%, khu công nghiệp Quán Ngang chỉ đạt 1,75%.
[1] Báo cáo số 115/BC-UBND tháng 12/2007 của UBND tỉnh Quảng Trị
Đập thủy lợi ở bản Cù Bai, xã Hướng Lập, huyện Hướng Hóa
Hoạt động thương mại - dịch vụ có nhiều chuyển biến tích cực, giá trị tăng thêm toàn ngành ước đạt 9,8%, đạt kế hoạch đề ra. Văn phòng UBND tỉnh chủ động tham mưu UBND tỉnh ban hành và triển khai Chính sách trợ giá các mặt hàng thiết yếu miền núi được triển khai từ đầu năm 2007, tạo điều kiện phục vụ kịp thời hàng thiết yếu cho miền núi. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ thực hiện 4.450 tỷ đồng, tăng 22,45% so với năm 2006. Công tác quản lý thị trường, bảo vệ lợi ích ng­ười tiêu dùng đ­ược quan tâm hơn. Hoạt động xuất nhập khẩu có tiến bộ. Kim ngạch xuất khẩu ước thực hiện 31 triệu USD, tăng 66,2% so với năm ngoái và đạt 111% kế hoạch; các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là cao su, cà phê, và hàng nông sản khác. Kim ngạch nhập khẩu ước thực hiện 39,2 triệu USD, giảm 24,3% so với năm ngoái, đạt 156,6% kế hoạch; hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc thiết bị chiếm trên 70% kim ngạch nhập khẩu.
Thực hiện kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Quảng Trị đã hoàn thành kế hoạch sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước của tỉnh. Trên địa bàn tỉnh đã có 927 doanh nghiệp, 204 chi nhánh, 13 văn phòng đại diện với tổng số vốn đăng ký kinh doanh trên 4.000 tỷ đồng. Đây là năm đầu tiên tỉnh có số lượng doanh nghiệp (kể cả chi nhánh) vượt quá 1.000 doanh nghiệp. Trong đó có 346 doanh nghiệp xây dựng, chiếm 35%; 292 doanh nghiệp thương mại chiếm 30%, còn lại là các lĩnh vực khác. Với sự tham mưu, giúp việc của Văn phòng UBND tỉnh, lãnh đạo tỉnh chỉ đạo thực hiện cải cách hành chính, mô hình “một cửa liên thông” trong cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép khắc dấu và đăng ký mã số thuế giữa 3 cơ quan: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Công an tỉnh và Cục thuế tỉnh khá thành công, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân và các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh; thực hiện chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, chương trình phát triển kinh tế hợp tác trong 10 tháng đầu năm đã mở 15 lớp khởi sự doanh nghiệp với 420 học viên và 12 lớp đào tạo cán bộ quản lý hợp tác xã với 550 người và một khoá tập huấn cho doanh nghiệp trẻ những kiến thức về hội nhập WTO.
Hoạt động xúc tiến đầu tư đã đạt được nhiều tiến bộ so với các năm vừa qua. Trong năm 2007, có 27 dự án khá lớn được đăng ký đầu tư với tổng số vốn 3.722 tỷ đồng. Một số dự án lớn được đầu tư như: Dự án xi măng 35 vạn tấn (490 tỷ đồng); Khách sạn Sài Gòn - Tourist (200 tỷ đồng); may Hoà Thọ tại khu công nghiệp Nam Đông Hà (53 tỷ đồng); Bia Hà Nội tại khu công nghiệp Quán Ngang (250 tỷ đồng); nhà máy thuỷ điện Hạ Rào Quán (120 tỷ đồng)… Nhiều công trình đầu tư quan trọng đã hoàn thành, đưa vào khai thác, trong đó nổi bật là công trình Thuỷ lợi - Thuỷ điện Quảng Trị, sau gần 5 năm đầu tư xây dựng, đến ngày 20/9/2007 đã chính thức phát điện tổ máy số 1 có công suất 32MW, và khánh thành cả 2 tổ máy trong tháng 12/2007.
Thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, Văn phòng UBND tỉnh đã tham mưu giúp UBND tỉnh, Chủ tịch, các Phó Chủ tịch UBND tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo điều hành và đôn đốc các Sở, Ban, ngành triển khai xây dựng và thực hiện có hiệu quả chương trình công tác trọng tâm của UBND tỉnh năm 2007 của UBND tỉnh; Xây dựng, thẩm định trình UBND tỉnh phê duyệt và triển khai thực hiện các chương trình, đề án về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và quốc phòng, an ninh của tỉnh; triển khai giải quyết các công việc đột xuất như: Phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai bão lụt; phòng chống dịch bệnh ở gia cầm, gia súc; chỉ đạo thực hiện các biện pháp giảm thiểu tai nạn giao thông, về tranh chấp địa giới hành chính, về khiếu nại tố cáo, về cải cách hành chính, về xây dựng cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp, khu du lịch, khu vực phòng thủ, giải quyết các vướng mắc về cơ chế chính sách tại Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo; đôn đốc thực hiện các chương trình, dự án, nhất là các chương trình, dự án trọng điểm; triển khai thực hiện các Luật về Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Đấu thầu, Luật Phòng chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí...
Văn phòng UBND tỉnh cũng tham mưu cho UBND tỉnh ban hành 8.400 văn bản, trong đó có 49 văn bản quy phạm pháp luật để chỉ đạo, điều hành; phát hành 9.317 văn bản của UBND tỉnh và Văn phòng UBND tỉnh; tiếp nhận đăng ký, chuyển giao 19.436 văn bản gửi đến UBND tỉnh, Văn phòng UBND tỉnh; in ấn 758.349 trang in. Bên cạnh việc chú trọng nâng cao năng lực tham mưu, Văn phòng UBND tỉnh còn đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính gắn với việc đơn giản hoá các thủ tục và áp dụng cơ chế một cửa đã có tác động tích cực đưa lại nhiều kết quả thiết thực. Tham mưu cho UBND tỉnh ban hành Quyết định phê duyệt chương trình "Xây dựng hệ thống thông tin phục vụ công tác chỉ đạo điều hành của UBND tỉnh" năm 2007; Quy định về cung cấp, quản lý và truy cập thông tin trên trang thông tin điện tử tỉnh Quảng Trị; Quyết định thành lập Ban Biên tập Trang thông tin điện tử Quảng Trị; triển khai cài đặt phần mềm "Quản lý văn bản và hồ sơ công việc" và thiết lập chế độ gửi nhận văn bản trên mạng tin học diện rộng. Tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng kế hoạch với lộ trình thực hiện việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 trong các cơ quan hành chính nhà nước, hoàn thành trong giai đoạn từ 2007 - 2010; riêng trong năm 2007 đã triển khai áp dụng tại 5 cơ quan cấp tỉnh.
Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh uỷ về phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2007- 2015, Văn phòng UBND tỉnh đã tham mưu UBND tỉnh triển khai nhiều giải pháp cụ thể: chính sách đào tạo lao động nông thôn, gia đình chính sách; đầu tư xây dựng, nâng cấp về quy mô và chất lượng dạy nghề... trong năm đã đào tạo nghề cho 6.800 người lao động; góp phần đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 27%, đạt kế hoạch; tuy nhiên chất lượng nguồn nhân lực vẫn còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của tỉnh. Tỉnh đã tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp, chính sách: miễn giảm học phí, bảo hiểm y tế, thực hiện các chương trình, dự án xoá đói giảm nghèo... mang lại những kết quả tốt.
Văn phòng UBND tỉnh tích cực, chủ động tham mưu UBND tỉnh mở rộng các hoạt động đối ngoại và tổ chức thành công các sự kiện lớn trên địa bàn tỉnh cũng như tham gia các lễ hội quốc gia, quốc tế và bước đầu đã quảng bá hình ảnh của Quảng Trị đối với các tỉnh, thành phố trong cả nước và bạn bè ở nước ngoài. Hoạt động đối ngoại tiếp tục mở rộng nhằm hỗ trợ tích cực cho kinh tế đối ngoại phát triển, tăng cường hợp tác hữu nghị với nước bạn Lào, giữ vững ổn định biên giới hoà bình và hữu nghị. Hoạt động kinh tế đối ngoại và xúc tiến đầu tư đã thu được nhiều kết quả quan trọng. UBND tỉnh đã giao nhiệm vụ cho các Sở, Ban ngành làm đầu mối hỗ trợ nhà đầu tư trên địa bàn. Văn bản thoả thuận về hợp tác đầu tư giữa tỉnh với thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đã được ký kết. Trong đó, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức thành công Hội nghị xúc tiến đầu tư giữa Việt Nam - Lào. Tổ chức các đoàn cấp cao đi kêu gọi, vận động đầu tư tại thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội...và đã đạt được một số kết quả. Phục vụ Lãnh đạo tỉnh, Lãnh đạo UBND tỉnh tổ chức đón tiếp 302 đoàn khách (trong đó có 5 đoàn A, 55 đoàn khách Quốc tế) đến thăm và làm việc tại tỉnh; phục vụ 390 cuộc họp (trong đó có 255 cuộc họp do UBND tỉnh, Chủ tịch, các Phó Chủ tịch chủ trì), 33 cuộc hội nghị, hội thảo.
Văn phòng UBND tỉnh cũng đã tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo các ngành tập trung xây dựng các văn kiện dự án ODA và tiếp xúc, làm việc với các Bộ ngành Trung ương, các tổ chức Quốc tế, các Sứ quán để vận động đầu tư các dự án như: Chương trình Phát triển nông thôn Quảng Trị giai đoạn 4 (Phần Lan); Cải cách hành chính công giai đoạn 2 (SIDA); Bệnh viện vệ tinh của bệnh viện Trung ương Huế (Nhật Bản); Nâng cấp đô thị Đông Hà (ADB); Thoát nước và vệ sinh môi trường thị xã Quảng Trị (Na Uy); Trường dạy nghề tổng hợp tỉnh (Hàn Quốc);… Tích cực vận động các dự án NGO với tổng kinh phí cam kết tài trợ trong năm 2007 hơn 5,5 triệu USD. Tính đến năm 2007, trên địa bàn đang thực hiện 14 dự án ODA với tổng vốn đầu tư 1.702 tỷ đồng và nhiều dự án NGO đang hoạt động; các dự án ODA, NGO đã góp phần đáng kể vào xoá đói giảm nghèo, phát triển cơ sở hạ tầng, cải thiện môi trường, nâng cao năng lực cho cán bộ và nhân dân trên địa bàn. Cũng trong năm 2007 đã có thêm 4 dự án FDI được đầu tư mới với tổng vốn đăng ký 18,9 triệu USD, nâng số dự án FDI trên toàn tỉnh lên 10 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 37,5 triệu USD.
Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội, năm 2007 là năm đầu tiên thực hiện phân ban đối với học sinh trung học phổ thông. Kết quả phổ cập giáo dục tiểu học - chống mù chữ được tiếp tục giữ vững ở 139/139 xã, phường, trong đó 130/139 xã, phường được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi. Tỉnh đã được công nhận hoàn thành phổ cập trung học cơ sở với 136/139 xã đạt chuẩn trung học cơ sở. Hoạt động y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân được quan tâm;
Trường Trung học Phổ thông Đông Hà
hệ thống cơ sở vật chất được tăng cường, tỷ lệ giường bệnh/1vạn dân tăng từ 25,7 giường năm 2006 lên 26,9 giường năm 2007; mạng lưới y tế xã được tăng cường, đến nay đã có 100% xã có trạm y tế, trong đó 29 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; 66,7% số trạm y tế xã có bác sĩ. Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân được chú trọng; đặc biệt là việc thực hiện chính sách khám, chữa bệnh cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn, gia đình chính sách và công tác xã hội hoá trong lĩnh vực y tế đang được triển khai thực hiện.
Năm 2008, trong bối cảnh khó khăn chung của cả nước do tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính thế giới, lạm phát tăng cao, thời tiết không thuận lợi, thị trường bị thu hẹp, đầu tư giảm sút... nhưng tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Trị vẫn phát triển khá. Các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đang dần đi vào cuộc sống, trước hết là Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, Nghị quyết của Tỉnh uỷ về đẩy mạnh đầu tư, khai thác tiềm năng lợi thế hành lang kinh tế Đông Tây; Nghị quyết về phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Trị; Nghị quyết về phát triển thương mại - du lịch tỉnh Quảng Trị... đã xác định rõ các mục tiêu, nhiệm vụ, định hướng phát triển và các giải pháp tích cực cho kế hoạch năm 2008.
Văn phòng UBND tỉnh đã triển khai thực hiện Nghị định số 132/2007/NQ-CP ngày 8/8/2007 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế và Thông tư số 02 /2007/TTLB-BNV-BTC ngày 24/9/2007 của liên Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 132/2007/NQ-CP; ban hành và thực hiện nghiêm túc "Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của Văn phòng UBND tỉnh"; ban hành, bổ sung quy chế chi tiêu nội bộ nên đã đưa công tác quản lý và thanh quyết toán đi vào nề nếp, đúng quy định.
Văn phòng UBND tỉnh cũng đã xây dựng, thẩm định trình UBND tỉnh phê duyệt và triển khai thực hiện các chương trình, đề án về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và quốc phòng an ninh của tỉnh. Quán triệt chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh trật tự xã hội, phấn đấu tăng trưởng hợp lý; chỉ đạo thực hành tiết kiệm, giảm chi phí sản xuất, loại bỏ các khoản chi bất hợp lý từ ngân sách; triển khai thực hiện 8 nhóm giải pháp đề ra trong Nghị quyết số 10/2008/NQ-CP của Chính phủ, khẩn trương rà soát, tháo gỡ khó khăn nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ; Thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội; Chú trọng công tác tổ chức, xây dựng chính quyền, chỉ đạo thực hiện cải cách hành chính, cải tiến lề lối làm việc, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, giải quyết khiếu nại, tố cáo; Chỉ đạo công tác đối ngoại, kinh tế đối ngoại và xúc tiến đầu tư ngày càng có hiệu quả. Phối hợp với các Sở, Ban ngành tham mưu, giúp UBND tỉnh, Chủ tịch, các Phó Chủ tịch chỉ đạo, triển khai giải quyết các công việc đột xuất.
Trước tình hình khó khăn chung của cả nước và trên cơ sở thực tế tại địa phương, Văn phòng UBND tỉnh đã chủ động và kịp thời tham mưu cho lãnh đạo UBND tỉnh chỉ đạo triển khai nhiều giải pháp tích cực và quyết liệt trong kiềm chế lạm phát, cải cách hành chính, thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước theo đúng tinh thần chung. Nhờ đó, bước đầu kiềm chế được tốc độ tăng giá. Đời sống của nhân dân cơ bản giữ được ổn định, các chính sách hỗ trợ đảm bảo an sinh xã hội được tăng cường áp dụng và đã phát huy tác dụng, giải quyết được một phần khó khăn cho nhân dân. Công tác cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm chống lãng phí, phòng chống tham nhũng tiếp tục được quan tâm thực hiện; an ninh chính trị và trật tự xã hội được giữ vững.
Nhà máy may xuất khẩu Hòa Thọ
Trong đó, Văn phòng đã tham mưu cho UBND tỉnh bổ sung đáng kể nguồn vốn đầu tư phát triển cho lĩnh vực giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục bằng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ nhằm tạo điều kiện tốt cho sự phát triển trong thời gian tới; đã phối hợp cùng các ngành liên quan chuẩn bị chu đáo nội dung, khâu nối giúp Lãnh đạo tỉnh có nhiều cuộc làm việc với Chính phủ, Bộ, ngành Trung ương, các tập đoàn kinh tế tranh thủ thêm vốn, chương trình, dự án cho tỉnh một cách thiết thực hiệu quả. Nhiều công trình quan trọng đã hoàn thành và đưa vào khai thác như: Công trình Thuỷ lợi - Thuỷ điện Quảng Trị với công suất 64MW, nhà máy may xuất khẩu Hòa Thọ tại Đông Hà, Bảo tàng tỉnh, cụm di tích Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải...; đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý giao các Bộ xem xét đưa vào quy hoạch Khu kinh tế biển Đông - Nam Quảng Trị. Hệ thống giao thông được chú trọng đầu tư nâng cấp. Dự án nâng cấp mở rộng Quốc lộ 1A đoạn từ Đông Hà đến thị xã Quảng Trị được thực hiện với hình thức BOT. Công trình trọng điểm cầu Cửa Việt được ưu tiên bố trí vốn và gấp rút thi công vượt tiến độ kế hoạch. Trong năm 2008, có 6 tuyến đường được đầu tư hoàn thành đưa vào sử dụng. Chương trình đầu tư đường giao thông bằng nguồn vốn trái phiếu chính phủ, giao thông nông thôn, vốn vay từ Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Chương trình kiên cố hoá giao thông nông thôn được tổ chức thực hiện có hiệu quả, góp phần cải thiện bộ mặt nông thôn và các thị xã, thị trấn trong tỉnh.
Sản xuất lương thực đã vượt qua được những khó khăn do thiên tai, dịch bệnh; sản lượng lương thực cả năm đạt trên 22,6 vạn tấn, tăng 2,8% so với năm 2007, vượt kế hoạch đề ra và là năm có sản lượng lương thực cao nhất so với những năm trước 2008, đã góp phần quan trọng vào ổn định đời sống nhân dân. Giá cả lương thực tăng gấp đôi chỉ số tăng giá chung nên đã kích thích sản xuất lương thực. Sản xuất công nghiệp tuy có những khó khăn nhất định nhưng tiếp tục giữ được tốc độ tăng trưởng cao, góp phần tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và khẳng định được vai trò động lực cho cả nền kinh tế phát triển. Một số sản phẩm có mức tăng trưởng cao như: xi măng tăng 22,3%, quặng ti-tan tăng 35,4%, ván gỗ ép tăng 26%, săm xe máy tăng 28,2%, quần áo may sẵn tăng 50%, điện sản xuất được 267 triệu Kwk. Triển khai thực hiện Đề án Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị Quảng Trị đến năm 2010, chiến lược đến năm 2020 và các đồ án quy hoạch: quy hoạch chi tiết Nam Đông Hà, quy hoạch chung thị trấn Cửa Tùng, quy hoạch chi tiết đường Hùng Vương nối dài Nam sông Vĩnh Phước và Đông Hà, quy hoạch chi tiết xây dựng khu vực sân bay Ái Tử, điều chỉnh quy hoạch chung thị trấn Hồ Xá. Tổ chức thẩm định 10 đồ án quy hoạch với tổng quy mô diện tích 235 ha; thẩm định kinh tế - kỹ thuật 72 công trình, hạng mục công trình với tổng giá trị 271 tỷ đồng.[1]
Về cải cách hành chính, Văn phòng UBND tỉnh tham mưu và giúp UBND tỉnh triển khai thực hiện việc áp dụng cơ chế “một cửa liên thông” trong cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép khắc dấu, đăng ký mã số thuế tiếp tục phát huy hiệu quả, đã rút ngắn gần 1/2 thời gian giải quyết các thủ tục theo quy định, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân và các doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, giúp UBND tỉnh xây dựng kế hoạch thực hiện Nghị quyết TW5 (khoá X) về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước ở địa phương; tỉnh đã đẩy mạnh việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong việc giải quyết các thủ tục ở các cơ quan hành chính nhà nước. Đến năm 2008, toàn tỉnh có 14/19 Sở, Ban, ngành cấp tỉnh; 9/10 huyện, thị xã (trừ huyện đảo Cồn Cỏ) và 139/141 xã, phường, thị trấn áp dụng cơ chế một cửa, một cửa liên thông.
Văn phòng UBND tỉnh cũng luôn coi trọng hoạt động đối ngoại và tham mưu cho UBND tỉnh trong tiếp tục mở rộng các hoạt động đối ngoại và hỗ trợ tích cực cho kinh tế đối ngoại phát triển. Tích cực vận động, thu hút vốn đầu tư ODA cho các lĩnh vực, dự án như: nâng cấp đô thị Đông Hà, thoát nước và vệ sinh môi trường thị xã Quảng Trị, xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển thủy sản các huyện ven biển, xây dựng Bệnh viện vệ tinh Bệnh viện Trung ương Huế tại Quảng Trị, hệ thống cấp điện mặt trời tại đảo Cồn Cỏ. Tham mưu cho UBND tỉnh ban hành và tích cực tổ chức thực hiện Chương trình xúc tiến, vận động viện trợ phi Chính phủ nước ngoài (NGO) giai đoạn 2008-2010. Hầu hết các dự án ODA, NGO thực hiện có hiệu quả, góp phần tích cực trong xóa đói giảm nghèo, cải thiện cơ sở hạ tầng, môi trường, phòng tránh tai nạn bom mìn và nâng cao năng lực cộng đồng. Hoạt động xúc tiến đầu tư, phát triển doanh nghiệp tiếp tục đạt được nhiều tiến bộ so với các năm vừa qua. Văn phòng UBND tỉnh tham mưu cho UBND tỉnh tổ chức các cuộc họp thường niên giữa đoàn đại biểu cấp tỉnh Quảng Trị với hai tỉnh Savannakhet và Salavan (Lào); Hội nghị hợp tác du lịch Quảng Trị - Savannakhet - Mukdahan. Tổ chức thực hiện các biên bản ghi nhớ, thỏa thuận giữa các bên nhằm duy trì biên giới ổn định, hữu nghị, hợp tác và thúc đẩy phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch. Đã chỉ đạo phối hợp với tỉnh Savannakhet (Lào) và Ban biên giới 2 nước Việt Nam - Lào xây dựng thí điểm và tổ chức thành công, an toàn lễ cấp nhà nước về khánh thành 2 mốc quốc giới 605 (1) và 605 (2).
Ngoài ra, Văn phòng UBND tỉnh còn phối hợp tích cực với các Sở, ban, ngành, đơn vị liên quan hoàn thành kế hoạch sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước của tỉnh theo kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đồng thời, hoàn thành việc sắp xếp, tổ chức lại các cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND tỉnh, UBND huyện. Hoàn thành việc mở rộng địa giới hành chính thị xã Quảng Trị; hoàn thành đề án nâng cấp thị xã Đông Hà lên thành phố và đề án thành lập thị trấn Cửa Tùng trình Chính phủ quyết định.
[1] Báo cáo số 130/BC-UBND ngày 20/11/2008 của UBND tỉnh Quảng Trị
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng trò chuyện thân mật với các già làng, trưởng bản tại huyện Hướng Hóa
Trên các lĩnh vực văn hóa - xã hội, Văn phòng UBND tỉnh cũng đã giúp UBND tỉnh triển khai Chương trình kiên cố hoá trường, lớp học và nhà công vụ giáo viên giai đoạn 2008 - 2012 tích cực, theo đúng tiến độ; thực hiện chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên nghèo có điều kiện đến trường; xây dựng đề án luân chuyển và chính sách khuyến khích đối với giáo viên công tác tại vùng đặc biệt khó khăn và đã được HĐND tỉnh thông qua; tham mưu xây dựng đề án quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế đến năm 2020 làm cơ sở định hướng cho việc xây dựng và và thực hiện kế hoạch hàng năm; tham mưu cho lãnh đạo UBND tỉnh thực hiện nhiều biện pháp về chăm lo đời sống cho nhân dân trong thời kỳ giáp hạt và những ngày giáp Tết, không để tình trạng thiếu đói xảy ra; ưu tiên thực hiện nhiều chương trình, chính sách hỗ trợ đầu tư vào địa bàn miền núi, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số như các chương trình 135, chương trình 134, chính sách trợ giá, trợ cước hàng thiết yếu miền núi, hỗ trợ đào tạo nghề cho đồng bào dân tộc thiểu số; hỗ trợ về y tế, giáo dục cho các xã đặc biệt khó khăn và đồng bào dân tộc thiểu số.
Với sự tham mưu của Văn phòng UBND tỉnh, tỉnh đã triển khai thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ đảm bảo an sinh xã hội như: rà soát miễn, giảm một số loại phí, lệ phí trên địa bàn; miễn giảm thủy lợi phí; hỗ trợ thiệt hại do rét và dịch bệnh gây ra; hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân. Bên cạnh đó, đã thực hiện việc điều chỉnh tăng mức hỗ trợ bảo hiểm y tế cho người nghèo; điều chỉnh mức khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi theo chủ trương của Chính phủ.
Cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là phát triển nông nghiệp - nông thôn, Văn phòng UBND tỉnh đã phối hợp với các Sở, Ban, ngành, đoàn thể tham mưu kịp thời cho lãnh đạo tỉnh triển khai chương trình giảm nghèo với quyết tâm cao và đạt nhiều kết quả đáng kể. Nhất là đã hoàn thành mục tiêu đề án xây dựng nhà ở cho đồng bào dân tộc thiểu số theo Nghị quyết 9G của HĐND tỉnh và Chương trình 134 của Chính phủ; tiếp tục triển khai thực hiện tốt đề án xoá nhà dột nát, tạm bợ cho hộ nghèo giai đoạn 3.

Thành phố Đông Hà

Tính đến 30/12/2008, đã hỗ trợ xây dựng nhà ở cho 6.149 hộ nghèo, kinh phí thực hiện 45.275 triệu đồng, trong đó 2.825 nhà ở cho hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số, 3.324 nhà ở đại đoàn kết cho hộ nghèo. Về vay vốn tín dụng ưu đãi, đã có 32.414 lượt hộ nghèo được vay vốn ưu đãi, doanh số cho vay 306.633 triệu đồng. Hướng dẫn cách làm ăn và tập huấn khuyến nông - lâm - ngư cho 41.653 lượt người nghèo. Trong 3 năm (2006 - 2008), tổng nguồn vốn thực hiện chương trình mục tiêu giảm nghèo của tỉnh là 875.872,3 triệu đồng (đạt 90,4% so với chỉ tiêu đề ra đến năm 2010). Chương trình giảm nghèo đã khơi dậy và phát huy được truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, được nhân dân hưởng ứng một cách mạnh mẽ và mang tính xã hội hóa cao.
Năm 2009 là năm có ý nghĩa quan trọng đối với nhiệm vụ thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XIV và Nghị quyết HĐND tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010. Những kết quả bước đầu trong việc kiềm chế lạm phát đã tạo điều kiện quan trọng để có thể huy động tốt hơn các nguồn lực xã hội cho sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh. Nguồn lực của các ngành, các địa phương đã được bổ sung và đầu tư xây dựng trong những năm vừa qua được phát huy tác dụng. Các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước mới ban hành tiếp tục kích thích sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, trước hết là Văn kiện Hội nghị lần thứ 13 của BCH Đảng bộ tỉnh khóa XIV giữa nhiệm kỳ 2005 - 2010; các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội của Chính phủ; các nghị quyết của HĐND tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội mới ban hành; một số chủ trương, chính sách hỗ trợ của Trung ương đối với tỉnh Quảng Trị... là những cơ sở để xác định các mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp tích cực cho kế hoạch năm 2009. Ngoài ra, thành phố Đông Hà và thị trấn Cửa Tùng được thành lập đã góp phần tạo ra động lực mới trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Tuy nhiên, đối với tỉnh Quảng Trị, suy giảm kinh tế đã làm cho thị trường bị thu hẹp, hoạt động xuất khẩu gặp khó khăn; giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp tăng chậm so với những năm trước. Đầu tư của khu vực doanh nghiệp và dân cư, khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có mức tăng trưởng thấp, làm ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tăng năng lực sản xuất, kinh doanh của các ngành kinh tế. Việc thực hiện các chính sách miễn, giảm, giãn thời hạn nộp thuế để kích cầu đầu tư đã làm giảm số thu ngân sách so với dự toán được giao năm 2009. Thiên tai, dịch bệnh, nhất là những thiệt hại nặng nề do cơn bão số 9 và lũ lớn gây ra đã ảnh hưởng lớn đến tình hình sản xuất và đời sống của nhân dân; tác động tiêu cực đến việc thực hiện các chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo và phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh.Trước những khó khăn và thách thức đặt ra, Văn phòng UBND tỉnh đã đặt ra mục tiêu phấn đấu là phải đoàn kết nhất trí, phối hợp đồng bộ, khắc phục khó khăn, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm để hoàn thành nhiệm vụ được giao, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh của tỉnh trong năm 2009.

”Vàng trắng” xuất khẩu

 
Văn phòng UBND tỉnh tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo tổ chức rà soát và quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, huyện. Lần đầu tiên tỉnh đã công khai bộ thủ tục hành chính 3 cấp của địa phương và đang chỉ đạo rà soát cắt bỏ những thủ tục hành chính rườm rà, không phù hợp. Cụ thể, đã công bố bộ thủ tục hành chính cấp xã (160 thủ tục), cấp huyện (273 thủ tục) và của các Sở, Ban ngành cấp tỉnh (1.338 thủ tục). Mô hình “một cửa”, “một cửa liên thông”, ứng dụng công nghệ thông tin và tiêu chuẩn ISO trong giải quyết thủ tục hành chính được tích cực triển khai tại các cơ quan hành chính nhà nước. Toàn tỉnh có 15 đơn vị cấp tỉnh; 9 huyện, thành phố, thị xã; 100% xã, phường, thị trấn thực hiện cơ chế “một cửa”.
Ngay từ đầu vụ Đông Xuân, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra rét đậm, rét hại kéo dài ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất; mưa lớn đã gây ngập úng một số diện tích lúa, phải gieo cấy lại. Bên cạnh đó, dịch bệnh cũng đã ảnh hưởng xấu đến chăn nuôi và trồng trọt. Để duy trì và phát huy những kết quả đạt được, tiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn; ngay từ đầu năm, Văn phòng đã tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các địa phương quyết liệt triển khai đồng bộ nhiều biện pháp, nhất là các nhóm giải pháp cấp bách của Chính phủ nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội; đồng thời tích cực thực hiện Chương trình hành động số 72-CTHĐ/TU của Tỉnh ủy về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; thực hiện tốt chính sách hỗ trợ cho các hộ ngư dân vay vốn để nâng cấp và mua sắm mới tàu thuyền, ngư cụ phù hợp với một số nghề đánh bắt mới; chú trọng các chương trình, dự án phát triển nông - lâm - ngư nghiệp; Chính sách trợ giá các mặt hàng thiết yếu miền núi được triển khai tích cực phục vụ kịp thời hàng thiết yếu cho miền núi.... Nhờ việc triển khai thực hiện các biện pháp chỉ đạo và hỗ trợ kịp thời nên năng suất, sản lượng các loại cây trồng đều đạt và cao hơn vụ Đông Xuân năm trước; các ngành nghề lĩnh vực đều duy trì sự ổn định.
Đặc biệt, cơn bão số 9 kèm theo mưa lũ lớn làm 17 người chết, 107 người bị thương; tổng giá trị thiệt hại là 2.468 tỷ đồng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống của nhân dân cũng như kết cấu hạ tầng và hoạt động kinh tế, xã hội của tỉnh. Ngay sau khi bão tan, Văn phòng UBND tỉnh đã tích cực hỗ trợ, giúp UBND tỉnh tổ chức các đoàn trực tiếp kiểm tra, chỉ đạo khắc phục hậu quả, động viên nhân dân, thăm các gia đình và nạn nhân bị thiệt hại do bão, lụt gây ra; đồng thời quyết liệt, khẩn trương chỉ đạo triển khai công tác cứu trợ khẩn cấp và tập trung khắc phục hậu quả bão lụt; tổ chức tiếp nhận, phân bổ, cấp phát kịp thời, đầy đủ kinh phí, gạo từ nguồn hỗ trợ của Trung ương và các nguồn hỗ trợ khác. Đã huy động hơn 15.000 lượt cán bộ chiến sỹ của các lực lượng vũ trang, thanh niên xung kích, dân quân tự vệ để thực hiện hỗ trợ di dời dân, cứu hộ và giúp dân khắc phục hậu quả bão, lụt. Điều động 20 xe tải, 5 xe cơ động, 3 tàu, 15 ca nô lớn, 25 thuyền to và hàng trăm thuyền ở các địa phương để đưa dân sơ tán đến nơi an toàn. UBND tỉnh đã trích ngân sách 3 tỷ đồng, kết hợp với nguồn Chính phủ hỗ trợ 55 tỷ đồng và 2.900 tấn gạo phân bổ ngay cho các địa phương để cứu đói và khắc phục hậu quả.
Đáng chú ý, Văn phòng UBND tỉnh đã chủ động cùng Đài Phát thanh - Truyền hình, Sở Ngoại vụ biên tập tài liệu, cung cấp số liệu thiệt hại bão lụt để kêu gọi các tổ chức Quốc tế hỗ trợ được 25 tỷ đồng để giúp nhân dân khắc phục bão lụt. Bên cạnh những biện pháp trước mắt nhằm ổn định đời sống nhân dân và khôi phục sản xuất, Văn phòng cũng tham mưu lãnh đạo UBND tỉnh các phương án chỉ đạo tập trung sửa chữa các trường học, các cơ sở y tế, các công trình giao thông và thủy lợi trọng yếu; đề nghị Trung ương hỗ trợ kịp thời giống cây trồng, vật nuôi phục vụ sản xuất vụ Đông và vụ Đông Xuân và thực hiện một số chính sách hỗ trợ như: khoanh nợ, giãn nợ, vay có hỗ trợ lãi suất... tạo điều kiện khôi phục và phát triển đối với cây cao su, hồ tiêu và cà phê.
Trong sản xuất công nghiệp[1], giá trị sản xuất công nghiệp năm 2009 thực hiện 1.491 tỷ đồng, tăng 14,5% so với năm 2008; Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với năm 2008 như: ván gỗ MDF, điện thương phẩm, điện sản xuất, gạch xây dựng, nước máy, săm xe máy, xi măng...
[1] Báo cáo số 163/BC-UBND ngày 26/11/2009 của UBND tỉnh Quảng Trị
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cùng lãnh đạo tỉnh thăm siêu thị Thiên niên kỷ nhân dịp khai trương
Trên lĩnh vực đầu tư xây dựng, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tăng 13,9% so với năm 2008 (đạt kế hoạch đề ra). Vốn đầu tư phát triển ngân sách địa phương quản lý đạt 210,3% so với kế hoạch được HĐND tỉnh giao đầu năm 2009, thể hiện sự nỗ lực lớn của tỉnh. Các công trình trọng điểm của tỉnh đã được tập trung bố trí vốn, tiến độ thi công khá nhanh; nhiều công trình quan trọng khác đã hoàn thành hoặc đang được tích cực triển khai. Đặc biệt, tỉnh đã khởi công xây dựng 2 dự án lớn đề ra trong kế hoạch 5 năm 2006-2010 là Nhà máy xi măng 60 vạn tấn/năm và Nhà máy bia Hà Nội công suất 25 triệu lít/năm (giai đoạn 1). Bên cạnh đó, một số dự án được tiếp tục triển khai như: thuỷ điện La La, thuỷ điện hạ Rào Quán, thủy điện Đakrông 4, Dự án chế biến gỗ xuất khẩu, Nhà máy chế biến cát và sản xuất đá ốp lát cao cấp, Nhà máy que hàn Xuyên Á... Một số dự án đẩy nhanh tiến độ để đưa vào hoạt động trong năm 2009 như: Nhà máy nghiền xi măng 25 vạn tấn/năm, Dây chuyền nghiền zircol 4.500 tấn/năm của Nhà máy hoàn nguyên Inmenite và 10 dây chuyền của Nhà máy may Phong Phú đi vào hoạt động cuối năm 2009. Kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp Nam Đông Hà, Quán Ngang, các cụm công nghiệp, làng nghề được tập trung hoàn thiện và tích cực thu hút đầu tư.Ngày 24/12/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định phê duyệt đưa cảng biển Mỹ Thủy vào danh mục quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2030. Theo đó, cảng Mỹ Thủy được xếp vào loại nhóm 3, có quy mô đón lượng hàng từ 41 đến 46 triệu tấn/năm. Cùng với việc “nhận diện” vóc dáng cảng Mỹ Thủy và Khu kinh tế Đông Nam Quảng Trị, một con đường lớn về cảng Mỹ Thủy với số vốn đầu tư hơn 600 tỷ đồng cũng được khởi động. Những công trình lớn, dự án trọng điểm, tạo ra “cú hích” đưa Quảng Trị có đủ điều kiện cần và đủ vào vùng kinh tế trọng điểm của Quốc gia, thoát khỏi nhóm các tỉnh nghèo.
Cũng trong năm 2009, Văn phòng UBND tỉnh phối hợp với các Sở, Ban ngành tham mưu, giúp UBND tỉnh, Chủ tịch, các Phó Chủ tịch chỉ đạo, triển khai giải quyết các công việc đột xuất như: Phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai bão lụt; tổ chức Hội nghị quảng bá xúc tiến đầu tư vào khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo và khai trương siêu thị miễn thuế Thiên Niên Kỷ; 20 năm ngày lập lại tỉnh, 65 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam... cùng các ngành giúp UBND tỉnh chỉ đạo thực hiện các biện pháp giảm thiểu tai nạn giao thông, về tranh chấp địa giới hành chính, và thực hiện tốt giai đoạn 1 của đề án 30 của Chính phủ về rà soát thủ tục hành chính. Kết quả thực hiện Đề án 30 giai đoạn 1 đã thống kê được: 1.771 thủ tục. Trong đó, Sở, Ban ngành thuộc UBND cấp tỉnh: 1.338 thủ tục; cấp huyện: 273 thủ tục; cấp xã 160 thủ tục. Đã cập nhật, công khai tất cả các thủ tục hành chính của các đơn vị đang áp dụng trên địa bàn lên Trang thông tin điện tử tỉnh Quảng Trị để tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện. Tính đến ngày 30/11/2009 Tổ công tác Đề án 30 của tỉnh đã nhận được kết quả rà soát của 16 Sở, ngành với 1.232 thủ tục hành chính; 841 mẫu đơn, mẫu tờ khai; 875 yêu cầu, điều kiện.
Công tác cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được Văn phòng UBND tỉnh chú trọng và phối hợp, đôn đốc các ngành thực hiện quy chế phối hợp liên thông giữa các cơ quan chức năng đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và nhân dân trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Việc ban hành một số chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư trên địa bàn tỉnh, đẩy mạnh cải cách hành chính về cấp phép đầu tư; đẩy mạnh đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là tại các Khu công nghiệp, Khu du lịch, Khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo đã thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư. Tính đến 31/12/2009, trên địa bàn tỉnh có 1.500 doanh nghiệp và 330 chi nhánh, văn phòng đại diện với tổng vốn đăng ký trên 15.000 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho trên 25.000 lao động.
Nét nổi bật trong năm 2009, với sự tham mưu, hỗ trợ của Văn phòng UBND tỉnh, tỉnh đã triển khai và đặc biệt coi trọng an sinh xã hội và quan tâm chăm lo cho người nghèo, các đối tượng chính sách và những vùng khó khăn. Bên cạnh việc thực hiện tốt các chính sách đã có, tỉnh đã tích cực triển khai có hiệu quả nhiều chính sách an sinh xã hội mới như: hỗ trợ người nghèo ăn Tết với 29.113 hộ nghèo/125.090 khẩu với số tiền 21.683.100 đồng theo Quyết định 81/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong và ngoài tỉnh huy động được tổng giá trị quà trên 1,79 tỷ đồng để tặng quà cho các đối tượng chính sách, người nghèo, trẻ em đặc biệt khó khăn, nạn nhân chất độc da cam, cán bộ, chiến sỹ vùng biên giới, hải đảo; trợ cấp khó khăn cho cán bộ công chức có thu nhập thấp trong 4 tháng đầu năm; hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo; Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững tại huyện Đakrông; hỗ trợ khuyến nông, khuyến ngư ở địa bàn khó khăn; xây dựng các công trình cấp nước ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; hỗ trợ lãi suất vay mua vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn; xây dựng dự án nhà ở cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp tập trung, người có thu nhập thấp ở đô thị... Đời sống các tầng lớp dân cư trong tỉnh về cơ bản là ổn định. Đến cuối năm 2009, tỷ lệ hộ nghèo còn 14,9%, giảm 1,9% so với năm 2008.
Đồng thời, Văn phòng UBND tỉnh cũng tham mưu cho UBND tỉnh tích cực triển khai nhiều biện pháp tạo việc làm cho người lao động, năm 2009 đã tạo thêm 8.500 việc làm mới, đạt 100% kế hoạch. Trong điều kiện suy giảm kinh tế, tỉnh đã triển khai thực hiện tốt Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động; Văn phòng cũng tham mưu cho lãnh đạo UBND tỉnh phê duyệt Đề án xuất khẩu lao động, trên cơ sở đó đã tuyển chọn được 149 lao động, trong số đó có 109 lao động thuộc diện hộ nghèo và dân tộc thiểu số đi học nghề và ngoại ngữ. Ngoài ra, Văn phòng UBND tỉnh luôn quan tâm và tham mưu kịp thời cho lãnh đạo UBND tỉnh thực hiện tốt các chế độ, chính sách đối với người có công, thương bệnh binh, gia đình liệt sỹ; nâng cấp, tôn tạo các nghĩa trang liệt sĩ. Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” tiếp tục được duy trì; đã vận động được gần 4,5 tỷ đồng để thực hiện các hoạt động đến ơn đáp nghĩa, trong đó xây dựng mới 112 căn nhà tình nghĩa với số tiền trên 3,9 tỷ đồng.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và lãnh đạo tỉnh Quảng Trị thăm Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo

.Năm 2010 là năm có ý nghĩa quyết định đối với việc hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV và Nghị quyết HĐND tỉnh về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2010 của tỉnh được triển khai trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, tuy đã vượt qua giai đoạn khó khăn nhất nhưng sự phục hồi chưa vững chắc, tiếp tục tác động tiêu cực đến nước ta, làm xuất hiện một số yếu tố gây mất ổn định kinh tế vĩ mô, làm chậm đà phục hồi tăng trưởng, gây nhiều thách thức cho các địa phương.
Trên địa bàn tỉnh, tình hình giá cả tăng nhanh ở một số mặt hàng thiết yếu; thiên tai và dịch bệnh diễn biến phức tạp; tình trạng tiết giảm điện thường xuyên với tần suất lớn trong những tháng đầu năm đã ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Trước tình hình đó, Văn phòng UBND tỉnh đã tham mưu cho UBND tỉnh tập trung chỉ đạo thực hiện quyết liệt, đồng bộ, khẩn trương, có hiệu quả các nhiệm vụ và giải pháp đã đề ra trong Kết luận của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Nghị quyết của HĐND tỉnh về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2010, Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 15/1/2010 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2010 và Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 6/4/2010 của Chính phủ về những giải pháp bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, không để lạm phát tăng cao, và đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế khoảng 6,5% trong năm 2010. Nhờ vậy, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trong năm 2010 có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả quan trọng. Các nguồn lực đầu tư được bổ sung, các công trình, dự án được xây dựng trong năm 2009 và những năm qua phát huy tác dụng. Các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước nhằm tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh, các Nghị quyết của HĐND tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội mới ban hành đã tạo điều kiện kích thích sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh trong năm 2010.
Năm 2010 cũng là năm nước ta diễn ra nhiều sự kiện chính trị, ngoại giao, lịch sử, văn hoá trọng đại. Việc tổ chức thành công Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn toàn quốc lần thứ XI, Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội và các ngày lễ lớn của quê hương, đất nước sẽ là động lực tinh thần to lớn để Quảng Trị vượt qua khó khăn thách thức, thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2010 và hoàn thành kế hoạch kinh tế - xã hội 5 năm (2006-2010).
Để tham mưu, giúp Lãnh đạo UBND tỉnh tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ, khẩn trương, có hiệu quả Nghị quyết của HĐND tỉnh về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2010, Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 15/1/2010 của Chính phủ về giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2010, và Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 6/4/2010 của Chính phủ về những giải pháp bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, không để lạm phát tăng cao và đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế khoảng 6,5% trong năm 2010, Văn phòng UBND tỉnh đã xây dựng và phối hợp với các Sở, ngành, địa phương xây dựng, thẩm định trình UBND tỉnh phê duyệt thông qua và triển khai thực hiện các Nghị quyết, chương trình, đề án về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và quốc phòng an ninh của tỉnh; ban hành nhiều văn bản chỉ đạo thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội; chỉ đạo thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng; củng cố tổ chức bộ máy theo tinh thần Nghị quyết 13 và 14 của Chính phủ; chỉ đạo thực hiện cải cách hành chính, cải tiến lề lối làm việc, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; Chỉ đạo công tác đối ngoại, kinh tế đối ngoại và xúc tiến đầu tư ngày càng có hiệu quả. Đời sống các tầng lớp dân cư trong tỉnh cơ bản ổn định.

Công trình thủy lợi Sa Lung

Tổng thu ngân sách trên địa bàn tăng 30% so với Nghị quyết HĐND tỉnh đề ra. Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) theo giá hiện hành ước đạt 9.513 tỷ đồng; bình quân đầu người đạt gần 16 triệu đồng, tăng 17% so với năm 2009. Cơ cấu kinh tế của tỉnh tiếp tục có sự chuyển dịch theo hướng tích cực (Tăng khu vực công nghiệp - xây dựng và khu vực dịch vụ, giảm tỷ trọng khu vực nông - lâm - ngư nghiệp). Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước tăng 25,7% so với năm 2009 và vượt 11,5% kế hoạch đề ra. Đặc biệt, vốn đầu tư phát triển ngân sách địa phương quản lý đạt gần 2 lần kế hoạch HĐND tỉnh giao từ đầu năm.
Các công trình trọng điểm của tỉnh, công trình chào mừng Đại hội Đảng các cấp và kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội đã được tập trung bố trí vốn, tiến độ thi công khá nhanh; nhiều công trình quan trọng khác đã hoàn thành hoặc đang được tích cực triển khai; góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong năm 2010. Một số công trình lớn đã khởi công trong năm 2010 như: hồ chứa nước Đá Mài - Tân Kim, Bệnh viện Đa khoa tỉnh, Chỉnh trị luồng vào cảng Cửa Việt, Công trình thuỷ điện Khe Giông, Cầu Đại Lộc… Một số công trình hoàn thành đưa vào sử dụng như: cầu Cửa Việt, cầu Bắc Phước, công trình thuỷ lợi Sa Lung, dự án chống lũ vùng trũng Hải Lăng; Bệnh viện đa khoa Triệu Phong, Hải Lăng, Vĩnh Linh, Triệu Hải; các hồ thuỷ lợi Phú Dụng, Tiên Hiên, Tân Độ, Cù Bai; nhà máy chế biến lâm sản xuất khẩu; nhà máy cán thép và sản xuất chi tiết cơ khí, cấu kiện thép; nhà máy chế biến gỗ bằng công nghệ ghép thanh (KCN Nam Đông Hà); nhà máy chế biến hoàn nguyên Inmenhit và nghiền zircon siêu mịn (KCN Quán Ngang).
Tình hình thu hút đầu tư trên địa bàn đang chững lại, số lượng doanh nghiệp thành lập, số dự án và số vốn đầu tư đăng ký giảm so với cùng kỳ năm 2009. Đây là một khó khăn cho tỉnh khi bước vào thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015. Nguyên nhân là do nhiều nhà đầu tư gặp khó khăn về vốn, môi trường đầu tư trên địa bàn chưa thuận lợi, một số cơ chế chính sách ưu đãi tại Khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo thay đổi nên thiếu sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư[1]. Sản xuất công nghiệp gặp khó khăn do điều chỉnh giá điện, giá nguyên liệu đầu vào và giá nhân công tăng cao, tình trạng tiết giảm điện thường xuyên nên đây là năm có tốc độ tăng trưởng thấp so với các năm liền kề trước và không đạt kế hoạch đề ra. Một số dự án sản xuất có tính động lực cho phát triển công nghiệp được khởi công nhưng triển khai chậm, như: Nhà máy Bia Hà Nội - Quảng Trị và Nhà máy xi măng 60 vạn tấn/năm, đã ảnh hưởng đến tốc phát triển kinh tế của tỉnh.
Hoạt động thương mại và dịch vụ diễn ra khá sôi động, sức mua thị trường tăng nhanh, nhất là trong các dịp Tết, lễ hội. Thị trường nội địa khá ổn định, lưu thông hàng hóa thông suốt; tình trạng đầu cơ và khan kiếm hàng hóa không xảy ra. Trong năm qua, mặc dù thị trường xuất nhập khẩu bị ảnh hưởng bởi giá vàng và giá USD tăng mạnh, song các chính sách kích thích xuất khẩu theo tinh thần Nghị quyết số 18/NQ-CP của Chính phủ đã phát huy tác dụng tích cực; hoạt động xuất khẩu có nhiều chuyển biến tốt, một số mặt hàng xuất khẩu đã tìm được thị trường ổn định. Kim ngạch xuất khẩu ước thực hiện 44,5 triệu USD đạt 89% kế hoạch năm; Kim ngạch nhập khẩu ước thực hiện 59,7 triệu USD, giảm 31,8% so với cùng kỳ; hàng nhập khẩu chủ yếu phục vụ sản xuất, hạn chế các mặt hàng tiêu dùng và tình trạng nhập siêu bước đầu đã giảm.
Văn phòng UBND tỉnh tham mưu UBND tỉnh kịp thời triển khai thực hiện nhiều hoạt động hỗ trợ nhân dân trong thời kỳ giáp hạt và những ngày giáp Tết, không để tình trạng thiếu đói xảy ra; đã tổ chức phân bổ kịp thời, đúng đối tượng, đúng quy định 1.500 tấn gạo của Chính phủ hỗ trợ cho 17.821 hộ, 69.489 khẩu thiếu lương thực. Tham mưu lãnh đạo tỉnh trong công tác chăm lo đời sống cho các đối tượng chính sách, người nghèo và người dân những vùng khó khăn; đảm bảo các đối tượng cứu trợ xã hội đều được hưởng chính sách trợ giúp thường xuyên. Thực hiện tốt việc lồng ghép nhiều chương trình, dự án như: Hỗ trợ xây dựng nhà ở cho 1.854 hộ nghèo theo Quyết định 167/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (với tổng kinh phí 15,154 tỷ đồng); xây dựng và sửa chữa nhà Đại đoàn kết (1,257 tỷ đồng); Quỹ “Vì người nghèo” (4,792 tỷ đồng); Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững tại huyện Đakrông (78,857 tỷ đồng); Cấp thẻ bảo hiểm y tế cho 53.313 người nghèo và cận nghèo (21,515 tỷ đồng); hỗ trợ 5.000 lượt hộ nghèo vay vốn ưu đãi (100 tỷ đồng); Tập huấn hướng dẫn cách làm ăn cho 1.570 lượt người nghèo (1 tỷ đồng); Đào tạo nghề cho 2.210 lao động nghèo (3,8 tỷ đồng); Miễn giảm học phí và trợ cấp học bổng cho 16.355 học sinh nghèo (2,2 tỷ đồng). Đồng thời, huy động nhiều nguồn vốn khác nhau để triển khai xây dựng các công trình xoá đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội. Tỷ lệ hộ nghèo cuối năm 2010 còn 13%, giảm 1,7% so với số liệu rà soát hộ nghèo năm 2009.
Tiếp tục công tác cải cách hành chính, Văn phòng UBND tỉnh đã tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo triển khai và thực hiện Quyết định số 48/2009/QĐ-TTg ngày 31/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2009 - 2010; Đạt mục tiêu ứng dụng công nghệ thông tin nâng cao năng lực quản lý điều hành của cơ quan nhà nước trong địa bàn tỉnh; tham mưu UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1368/QĐ-UBND ngày 28/7/2010 và Quyết định số 1600/QĐ-UBND ngày 25/8/2010 của UBND tỉnh Quảng Trị để tổ chức gửi nhận văn bản qua mạng và triển khai kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý hành chính nhà nước. Tổ chức triển khai gửi nhận văn bản qua mạng tin học giữa UBND tỉnh với các sở ban ngành, UBND các huyện, thị xã (64 đơn vị) theo đúng chỉ đạo của Chính phủ và của UBND tỉnh. Đến nay các đơn vị đã triển khai gửi nhận văn bản qua mạng tin học.
Thực hiện Đề án 30 của Chính phủ về cải cách thủ tục hành chính và quy chế phối hợp liên thông giữa các cơ quan chức năng tiếp tục được quan tâm thực hiện tốt đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và nhân dân trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tính đến 31/12/2010, trên địa bàn tỉnh có 1.900 doanh nghiệp và 400 chi nhánh, văn phòng đại diện với tổng vốn đăng ký trên 700 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 35.000 lao động. Tổng số hộ kinh doanh cá thể toàn tỉnh là 32.646 hộ với số vốn đăng ký trên 4.000 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 45.500 lao động
[1] Ngày 3/3/2010 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 16/2010/QĐ-TTg về việc sửa đổi, bãi bỏ một số quy định tại các quy chế hoạt động của Khu kinh tế cửa khẩu, trong đó bãi bỏ Điều 20, Quy chế Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo ban hành kèm theo Quyết định số 11/2005/QĐ-TTg ngày 12/1/2005 của Thủ tướng Chính phủ. (Nội dung của Điều 20 là ”Các dự án đầu tư vào Khu KTTM Lao Bảo được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian 4 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế; được giảm 50% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong 9 năm kế tiếp và được áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10% cho những năm tiếp theo”)
Hoạt động kinh tế đối ngoại và xúc tiến đầu tư tiếp tục đạt được những kết quả khả quan. Việc ban hành Đề án định hướng ưu tiên thu hút và sử dụng ODA giai đoạn 2011 - 2015 của tỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuẩn bị dự án và tìm kiếm nguồn tài trợ. Nhiều chương trình, dự án ODA mới đã được xây dựng và vận động tài trợ từ các nguồn như: Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển Châu Á, Na-Uy, Italia, Hàn Quốc, Nhật Bản...
Văn phòng UBND tỉnh cũng chủ động và nghiêm túc tham mưu cho UBND tỉnh ban hành một số chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư trên địa bàn tỉnh; đẩy mạnh cải cách hành chính về cấp phép đầu tư; đẩy mạnh đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là tại các Khu công nghiệp, Khu du lịch, Khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo, từ đó thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư. Tham mưu, hỗ trợ UBND tỉnh trong việc phối hợp với Bộ Ngoại giao tổ chức thành công Diễn đàn hợp tác hành lang kinh tế Đông - Tây. Diễn đàn có sự tham gia của trên 450 đại biểu đến từ các Bộ, ngành TW, Đại sứ và đại diện Đại sứ quán các nước và Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại các tỉnh của Lào, Giám đốc các tổ chức quốc tế ADB, JICA tại Việt Nam, ngoài ra có sự tham gia của 5 đoàn tỉnh/thành phố miền Trung; 4 tỉnh của Lào và 7 tỉnh của Thái Lan.

Đoàn Bộ trưởng Ngoại giao các nước ASEAN tại Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo

Đặc biệt, ngày 13/01/2010, đoàn Bộ trưởng Ngoại giao các nước ASEAN đã đến cửa khẩu quốc tế Lao Bảo nhân chuyến đi đường bộ từ thủ đô Băngkok của Thái Lan sang Việt Nam để quảng bá hành lang kinh tế Đông - Tây và tham dự hội nghị cấp cao các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN 2010 tại thành phố Đà Nẵng trong 2 ngày
13 - 14/01/2010. Khi đến thăm cửa khẩu quốc tế Lao Bảo và Khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo, làm việc với lãnh đạo tỉnh Quảng Trị, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định vị trí và tầm quan trọng của Khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo và cửa khẩu quốc tế Lao Bảo đối với khu vực ASEAN và các nước trong tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng. Một khi hạ tầng giao thông giữa các nước trên Hành lang kinh tế Đông - Tây đã được kết nối, đặc biệt là sau khi cầu Hữu Nghị 2 nối Thái Lan với Lào được khơi thông thì Đường 9 và Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo đảm trách một nhiệm vụ nặng nề hơn đưa Việt Nam tiếp cận với khu vực.
Văn phòng UBND tỉnh đã phối hợp cùng các ngành liên quan chuẩn bị chu đáo nội dung, khâu nối giúp Lãnh đạo tỉnh có nhiều cuộc làm việc với Chính phủ, Bộ, ngành Trung ương, các tập đoàn kinh tế tranh thủ thêm vốn, chương trình, dự án cho tỉnh một cách thiết thực hiệu quả. Phục vụ Đại hội Đảng bộ các cấp, Đại hội Thi đua yêu nước tỉnh Quảng Trị lần thứ III thành công tốt đẹp; Cùng các ngành liên quan tham mưu UBND tỉnh triển khai thực hiện công tác cải cách hành chính của các cơ quan quản lý nhà nước; công tác quản lý, tuyển dụng, đề bạt, điều động, nâng ngạch, nâng lương và thực hiện các chính sách khác cho cán bộ, công chức, viên chức trong tỉnh đúng chủ trương, pháp luật của nhà nước.
Từ ngày 24/9 - 26/9/2010, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ XV được tổ chức tại thành phố Đông Hà, Đại hội khẳng định: Trong 5 năm 2005 - 2010, vượt qua những khó khăn, thách thức, Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh đã đoàn kết, nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV và đạt được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá[1], bình quân 5 năm 2005 - 2010 đạt 10,8%; GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 16 triệu đồng, tương đương 845 USD; tổng thu ngân sách trên địa bàn năm 2010 đạt 850 tỷ đồng, tăng bình quân 15,5%/năm, vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đề ra. Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển toàn diện và theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với xây dựng nông thôn mới. Giá trị của ngành nông - lâm - ngư nghiệp bình quân 5 năm tăng 3,5%/năm. Cơ cấu sản xuất chuyển đổi theo hướng đẩy mạnh khai thác tiềm năng, lợi thế từng vùng; phát triển các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, thâm canh, chuyên canh, hình thành vùng nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến, nâng cao giá trị trên một đơn vị diện tích.
Công nghiệp và xây dựng tiếp tục phát triển, năng lực sản xuất, kinh doanh của ngành không ngừng tăng lên, giá trị của ngành bình quân 5 năm tăng 21%/năm, kết cấu hạ tầng của các khu công nghiệp và các cụm công nghiệp làng nghề được tập trung đầu tư xây dựng; công nghệ xây dựng được đổi mới theo hướng hiện đại, cơ bản đáp ứng nhu cầu thi công xây dựng các công trình trên địa bàn. Thương mại - dịch vụ phát triển cả về quy mô, ngành nghề, thị trường, hạ tầng kỹ thuật và hiệu quả kinh doanh; giá trị của ngành bình quân 5 năm tăng 8,4%/năm. Công tác quản lý nhà nước, hướng dẫn thực hiện cam kết của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Hiệp định khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) được triển khai tích cực, góp phần ổn định và phát triển thị trường, phục vụ tốt sản xuất và đời sống.
Hệ thống ngân hàng được mở rộng, từng bước hiện đại hóa công nghệ quản lý. Lĩnh vực tài chính có nhiều tiến bộ, đã chú trọng việc phát triển và nuôi dưỡng nguồn thu, cải tiến phương pháp thu thuế; thực hiện chặt chẽ Luật Ngân sách và tăng cường kiểm tra, kiểm soát trong thu, chi ngân sách.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; các ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh phát triển. Cơ cấu ngành: Công nghiệp và xây dựng tăng từ 25,6% năm 2005 lên 37,5% năm 2010; Nông - lâm - ngư nghiệp giảm từ 35,9% năm 2005 xuống 27,4% năm 2010; Thương mại - dịch vụ giữ tỷ trọng 35,1%. Trong nội bộ từng ngành kinh tế cũng có sự thay đổi cơ cấu sản xuất theo hướng tăng hàm lượng sử dụng công nghệ mới, các ngành có giá trị gia tăng cao, gắn sản xuất với thị trường. Từ việc phát huy lợi thế của từng vùng, đã và đang hình thành các vùng kinh tế trọng điểm, động lực, vùng sản xuất tập trung, các khu, cụm công nghiệp, làng nghề phát triển; những chính sách, chương trình đầu tư xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội miền núi, miền biển, vùng khó khăn đã phát huy tác dụng, bước đầu khai thác được tiềm năng, lợi thế của từng vùng. Nguồn lực các thành phần kinh tế được khai thác tốt hơn. Doanh nghiệp nhà nước thuộc tỉnh được đổi mới, tổ chức sắp xếp lại; hiệu quả sản xuất kinh doanh tăng lên; kinh tế hợp tác và hợp tác xã được quan tâm hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển; kinh tế tư nhân phát triển mạnh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng nhanh về số lượng và kinh doanh ngày càng có hiệu quả hơn. Tỷ trọng giá trị trong GDP của khu vực kinh tế ngoài nhà nước từ 72,9% năm 2005 tăng lên 83% năm 2010.
Cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động cũng đã có những chuyển dịch phù hợp. Tỷ lệ lao động ngành nông - lâm - ngư nghiệp trong tổng số lao động xã hội giảm từ 62,8% năm 2005 xuống 55% năm 2010; lao động trong ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng từ 37,2% năm 2005 lên 45% năm 2010.
Đầu tư phát triển toàn xã hội tăng nhanh, quản lý và sử dụng vốn ngày càng có hiệu quả. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tăng nhanh, trong 5 năm huy động được 17.479 tỷ đồng, tăng gấp 3 lần giai đoạn 2000 - 2005. Bố trí vốn đầu tư phù hợp với quy hoạch, định hướng phát triển và tập trung hơn cho các mục tiêu quan trọng, nhu cầu bức thiết của xã hội. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển khá toàn diện trên tất cả các vùng đồng bằng, ven biển, miền núi. Hệ thống giao thông được đầu tư nâng cấp và mở thêm các tuyến mới, nhất là giao thông nông thôn và các tuyến đường có tính chiến lược như đường biên giới, ven biển, đường nội thị, đường đến trung tâm kinh tế - xã hội của các vùng. Hệ thống thủy lợi được quan tâm đầu tư nâng cấp, xây dựng mới đồng bộ hơn, tăng năng lực tưới - tiêu chủ động, đảm bảo an toàn cho các hồ chứa, cải tạo môi trường sinh thái.
[1] Báo cáo chính trị số 212-BC/TU của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIV tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV

Lễ hội Thống nhất non sông

Chương trình điện khí hóa nông thôn tiếp tục được thực hiện, đến năm 2010, trên địa bàn tỉnh có 98% tổng số hộ sử dụng điện lưới. Hệ thống bưu chính - viễn thông phát triển mạnh và được hiện đại hóa, tỷ lệ người dân sử dụng điện thoại và internet tăng nhanh với 55 máy thuê bao điện thoại/100 người dân, 3 thuê bao internet/100 người dân. Hạ tầng đô thị được tập trung đầu tư và phát triển, tạo điều kiện để đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa. Hệ thống các công trình phúc lợi công cộng như trường học, bệnh viện, công trình văn hóa thể thao, nước sinh hoạt ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế và đời sống nhân dân, tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh.Văn hoá - xã hội đạt được những tiến bộ mới, đời sống nhân dân tiếp tục được nâng lên. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá cơ sở được củng cố và phát triển. Các thiết chế văn hoá, thể thao được đầu tư xây dựng mới. Sự nghiệp giáo dục - đào tạo tiếp tục phát triển cả về mạng lưới, quy mô và chất lượng. Công tác nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ được chú trọng phát huy trong các ngành, lĩnh vực. Thực hiện các chính sách chăm sóc sức khoẻ nhân dân, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, chăm sóc người có công, an sinh xã hội có nhiều tiến bộ. Trong 5 năm giải quyết việc làm mới cho 42.500 lao động. Công tác xoá đói giảm nghèo, thực hiện các chính sách bảo đảm an sinh xã hội được quan tâm đúng mức. Bằng sự nỗ lực phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, cộng đồng xã hội đã tập trung đầu tư cải thiện kết cấu hạ tầng, hỗ trợ xây dựng nhà ở, hỗ trợ vốn, kỹ thuật và điều kiện để phát triển sản xuất, tạo việc làm, giúp người nghèo, vùng nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản, tăng thu nhập, cải thiện đời sống… Bình quân mỗi năm tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm trên 3%. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2010 giảm xuống còn 13%.
Quốc phòng - an ninh được tăng cường, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân được củng cố; an ninh chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với nhiệm vụ củng cố và tăng cường quốc phòng an ninh, nhất là quán triệt và thực hiện các chương trình hành động về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh luôn được xác định trong các chủ trương, công tác quy hoạch, kế hoạch và triển khai thực hiện trên từng lĩnh vực, địa bàn cụ thể. Các khu vực phòng thủ được xây dựng vững chắc, thế trận khu vực phòng thủ ngày càng liên hoàn.
Công tác quản lý, điều hành của các cấp chính quyền có chuyển biến tiến bộ, hiệu lực, hiệu quả được nâng lên. Công tác cải cách hành chính được đẩy mạnh. Hệ thống tổ chức các cơ quan tư pháp được tăng cường, chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được nâng lên. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm đạt kết quả bước đầu. Quan hệ đối ngoại tiếp tục được mở rộng và có hiệu quả, nhất là đối với các nước láng giềng trong khu vực, góp phần khai thác tốt hơn lợi thế tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây.
Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có bước đổi mới, chất lượng được nâng lên; khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố và tăng cường. Thực hiện tốt các chính sách về dân tộc và tôn giáo. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được đẩy mạnh, tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng lên, đoàn kết trong nội bộ Đảng được giữ vững. Thực hiện cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" đã tạo được chuyển biến tích cực trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường. Công tác dân vận của cấp uỷ Đảng ngày càng toàn diện và hiệu quả hơn. Nội dung và phương thức lãnh đạo của các cấp ủy Đảng có bước đổi mới. Nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng được giữ vững.
Nhờ phát huy lợi thế, khai thác tiềm năng, huy động tối đa mọi nguồn lực; tích cực phát triển, khuyến khích và khai thác tốt các nguồn thu, nên thu ngân sách trên địa bàn và huy động vốn đầu tư phát triển tăng nhanh. Đây là yếu tố quan trọng tạo điều kiện cho nền kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển ổn định và bền vững.
5 năm qua, để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, hàng năm Văn phòng UBND tỉnh đã xây dựng chương trình công tác năm, 6 tháng, quý, tháng theo hướng bám sát và tổ chức thực hiện tốt chương trình công tác của Tỉnh uỷ, HĐND tỉnh, UBND tỉnh, của Văn phòng UBND tỉnh. Quan tâm xây dựng, hoàn thiện, bổ sung kiện toàn tổ chức bộ máy Văn phòng UBND tỉnh; Thực hiện công tác Quy hoạch cán bộ lãnh đạo Văn phòng, lãnh đạo các đơn vị trực thuộc và công tác đào tạo, đào tạo lại đội ngủ cán bộ, công chức, viên chức Văn phòng. Kế thừa và phát huy thành quả đạt được của thời kỳ trước; sức mạnh vật chất, tinh thần được huy động và sử dụng ngày càng hiệu quả. Tinh thần làm chủ và sự chủ động, sáng tạo của tập thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong Văn phòng được phát huy, là nhân tố quan trọng tạo nên sự thành công. Ngoài ra, Văn phòng UBND tỉnh thường xuyên nhận được sự quan tâm của Lãnh đạo UBND tỉnh, sự giúp đỡ của Văn phòng Chính phủ, các Bộ ngành Trung ương trong công tác tham mưu phục vụ UBND tỉnh, Chủ tịch, các Phó chủ tịch UBND tỉnh; sự phối hợp có hiệu quả của Văn phòng Tỉnh ủy, Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội, Văn phòng HĐND tỉnh, Văn phòng UBMTTQ Việt Nam tỉnh, các Sở, Ban ngành, Đoàn thể, UBND các huyện, thị xã, Văn phòng HĐND và UBND các huyện, thị xã trong tỉnh.
Văn phòng UBND tỉnh đã được UBND tỉnh đánh giá hoàn thành xuất sắc toàn diện các mặt công tác của văn phòng như công tác tham mưu, giúp việc cho Chủ tịch, các Phó Chủ tịch trong chỉ đạo, điều hành, trong tổ chức thực hiện các mặt công tác thường xuyên, trọng tâm và đột xuất của tỉnh, của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, góp phần giữ vững, ổn định chính trị, thức đẩy kinh tế - xã hội tỉnh nhà phát triển. Tổ chức bộ máy được kiện toàn, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được nâng cao, lề lối làm việc được cải tiến, công tác hậu cần đáp ứng yêu cầu chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh, nhất là giúp UBND tỉnh hoàn thành tốt các công tác trọng tâm, đảm bảo đúng chủ trương, đường lối của của Đảng và Nhà nước.
 
 
 
 
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Xếp hạng: 0 - 0 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây