37 năm trở lại một con đường

Font size : A- A A+
Nguồn: Đại đoàn kết - 29/04/2012
Tác giả: Đơn Thương

37 năm ngày kỷ niệm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 – 30-4-2012) và 53 năm ngày mở tuyến đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại (19-5-1959 – 19-5-2012) chúng tôi đã trở lại con đường Hồ Chí Minh lịch sử. Chắp nhặt sự kiện qua lời kể, tận mắt chứng kiến những di họa còn lại của chiến tranh để thấy sự khốc liệt và sự mưu trí, dũng cảm của quân và dân ta trong thời "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”.


Xã Xuân Trạch (huyện Quảng Trạch) nơi đường HCM chia thành hai hướng Đông-Tây

Con đường gần nhất Vĩ tuyến 17

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đường Hồ Chí Minh (HCM) đã trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Trên con đường huyền thoại đó, Quảng Bình là nơi đầu tiên cả nước vào Nam, là "yết hầu” nối hai miền Nam - Bắc, nơi được mệnh danh là túi bom. Con đường đầu tiên chúng tôi đặt chân đến là Đường 16 hay còn được gọi với tên khác là Đường Thống Nhất. Điểm đầu của đường 16 là xã Thạch Bàn, huyện Lệ Thuỷ trên đường HCM Đông (phía Đông) nối sang Làng Ho, trên đường HCM Tây (phía Tây).

Cũng như Đường 20, Đường 10, Đường 12... Đường 16 cũng là tuyến vận tải Trường Sơn quan trọng chi viện cho miền Nam. Con đường này có từ trước năm 1956 và lúc đó chỉ là con đường mòn chưa có tên. Từ năm 1958 đến 1960 Trung ương đã cho mở lại con đường này và lấy tên là Đường 16. Đây là con đường nằm sát giới tuyến quân sự tạm thời. Giữ bí mật con đường này sẽ phát huy hiệu quả rất cao.

Là con đường nằm gần nhất với Vĩ tuyến 17, lúc đó, để giữ bí mật, ta sử dụng con đường này làm con đường vận chuyển bằng gùi thồ và xe thô sơ là chủ yếu. Sau này mọi người vẫn gọi nôm na là "Đường gùi thồ”. Khi mở con đường gùi thồ có người đã nói vui rằng: "Thời đại này đáng ra phải dùng xe cơ giới. Xe thồ và gùi bộ là thời của Điện Biên Phủ”. Thế nhưng chính con đường gùi thồ đầy bí mật này đã che được tầm mắt địch. Khi vừa mở, 4.000 chiếc xe thồ lập tức được huy động, ngày đêm âm thầm lăn bánh chở hàng trăm tấn gạo và hàng hoá khác bí mật sang bên kia vĩ tuyến đến với đồng bào miền Nam.

Khi đất nước thống nhất Đường 16 cũng ít dần những người qua lại. Chỉ có những người trong làng Ho bên Tây Trường Sơn có việc về Đông Trường Sơn hay trung tâm tỉnh Quảng Bình mới đi qua đây. Đường ngày một xuống cấp, những con dốc càng trở nên nguy hiểm.

"Đông Trường Sơn nối Tây Trường Sơn”

Đã rất nhiều lần nghe câu hát "Trường sơn Đông Trường sơn Tây/Bên nắng đốt bên mưa quây...” nhưng có lẽ lớp trẻ lại ít người hiểu cặn kẽ ý nghĩa về đường Đông đường Tây nếu chưa từng đặt chân trên vùng đất lịch sử này. Và Quảng Bình hiện nay là tỉnh duy nhất có hai đường HCM.

Tháng 3-1961, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong một lần vào thăm Quảng Bình, với tầm nhìn xa chiến lược đã nghĩ đến khả năng địch sẽ khống chế con Đường 15A (một tuyến nhánh và cũng là một đoạn của đường HCM). Để chủ động đảm bảo giao thông vận tải, Đại tướng đã chỉ đạo "ta phải có đường vượt qua Trường Sơn đi xuống đường 9. Như vậy, kẻ địch có nham hiểm đến mấy cũng không thể ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc ngày càng tăng vào miền Nam”.

Trên cơ sở những gợi ý của Đại tướng, lãnh đạo tỉnh Quảng Bình đã cho thăm dò và đến tháng 8 - 1962, hồ sơ cắm mốc soi tuyến đã hoàn thành. Tuyến đường Tây Trường Sơn bắt đầu từ ngã ba Khe Gát (xã Xuân Trạch, Bố Trạch) bám sát biên giới Việt Lào đã được Đại tá Võ Bẩm và thứ trưởng Nguyễn Tường Lân lúc bấy giờ trực tiếp chỉ đạo mở. Điểm cuối hai con đường Đông - Tây gặp nhau là tại Khe Sanh, Quảng Trị.

Như vậy Quảng Bình là tỉnh duy nhất có song song hai con đường đều mang tên đường HCM. Nối giữa hai con đường Đông - Tây là những đường ngang, những con đường cũng gắn với bao chiến công hiển hách.


Nơi Bộ đội Trường Sơn mở đường tại Làng Ho nay trở thành di tích lịch sử

Đường 10 lịch sử

Cách Làng Ho khoảng 15 km, Đường 10 chạy song song với Đường 16. Đường 10 được khởi công năm 1967 và trước đây đường mang tên "đường 20/7” để kỷ niệm ngày ký hiệp định Giơnevơ. Đường 10 hiện đang được cải tạo xây dựng và những người dân Làng Ho hy vọng con đường này sẽ mang lại cho họ một diện mạo mới.

Đường 10 có địa hình phức tạp. Khi tiến hành mở tuyến đường này 6.000 thanh niên xung phong (TNXP) đã được huy động từ miền Bắc vào làm lực lượng chính. Với khí thế "địch phá ta cứ đi”, suốt ngày đêm đường vẫn được thi công liên tục. Tốc độ ban đầu đạt mỗi ngày một km. Đây có lẽ là kỷ lục không dễ phá của ngành giao thông vận tải, nhất là trong hoàn cảnh mưa bom bão đạn.

Sau Tết Mậu Thân 1968 thời kỳ khó khăn nhất đã đến với việc làm con đường này. Địch bắt đầu phản kích, lúc nào trên đầu cũng có may bay địch dòm ngó. Tháng 4-1968 địch đã ném bom vào đoàn TNXP khi đang làm đường. Một số người đã hy sinh, lương thực vốn đã thiếu thốn trước đó nay bị địch bắn cháy càng làm cho ta khó khăn hơn.

Tại ngã ba Dân Chủ, một yết hầu trên Đường 10 địch đã cho máy bay ném bom liên tục đến mức có người gọi đùa đây là ngã ba Âm phủ. Ấy thế mà vượt lên tất cả, vì Miền Nam thân yêu, ngày ngày hàng nghìn thanh niên trai trẻ vẫn bám trụ với "mưa bom, bão đạn”, với rừng thiêng nước độc để mở đường.

Hơn 200 chiến sỹ đã phải ngã xuống, trên 700 người bị thương để làm được con Đường 10 chiến lược. Đến giữa năm 1968, hơn 40 km đường đã được hoàn thành. Những người làm nên con Đường 10 ngày đó vẫn tự hào nói rằng: "Chưa đi chưa biết đường 10/Đi rồi mới biết sức người sức ta”. Năm 1971, Đường 10 được làm thêm 32km, đoạn đường này gọi là đường 18. Con Đường 10 nhuốm biết bao xương máu của lực lượng TNXP nhưng cuối cùng cũng hoàn thành. Ta đã có thêm tuyến đi chiến lược nối Đông Trường Sơn và Tây Trường Sơn để góp sức chi viện cho chiến trường miền Nam.

Chuyện phá bom từ trường

Trong cuộc tấn công đánh phá miền Bắc, đế quốc Mỹ đã cho thả bom từ trường và thuỷ lôi xuống sông các bến vượt sông và các tuyến đường của ta. Quảng Bình vốn lắm sông, phá bom từ trường và thuỷ lôi là việc phải làm để đưa được những chuyến hàng sang bên kia chiến tuyến tiếp tế cho miền Nam.

Thực tế những ngày đầu do chưa có kinh nghiệm nên việc phá được thuỷ lôi và bom từ trường là hết sức nan giải. Khi Mỹ mới thả xuống sông cũng gây thiệt hại lớn về sức người và sức của cho quân và dân ta. Nguyên lý hoạt động của thuỷ lôi và bom từ trường cơ bản là khi có tàu thuyền, xe ô tô và các phương tiện bằng sắt khác đi qua chúng sẽ bị kích nổ. Trong năm 1968, trên các triền sông Gianh và sông Nhật Lệ, Mỹ đã cho thả trên 4.000 quả bom từ trường. Chỉ có 1.500 quả tự huỷ theo kỳ hạn còn lại do ta dùng phương pháp thủ công để phá.

Việc phá bom từ trường tại vùng giới tuyến này cũng có nhiều chuyện khá thú vị. Một lần có mấy cán bộ từ Bắc vào Quảng Bình công tác. Khi đoàn đi kiểm tra cầu Lý Hoà bên bờ Bắc có mấy quả từ trường địch mới thả xuống. Mấy đồng chí đi trước không sao nhưng người đi sau cùng có cầm theo chiếc đài bán dẫn và bị bom nổ. Một lần khác trên quốc lộ 1A đoạn cầu Tú Loan, có 32 quả bom từ trường Mỹ vừa ném xuống. Lãnh đạo huyện Quảng Trạch lúc đó đang tìm mọi cách để phá bom thông xe. Lúc đó một chiến sỹ lái xe đã rất dũng cảm xung phong sẵn sàng hy sinh để thông đường cho xe qua. Nói rồi chiến sỹ này lên xe vượt qua bãi bom. Nhiều quả bom đã bị kích nổ gần xe.

Phát hiện địch sử dụng bom từ trường, chúng ta đã khẩn trương nghiên cứu để khắc phục. Và đơn giản nhất là sử dụng từ trường của nam châm để phá bom. Ban đầu nam châm được buộc vào đầu dây và kéo cho lướt qua bom.

Việc phá bom từ trường trên khô không khó khăn lắm nhưng dưới nước thì rất cam go. Việc theo dõi, xác định được chỗ địch thả bom, thả mấy quả rất quan trọng. Tỉnh Quảng Bình đã tổ chức các trạm gác ở bến sông. Chỗ nào có bom sẽ được đánh dấu xác định. Dùng mấy cây chuối kết lại thành bè treo sắt và nam châm lên đó rồi thả xuống sông. Dùng một sợi dây buộc vào bè kéo chỗ nào có bom sẽ nổ hết, tàu thuyền chúng ta lại qua lại được.

Cách phá bom bằng ca nô mới thật sự mạo hiểm và thể hiện được lòng dũng cảm của ta. Có lần trên sông Gianh, đoạn Minh Lệ bom từ trường thả dày đặc, buộc chúng ta phải cho ca nô chạy tốc độ cao để phá bom. Những đồng chí lái ca nô là những người rất dũng cảm lại giỏi. Họ được xem là những người cảm tử quân. Trước khi thực hiện bao giờ cũng làm lễ truy điệu sống. Nhiều người đã "nói lời vĩnh biệt cuối cùng”. Tuy nhiên, khi chiếc ca nô vút đi với tốc độ chóng mặt và theo sau là những cột nước dựng đứng do bom nổ những cảm tử quân lại quay về bắt tay đồng đội với nụ cười chiến thắng.

Những quả bom từ trường là những cái bẫy rất hiểm độc. Tàu thuyền đi qua nếu không biết sẽ kích nổ bom nổ ngay lập tức. Mỹ hy vọng "bẫy bom” này sẽ là mê trận và sẽ chặt đứt con đường vận tải tại các bến sông và trọng điểm trên đường của ta. Thế nhưng, bao nhiêu bom chúng ném xuống đều đã bị ta khắc phục trước sự dũng cảm và mưu trí của quân ta.

Sưu tầm: VTV

(Ghi chú: Tin bài trên được sưu tầm và đăng tin trên trang web nội bộ VP UBND tỉnh nhằm mục đích phục vụ thông tin nội bộ cơ quan)

More

 

Lượt truy cập: 12.190.736 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này