Đến với cổng trời

Font size : A- A A+
Sài Gòn Giải Phóng - Thứ sáu, 21/12/2007, 23:10 (GMT+7)

Cổng Trời, một địa danh có từ trong truyền thuyết của người Khùa huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình. Nơi đó có hai hòn núi đá cụng đầu vào nhau, chung thủy từ thuở hồng hoang, đến nay Cổng Trời vẫn thi gan vững chãi, tồn tại cùng với nhiều tộc người thiểu số tại hai xã Trọng Hóa và Dân Hóa, huyện Minh Hóa. Cuộc sống của họ vẫn chưa hết khốn khó. Đói nghèo vẫn buộc chặt họ quanh năm.

Đi qua Cổng Trời...

 

Nhiều học sinh Ra Mai tới trường trong áo quần phong phanh giữa trời lạnh căm căm.

Từ Đồng Hới muốn lên Cổng Trời phải vượt đường Hồ Chí Minh tuyến phía Đông, chạy mãi đến ngã ba Khe Ve rẽ trái theo quốc lộ 12A, chạy mãi trên đường đèo hùng vĩ dưới ánh rừng vắng vẻ sẽ đến được Cổng Trời. Cổng Trời xa xôi và hẻo lánh nhưng có hơn 6.000 người các tộc Khùa, Mày, Sách… tại hai xã Trọng Hóa, Dân Hóa huyện Minh Hóa cùng sống dưới dãy núi Giăng Màn trong tình cảnh nghèo nhất nước.

Xã Dân Hóa giáp với huyện Na Kai nước bạn Lào với 12 bản, có những cái tên mới nghe đã thấy thương lạ lùng như Cha Lo, Hà Vi, Hà Nô, Ka Ai… Dân Hóa vốn bình thường đã có hơn 90% hộ đói nghèo, nay lại tăng vọt hơn 95% do các trận lũ cướp đi sinh kế của 3.000 người dân trong vùng. Trong khi đó xã Trọng Hóa có 16 bản, với 3.500 người dân tộc thiểu số cùng chung cuộc sống khó nghèo, thậm chí có nơi như bản Pa Chòong, Ra Mai lại đến 100% hộ nghèo.

Cụ Hồ Xóc, 85 tuổi, hơn 50 năm tuổi Đảng, người Khùa ở bản Ra Mai tâm sự đến xót lòng: “Cán bộ à. Mình sống ở đây lâu lắm rồi. Đánh đuổi được giặc nhưng đánh đuổi cái đói, cái nghèo khó lắm. Thằng nghèo hắn cứ đeo đuổi mãi dân bản. Mình là đảng viên lâu năm, nghĩ mãi vẫn không sao đẩy được đói nghèo ra khỏi Cổng Trời. Con cái mình sinh ra đứa mô cũng nghèo, dân bản người mô cũng nghèo.

Răng mà nghèo rứa cán bộ hè?”. Cụ Hồ Xóc nói chuyện đầy hình ảnh, cụ ví cái nghèo bằng “thằng”, cách ví von ấy như nắm được, sờ được, nhưng cuối cùng cụ vẫn thở dài không biết làm sao để hết nghèo. Nghèo cứ ám ảnh mọi thế hệ ở Cổng Trời, do nghèo mà chuyện học hành của con em ở đây cứ thưa dần, vắng dần con chữ. Ở Dân Hóa, Trọng Hóa chỉ có một ngôi trường cấp 1, 2 đóng tại Dân Hóa, trong đó cấp 1 có 30 lớp nhưng cấp 2 chỉ còn 10 lớp. Đa số các em đều bỏ học ngay khi xong lớp 4 hoặc lớp 5, rất ít trẻ học lên cấp 2 và hầu như không có học sinh học lên cấp 3, tại đây mỗi năm có hơn 15 học sinh bỏ học vì khó khăn.

Ông Đinh Xuân Hữu, Bí thư Đảng ủy xã Dân Hóa bùi ngùi: “Học sinh nơi đây bỏ học dần. Con đường đi học của chúng phải lội bộ rất xa, hơn 20km mới tới trường. Mùa hè còn đỡ, mùa mưa chúng bỏ học vì lụt”. Học sinh vùng Cổng Trời thường ở lại trường 10 ngày mới về nhà tiếp tế lương thực, có đứa mang gạo, đứa mang sắn, đứa gùi ngô lên cùng ăn, tuyệt đối không có tiền vì bố mẹ chúng quanh năm nghèo khó. Bữa ăn của học trò đa số sắn độn ngô, cơm ăn ít bữa là hết, một cuộc sống luôn bị cái nghèo ám ảnh...

Ngọn đèn 16 năm không tắt

 

Lớp học ở Cổng Trời rất tạm bợ.

Ở Cổng Trời khó khăn cùng cực nhưng may mắn là đồng bào có tấm lòng rộng mở. Họ thương yêu cô thầy dưới xuôi lên cắm bản dạy chữ. Nhiều thầy lên buổi đầu cứ nghĩ như đi nghĩa vụ vài năm rồi sẽ chuyển về, nhưng khi họ đã ở rồi thì cái bụng không đành lòng về xuôi.

Điểm trường nhỏ ở bản Ra Mai xa tít trên ngọn núi Tà Lăng như điển hình cho câu chuyện đó. Muốn vào Trường Ra Mai phải vượt suối Lơ Nông, trèo núi Pa Tằng, vượt suối Đờ Hăm, tiếp tục leo núi Pa Chòong, lại lội suối Hà Noong, suối Pa Ki, leo núi Ra Thọ mới tới được Trường Ra Mai giữa lưng chừng trời. Ở đây dân bản vẫn kể câu chuyện cắm bản của thầy giáo Đinh Xuân Hải cách trường ở xuôi hơn một trăm cây số.

Mười sáu năm trước khi tốt nghiệp Trường Sư phạm Quảng Bình, thầy Hải lên với bà con bản Ra Mai dạy chữ cho trò. Buổi dạy đầu tiên không có bàn ghế, học trò lấy mấy cục đá ngồi giữa sân làng, thầy cầm cái cây vạch vạch dưới sân truyền chữ. Sau đó, các trưởng bản thấy cái chữ sáng tấm lòng liền động viên trai tráng vào rừng đẵn gỗ, làm hai phòng học cho lũ trẻ học bài. Thầy Hải lên với bà con có cơm cùng ăn, có sắn cùng chia, nhiều khi mấy tháng liền thiếu muối phải dùng tro thay muối, thầy Hải vẫn một lòng cắm bản.

Thầy Hải lên 3 năm thì có đồng nghiệp là Đinh Quý Ngân người xã Thanh Hóa, huyện Tuyên Hóa lên tiếp sức. Nhà thầy Ngân cách trường đến một ngày đi đường, tính đến năm nay thầy Ngân đã cắm bản 13 năm. Hai tháng đầu mới lên, thầy Ngân tính toán làm sao để con em dân bản tới trường được, để có cái chữ mà lớn lên. Thầy Ngân cùng thầy Hải đến từng nhà dân bản động viên bố mẹ cho học sinh đến trường, đừng bắt chúng lên rẫy sớm mà mù chữ. Có khi thầy Ngân còn lên những cái rẫy giáp Lào để vận động các em đi học.

Biết được chồng cắm bản vất vả, vợ thầy Ngân, chị Mai Thị Sương đã khăn gói cùng đứa con nhỏ lên cắm bản cùng chồng, neo lại Ra Mai cũng gần 13 năm để giúp chồng yên tâm trồng người. Bây giờ ở Ra Mai đã dạy từ lớp 1 đến lớp 4, gồm 9 lớp học, với 141 học trò. Vì là điểm trường lẻ nên không có lớp 5, chỉ dừng lại lớp 4. Muốn học nữa, học sinh Ra Mai phải xuống núi, ra quốc lộ 12A tìm chữ. Con đường quá xa, chúng đành bỏ học lên nương, xuống suối kiếm sống.

Hai người thầy mười mấy năm nhìn học trò phải thất học giữa chừng rất xót lòng. Nhưng cố mãi cũng chẳng dạy được cao, hơn khi hai thầy chỉ mới tốt nghiệp trung cấp sư phạm. Thế nên trò nào lâu ngày quên chữ, quên các phép tính, thầy cho vào học lại. Lũ trò nhỏ ở Ra Mai đa số đi học phong phanh không đủ áo trong mùa gió chướng, 141 học trò nhỏ không đứa nào đủ sách giáo khoa, đôi chân của chúng - không có em nào mang đôi dép lành lặn, đa số những chiếc dép bị rách tả tơi, có chiếc cụt lưỡi, có chiếc mòn vẹt, nhiều em trong số đó phải đi chân đất, trông đến tội nghiệp.

Em Hồ Thanh, học lớp 2, nói chuyện đến thương: “Cháu được thầy cho học cháu mừng lắm. Thầy cho sách, vở, bút, rồi cho cháu biết chữ. Cháu đọc được nhiều chữ lắm. Vui lắm. Sau này lớn lên cháu ước mơ được học tiếp để đi dạy như thầy”. Không biết Hồ Thanh có theo được chữ hay không vì hiện tại gia đình em rất khó khăn. Trong đôi mắt sáng của em là một ước mơ đẹp nhưng cái khó nghèo lại quá cụ thể nên bố mẹ em vẫn mù chữ, cố mãi em mới cắp sách tới trường học lên lớp 2 với bộ áo quần xộc xệch, cùng đôi dép không nguyên lành.

Tôi hỏi Hồ Thanh vì sao em chỉ mơ có thế, Hồ Thanh hồn nhiên: “Vì thầy em được bà con nói như ngọn đèn không bao giờ tắt”. Ra thế, Hồ Thanh ước mơ mình sẽ được làm ngọn đèn như thầy Hải, thầy Ngân, sáng mãi trên núi Tà Lăng. Không chỉ Hồ Thanh ước thế mà nhiều học trò ở Cổng Trời cũng ước thế, nhưng nhà nghèo nên ước mơ vươn tới “ngọn đèn cho chữ” rất khó thực hiện, thường bị vương vãi trên suối trên nương do cuộc mưu sinh khốn khó.

Trên Cổng Trời mùa cuối năm, gió chướng phần phật, nhìn lũ học trò nhỏ người Khùa, Mày, Sách đưa ngực hứng gió trong cái lạnh căm căm mà tôi chạnh lòng, thương các em khốn khó trên đường đến với cái chữ...

Minh Phong

More

 

Lượt truy cập: 12.276.259 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này