Bản tin phục vụ lãnh đạo ngày 04/8/2020

16:42, Thứ Ba, 4-8-2020

Xem với cỡ chữ : A- A A+

TIÊU ĐIỂM

1. Thủ tướng: Dồn mọi nguồn lực để dập dịch COVID-19 trong đầu tháng 8

2. Thủ tướng: Không bộ, ngành nào được chủ quan, lơ là

3. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc: Phục hồi nền kinh tế dù còn gian khó nhưng cần bình tĩnh và lạc quan

4. Thủ tướng kết luận về kỳ thi THPT 2020

CHÍNH SÁCH MỚI

5. Từ ngày 3/8, chính thức giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp

CHỈ THỊ MỚI

6. Hỗ trợ kê khai giảm thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay

KINH TẾ - ĐẦU TƯ  - HỘI NHẬP

7. PMI tháng 7 quay đầu giảm xuống dưới mức 50 điểm

8. ADB: Kiều hối về Việt Nam có thể giảm tới 18% so với 2018 vì Covid-19

9. 7 tháng đầu năm, hơn 45.000 doanh nghiệp chấm dứt kinh doanh

QUẢN LÝ

10. Phức tạp tình trạng khiếu nại, tố cáo kiểu "ném đá giấu tay" trước thềm Đại hội Đảng 

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

11. Đồng bằng sông Cửu Long hoàn thành kết nối cổng dịch vụ công quốc gia

QUẢN LÝ NGÂN SÁCH

12. Năm 2020, phấn đấu dư nợ công của Việt Nam vào khoảng 51,4% GDP

13. Kinh tế phục hồi chậm, thu ngân sách giảm

14. Kiến nghị Chính phủ sớm điều chuyển vốn đầu tư công

15. Lan tỏa “sức nóng” quyết tâm giải ngân vốn đầu tư công

 

TIÊU ĐIỂM

Thủ tướng: Dồn mọi nguồn lực để dập dịch COVID-19 trong đầu tháng 8

Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu tập trung mọi nguồn lực để dập được ổ dịch ở Đà Nẵng và một số địa phương trong đầu tháng 8.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết, trong tháng 7 vừa qua, trước khi dịch COVID-19 bùng phát ờ Đà Nẵng, kinh tế Việt Nam phát triển khá tốt, nhất là sản xuất công nghiệp, đầu tư, du lịch và dịch vụ. Ngân hàng Thế giới đánh giá, Việt Nam là 1 trong 5 nước trên thế giới sẽ có mức tăng trưởng cao nhất thế giới, khoảng 2,8%. Còn Tạp chí Nhà kinh tế đánh giá, trong bối cảnh thế giới hiện nay, Việt Nam vẫn là điểm trú ẩn ưa thích với các nhà đầu tư.

Tuy nhiên, làn sóng thứ hai của dịch COVID-19 xuất hiện ở Đà Nẵng và Quảng Nam sẽ tạo ra nhiều thách thức mới đối với tiến trình hồi phục kinh tế của Việt Nam. Kể từ khi dịch COVID-19 bùng phát ở Đà Nẵng, trong 11 ngày qua, Thường trực Chính phủ đã họp 3 cuộc để cùng các địa phương thần tốc dập dịch. Nhưng với những diễn biến của dịch bệnh hiện nay, cả nước tuyệt đối không được chủ quan.

"Trong bối cảnh dịch bệnh quay trở lại, chúng ta không được chủ quan, không được để dịch bùng phát lớn, quy mô lớn, cho nên, tinh thần dồn mọi nguồn lực, xử lý triệt để các ổ dịch nhất là ổ dịch ở Đà Nẵng. Cố gắng trong thời gian đầu tháng 8 này là thời gian mang tính quyết định có bùng phát quy mô lớn hay không" - Thủ tướng nhấn mạnh.

Cũng tại phiên họp này, Chính phủ sẽ nghe Quyền Bộ trưởng Bộ Y tế báo cáo về công tác phòng chống COVID-19, việc đặt hàng thực hiện xét nghiệm SARS-CoV-2, báo cáo về phương án thi tốt nghiệp Trung học phổ thông trong bối cảnh dịch COVID-19. Đây là vấn đề được Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh là rất quan trọng, đang được nhân dân quan tâm. (Kênh VTV1 – Thời sự ngày 03/8)Về đầu trang

Thủ tướng: Không bộ, ngành nào được chủ quan, lơ là

Kết luận phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7-2020 vào sáng 3-8, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ kết hợp đồng bộ, hiệu quả các chính sách, nhất là chính sách tài chính và tiền tệ để kích thích mạnh mẽ tổng cầu, trong đó lưu ý quy mô, phạm vi đủ lớn, phương thức hỗ trợ phù hợp, hiệu quả để tạo ngay động lực tăng trưởng, bảo đảm mục tiêu, định hướng.

Trước hết, đánh giá tình hình kinh tế - xã hội, Thủ tướng cho rằng, tháng 7 phát triển khá tốt, đặc biệt là kích cầu nội địa, du lịch nội địa, hàng không, những ngành chịu nhiều thiệt hại do Covid-19 thì đã tiến triển đáng mừng.

Tuy nhiên, trong tuần cuối tháng 7, đã xuất hiện ổ dịch tại Đà Nẵng và lây lan ra 7 tỉnh, thành phố. Theo Thủ tướng, trong bối cảnh đó, chúng ta đã tập trung chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh một cách bình tĩnh, lạc quan và quyết tâm cao với mục tiêu kép là khoanh vùng dập dịch kịp thời, liên tục với biện pháp mạnh, nhất là tập trung cho thành phố Đà Nẵng. Chúng ta đã chỉ đạo trên tinh thần không để đứt gãy nền kinh tế, giữ cân đối vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đặc biệt là giữ được các cân đối lớn của nền kinh tế. Nếu ốm nặng quá thì gượng dậy rất khó, còn ốm nhẹ thì cố gắng gượng dậy, Thủ tướng ví von về sức khỏe nền kinh tế.

Cho rằng dịch bệnh cơ bản trong tầm kiểm soát, Thủ tướng nêu rõ, chúng ta đã làm tốt, quyết liệt và có kinh nghiệm nhất định trong phòng, chống dịch. Chúng ta đã chỉ đạo khoanh vùng dập dịch quyết liệt nhưng không hoảng loạn, đặc biệt là hạn chế giãn cách một cách tràn lan. Sắp tới, sẽ có chỉ thị mới về các biện pháp phòng, chống Covid-19 trong giai đoạn hiện nay. Chúng ta xử lý nghiêm các vi phạm, nhất là vi phạm Luật Biên giới, nạn đầu cơ, làm hàng giả, kinh doanh trái phép vật tư y tế.

Theo Thủ tướng, dấu hiệu đáng mừng nữa về sức khỏe nền kinh tế là hoạt động bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tháng 7 tiếp tục hồi phục, tăng đến 3,3% so với tháng trước và tăng đến 4,3% so với cùng kỳ nhờ chính sách kích cầu tiêu dùng và du lịch nội địa.

Xuất siêu cao nhất trong 4 năm qua với điểm sáng là khu vực kinh tế trong nước. Chúng ta đã tìm một số thị trường mới, tăng lên về khối lượng. Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong 7 tháng với kim ngạch đạt 37,9 tỷ USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước, tiếp đến là Trung Quốc đạt 23,5 tỷ USD, tăng 18,4%.

Điểm sáng nữa là thu hút FDI được cải thiện, 7 tháng đầu năm đạt 18,8 tỷ USD, giảm hơn so với cùng kỳ nhưng tháng 7 đạt 10,1 tỷ USD, cho thấy xu hướng phục hồi và Việt Nam đang tận dụng cơ hội dịch chuyển vốn đầu tư. Giải ngân vốn đầu tư công tháng 7 tăng tích cực nhất, gần 52% so với cùng kỳ năm trước với quyết tâm giải ngân 100% vốn đầu tư công trong năm nay.

Lãi suất tiếp tục xu hướng giảm, đứng ở mức thấp nhờ thanh khoản dồi dào. Thủ tướng nhắc lại, các ngân hàng không nên đặt vấn đề lợi nhuận trong năm nay mà cái chính là phục vụ doanh nghiệp.

Hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục đẩy mạnh, kể cả trong bối cảnh dịch bệnh. Chúng ta đang làm tốt vai trò Chủ tịch ASEAN và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

Tuy nhiên, Thủ tướng chỉ ra 3 rủi ro, thách thức từ bên ngoài mà rủi ro lớn nhất vẫn là dịch Covid-19 với diễn biến khó lường, đặc biệt các đối tác quan trọng bị ảnh hưởng nặng nề; thứ hai là căng thẳng thương mại và công nghệ leo thang giữa nhiều nước và thứ ba là địa chính trị phức tạp, thiên tai, lũ lụt ảnh hưởng tới khả năng phục hồi kinh tế. “Tôi xin lưu ý thách thức đối với chúng ta là bùng phát dịch trở lại, đe dọa phục hồi kinh tế”, Thủ tướng nói. Lạm phát được kiểm soát, đang giảm dần nhưng còn nhiều thách thức.

Sản xuất công nghiệp tiếp tục có những khó khăn cần tháo gỡ, nhất là với ngành khai khoáng, khí đốt, khai thác dầu thô, công nghiệp chế biến, chế tạo.

Chi ngân sách tiếp tục tăng, khiến cho thâm hụt ngân sách 2020 dự báo sẽ tăng. Tuy nhiên, Thủ tướng cho rằng, kể cả bội chi ngân sách thì chính sách tài khóa cần tiếp tục hỗ trợ cho chính sách tiền tệ, hỗ trợ cho người lao động, cho các doanh nghiệp. Gói hỗ trợ của Chính phủ, đặc biệt gói an sinh xã hội đã được giải quyết một bước nhưng cần quyết liệt triển khai nhanh hơn, trúng và mở rộng hơn nữa, hiệu quả hơn nữa. Đi liền với đó là cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh.

Nêu rõ quan điểm điều hành cho phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, Thủ tướng nhấn mạnh, cùng với quyết liệt phòng, chống, không để dịch bệnh lây lan, cần tập trung phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội, giảm thiểu tác động của dịch bệnh. Yêu cầu tất cả các bộ, ngành, địa phương vào cuộc quyết liệt hơn nữa. Không bộ, ngành nào được chủ quan, lơ là nhiệm vụ quan trọng này. Bộ trưởng, Chủ tịch UBND các địa phương trực tiếp chịu trách nhiệm về phòng, chống dịch bệnh.

Kết hợp đồng bộ, hiệu quả các chính sách, nhất là chính sách tài chính và tiền tệ để kích thích mạnh mẽ tổng cầu, trong đó lưu ý quy mô, phạm vi đủ lớn, phương thức hỗ trợ phù hợp, hiệu quả để tạo ngay động lực tăng trưởng, bảo đảm mục tiêu, định hướng.

“Có đồng chí lãnh đạo nói là nếu chúng ta tăng từ 2-3% đã là một cố gắng rất lớn, phấn đấu đạt cao hơn trong trường hợp kiểm soát tốt dịch bệnh và tình hình dịch bệnh thế giới không quá xấu”, Thủ tướng cho biết. Chúng ta muốn tăng trưởng cao hơn nữa nhưng tình hình thế giới tăng trưởng âm, những đối tác lớn bị ảnh hưởng, cả cung và cầu đều yếu, nên tăng trưởng của chúng ta ở mức độ vừa phải. Cùng với đó, cố gắng giữ ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn để củng cố niềm tin, góp phần ổn định xã hội.

Việc gia hạn, giãn, hoãn nợ, miễn giảm lãi suất thời gian qua đã bước đầu phát huy tốt, kịp thời, cần tiếp tục làm mạnh hơn nữa vì kinh tế gặp khó khăn khi dịch Covid-19 quay trở lại. Đây là một tuần thử thách nữa cho chính sách tài khóa và tiền tệ.

Mở rộng tín dụng, bảo đảm mức tăng cần thiết để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng, nhất là những lĩnh vực ưu tiên. Các ngành tài chính, kế hoạch, ngân hàng, công thương, nông nghiệp và phát triển nông thôn, các bộ có liên quan đều phải xây dựng kịch bản điều hành cụ thể quý III năm 2020 và năm 2021. “Các đồng chí đều phải có trách nhiệm hỗ trợ các ngành, các lĩnh vực, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, người lao động, người dân gặp khó khăn, đặc biệt là Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Số người lao động gặp khó khăn hiện nay còn lớn lắm, chúng ta phải có giải pháp mạnh hơn, đề xuất chính sách mới hơn”, Thủ tướng lưu ý. Việc triển khai gói hỗ trợ 62.000 tỷ đồng vừa qua cần rút kinh nghiệm để thuận lợi hơn. Thủ tướng giao Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15-8 để báo cáo Chính phủ trước khi trình Bộ Chính trị cho ý kiến để báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội những vấn đề liên quan.

Về đầu tư công, nếu giải ngân hết 630.000 tỷ đồng thì góp phần vào tăng trưởng GDP thêm 0,4%, chưa kể tạo tiền đề thúc đẩy đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài, giải quyết việc làm. Do đó, Thủ tướng yêu cầu giải ngân 100% vốn đầu tư công, kể cả vốn ODA với những biện pháp mạnh mẽ.

Xử lý nghiêm các tổ chức, cơ quan, đơn vị, cá nhân làm chậm, làm sai quy định, cần coi giải ngân vốn đầu tư công là một nhiệm vụ chính trị trọng tâm, là căn cứ đánh giá cán bộ năm 2020.

Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, các bộ, ngành liên quan làm tốt hơn nữa công tác quản lý thị trường, giá cả, phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại, bảo vệ phù hợp sản xuất và tiêu dùng trong nước.

Cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh là nhiệm vụ quan trọng để tạo thuận lợi, ít tốn kém chi phí hơn. Môi trường kinh doanh phải thông thoáng hơn để thu hút các luồng vốn đầu tư dịch chuyển vào Việt Nam.

Thủ tướng đề nghị các bộ, ngành, địa phương phải có những tổ công tác đặc biệt do các Bộ trưởng, trưởng ngành, Chủ tịch UBND tỉnh làm tổ trưởng để cùng Tổ công tác đặc biệt của Thủ tướng Chính phủ tập trung giải quyết các vướng mắc, thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, nhất là từ các công ty đa quốc gia đang dịch chuyển trong khu vực và toàn cầu.

Chủ tịch các tỉnh, thành phố, bộ trưởng, trưởng ngành phải trực tiếp chỉ đạo giải quyết các kiến nghị của người dân, của doanh nghiệp. Đẩy nhanh hơn nữa tiến trình phát triển kinh tế số, Chính phủ điện tử và thanh toán, giao dịch điện tử, vừa tăng năng suất lao động, vừa theo kịp xu thế, giảm rủi ro lây lan dịch bệnh do tương tác trực tiếp. (Hanoimoi.com.vn 03/8, Đức Tuân)Về đầu trang

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc: Phục hồi nền kinh tế dù còn gian khó nhưng cần bình tĩnh và lạc quan

Ngày 2/8, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chủ trì liên tiếp 2 cuộc họp nhằm quyết tâm thực hiện mục tiêu phòng chống được dịch COVID-19, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội.

Tại cuộc làm việc với lãnh đạo các Bộ, ngành vào sáng 2/8 để chuẩn bị các quyết sách mới nhằm tiếp tục duy trì được đà phục hồi của nền kinh tế, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh, dù còn gian khó nhưng cần bình tĩnh và lạc quan.

Trong tháng 7 vừa qua, mặc dù sản xuất công nghiệp tiếp tục gặp khó khăn, chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng chỉ tăng 3,6% so với tháng 6, nhưng tính chung tăng trưởng trong 7 tháng được 2,6%. Từ đầu năm đến nay, cả nước đã có trên 75.000 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, thấp hơn so với cùng kỳ, nhưng số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng cao và số doanh nghiệp tạm ngừng chờ giải thể cũng giảm. Kết quả này cho thấy, các gói hỗ trợ về vốn vay ngân hàng và giãn, giảm thuế, phí đã có tác động tốt đối với doanh nghiệp.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 7 tăng được trên 4% so với cùng kỳ, nhưng nếu tính cả 7 tháng, chỉ số này vẫn giảm nhẹ. Xuất khẩu trong cả 7 tháng tiếp tục tăng, điều này cho thấy, các chuỗi sản xuất và cung ứng của Việt Nam với thế giới vẫn được đảm bảo. Trong khi đó, tốc độ giải ngân vốn đầu tư công tháng 7 tăng cao, đưa tổng số vốn giải ngân được từ đầu năm đến nay đạt mức cao nhất trong 5 năm qua.

Ở lĩnh vực xuất khẩu, do dịch bệnh nên trong nửa năm qua, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường châu Âu giảm tới một nửa. Tuy nhiên, do châu Âu đã kiểm soát được dịch bệnh và Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và 27 nước châu Âu mới có hiệu lực thi hành, dự kiến xuất khẩu sang thị trường này sẽ tăng và kim ngạch xuất khẩu mỗi tháng của Việt Nam sẽ đạt 24 tỷ USD, tăng thêm 1 - 2 tỷ USD so với những tháng vừa qua. Dù việc phục hồi hết sức khó khăn, có thể khẳng định kinh tế Việt Nam đã trụ vững. Tuy nhiên, thực trạng dịch COVID-19 mới xuất hiện trở lại ở thành phố Đà Nẵng đang tạo thêm thách thức mới. Do đó, Thủ tướng tái khẳng định quyết tâm của Chính phủ bảo đảm tăng trưởng kinh tế ở mức có thể.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh lại yêu cầu tiếp tục nới lỏng có kiểm soát chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để hỗ trợ nhiều hơn nữa cho các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, phải kết hợp chặt chẽ, đồng bộ "cỗ xe tam mã" để kéo nền kinh tế, đó là đầu tư, bao gồm cả đầu tư công, đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài, đi cùng với tiêu dùng và xuất khẩu để kích thích tổng cầu. Thủ tướng cho biết, tại cuộc họp vào ngày 3/8, Chính phủ sẽ thảo luận và tiếp tục có các quyết sách mạnh mẽ để bảo đảm cả nước sẽ thực hiện được mục tiêu kép phòng chống được dịch COVID-19, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội. (kênh VTV1 – Thời sự 19h ngày 02/8)Về đầu trang

Thủ tướng kết luận về kỳ thi THPT 2020

Kết luận phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7-2020 sáng 3-8, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ tổ chức chu đáo, khoa học, không để sơ suất xảy ra; giao Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo quyết định kỳ thi tốt nghiệp THPT.

Tại phiên họp, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ đã báo cáo phương án tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT năm nay trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp. Theo Bộ trưởng, đến thời điểm này, công tác chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp THPT cơ bản hoàn tất. Trước đó, Bộ GD&ĐT đã tổ chức họp với ban chỉ đạo kỳ thi ở các địa phương để rà soát lần cuối và xem xét tình hình dịch bệnh để lựa chọn phương án. Phần lớn địa phương thể hiện quyết tâm, sẵn sàng cho kỳ thi. Bộ GD&ĐT phối hợp với Bộ Y tế chuẩn bị kỹ các điều kiện để tổ chức kỳ thi an toàn.

Bộ đề xuất, với tình hình như hiện nay, các thí sinh ở những địa phương có cách ly xã hội hay thuộc diện F1, F2 thì Bộ sẽ có phương án tổ chức thi sau, bảo đảm quyền lợi cho học sinh và chỉ đạo các trường đại học có phương án tuyển sinh phù hợp.

Các địa phương không trong diện cách ly xã hội và cam kết bảo đảm điều kiện an toàn thì tổ chức kỳ thi theo kế hoạch.

Sau khi nghe các thành viên Chính phủ thảo luận, kết luận phiên họp, Thủ tướng nêu rõ, đây là vấn đề dư luận xã hội quan tâm. Thủ tướng yêu cầu Bộ GD&ĐT thực hiện đúng Luật Giáo dục, kỳ thi tốt nghiệp THPT do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định và giao cho Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm tổ chức tốt. Bộ GD&ĐT chịu trách nhiệm về nội dung.

Bộ GD&ĐT, Bộ Y tế, các bộ liên quan bảo đảm an toàn về sức khỏe cho học sinh, phụ huynh và giáo viên. Thời gian thi và các vấn đề có liên quan khác, có phương án cụ thể, thực hiện tốt công tác phòng chống dịch trong từng địa phương trên tinh thần bảo đảm an toàn cho học sinh và phụ huynh, cho giáo viên là vấn đề đặt ra gắt gao, Thủ tướng nêu rõ. Ngành GD&ĐT, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp chặt chẽ trong công tác thông tin tuyên truyền để nhân dân yên tâm về việc tổ chức chu đáo, khoa học, không để sơ suất xảy ra. (Plo.vn 03/8, Hà Phượng)Về đầu trang

CHÍNH SÁCH MỚI

Từ ngày 3/8, chính thức giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp

Đây là thông tin rất đáng tích cực cho các doanh nghiệp đang phải đối diện với rất nhiều khó khăn do tác động từ đại dịch COVID-19.

Ngày 3/8, Nghị quyết số 116/2020/QH14 về giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) sẽ chính thức có hiệu lực.

Trước đó vào ngày 19/6 vừa qua, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 116/2020/QH14 giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) phải nộp của năm 2020. Với 442/446 đại biểu Quốc hội có mặt biểu quyết đồng ý, Quốc hội quyết giảm 30% TNDN cho doanh nghiệp có doanh thu dưới 200 tỷ đồng. Nghị quyết này áp dụng cho kỳ tính thuế năm 2020.

Đối tượng được giảm thuế trong Nghi quyết gồm: Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam; tổ chức được thành lập theo Luật Hợp tác xã; đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam; tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập.

Theo quy định việc giảm 30% thuế TNDN áp dụng đối với toàn bộ thu nhập của doanh nghiệp đáp ứng điều kiện giảm thuế quy định trong Nghị quyết, không loại trừ các khoản thu nhập không được hưởng ưu đãi theo quy định của Luật thuế TNDN như: thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, chuyển nhượng vốn, thu nhập từ hoạt động khai thác khoáng sản, thu nhập từ kinh doanh dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt,... Bởi việc giảm thuế TNDN chỉ áp dụng cho thu nhập phát sinh trong năm 2020 của các doanh nghiệp có tổng doanh thu năm không quá 200 tỷ đồng. Đây được xem là đối tượng dễ bị tổn thương trước tác động tiêu cực của nền kinh tế cần được hỗ trợ theo đúng quy định của Nghị quyết.

Trong trường hợp doanh nghiệp mới thành lập trong năm 2020 (kỳ tính thuế năm 2020 không đủ 12 tháng) thì cần quy định phân bổ doanh thu theo thời gian thực tế doanh nghiệp hoạt động trong năm 2020.

Dự kiến, với việc giảm thuế nêu trên, số thu ngân sách năm nay sẽ giảm khoảng 23.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, việc giảm 30% số thuế TNDN sẽ góp phần hỗ trợ các doanh nghiệp vượt qua khó khăn do tác động của dịch COVID-19, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tích tụ vốn để phát triển sản xuất kinh doanh. (VTV.vn 03/8)Về đầu trang

CHỈ THỊ MỚI

Hỗ trợ kê khai giảm thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay

Bộ Tài chính vừa có văn bản gửi Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đề nghị bảo đảm hệ thống để hỗ trợ người nộp thuế kê khai thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay.

Ngày 27/7/2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 979/2020/UBTVQH14 (Nghị quyết số 979) sửa đổi, bổ sung tiểu mục 2 Mục I Biểu thuế bảo vệ môi trường (BVMT) quy định tại Khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 579/2018/UBTVQH14 ngày 26/9/2019 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Biểu thuế BVMT.

Để triển khai thực hiện Nghị quyết số 979, Bộ Tài chính yêu cầu: Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan chỉ đạo các Cục Thuế, Cục Hải quan các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện tốt nghị quyết này; chỉ đạo các đơn vị có liên quan bảo đảm hệ thống để quản lý thuế, thực hiện điều chỉnh phần mềm ứng dụng hỗ trợ kê khai thuế theo Nghị quyết số 979 để người nộp thuế kê khai thuế BVMT đối với nhiên liệu bay được thuận lợi, đúng quy định.

Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan, Cục Thuế, Cục Hải quan các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện tuyên truyền, phổ biến đến các tổ chức, cá nhân có liên quan và triển khai thực hiện thu thuế BVMT đối với nhiên liệu bay theo Nghị quyết số 979 kể từ ngày 1/8/2020.

Theo Nghị quyết số 979 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, thuế BVMT đối với nhiên liệu bay được giảm 30%, tức từ 3.000 đồng/lít xuống còn 2.100 đồng/lít, áp dụng từ 1/8 tới hết ngày 31/12/2020.

Thuế BVMT mang lại nguồn thu cho ngân sách, từ gần 11.700 tỷ đồng năm 2012 lên gần 63.100 tỷ đồng năm 2019. Việc giảm thuế nhằm giảm chi phí đầu vào cho các doanh nghiệp hàng không, đang chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch COVID-19.

Theo tính toán, việc giảm thuế suất thuế BVMT đối với nhiên liệu bay sẽ giảm thu ngân sách khoảng 72 - 80 tỷ đồng/tháng. (Bizlive.vn 03/8, NA)Về đầu trang

KINH TẾ - ĐẦU TƯ  - HỘI NHẬP

PMI tháng 7 quay đầu giảm xuống dưới mức 50 điểm

Báo cáo Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng 7 của Việt Nam vừa được IHS Markit công bố. Trong đó, PMI tháng 7 Việt Nam đạt 47,6 điểm, giảm 3,5 điểm so với tháng trước do lượng đơn đặt hàng và sản lượng đơn hàng mới đều giảm do ảnh hưởng của đại dịch.

Tháng 6, PMI của Việt Nam đã tăng 8,4 điểm so với tháng 5 và đạt 51,1 điểm. Đây là lần tăng thứ hai trong năm của PMI sau nhiều tháng giảm vì chuỗi cung ứng toàn cầu đứt gãy.

Sau đó, sản lượng, đơn hàng mới trong hoạt động sản xuất hàng hóa trung gian và đầu tư cơ bản tháng 7 đều giảm trở lại, ngoài trừ hoạt động sản xuất hàng tiêu dùng tăng. Theo đó, số lượng việc làm cũng giảm mạnh và người lao động đã quyết định nghỉ việc để tìm kiếm sinh kế khác. Trong bối cảnh đó, nhà sản xuất cũng quyết định cắt giảm việc mua hàng hóa, nguyên liệu sản xuất đầu vào và hàng tồn kho.

Ngoài ra, việc áp dụng các biện pháp phòng dịch khiến cho việc giao nhận hàng hóa từ Trung Quốc hoặc vận tải bằng đường biển khó khăn khiến cho thời gian giao hàng của nhà cung cấp bị đình trệ, kéo dài làm tăng chi phí sản xuất đầu vào. Trong khi đó, giá thành phẩm ghi nhận giảm lần thứ 6 liên tiếp trong nước, mức giảm mạnh hơn cả tháng 6. Nhà sản xuất cho rằng dù không mong muốn nhưng vẫn phải hạ giá vì áp lực cạnh tranh.

Tuy nhiên, các nhà sản xuất vẫn cho rằng, PMI tháng 7 giảm vẫn còn "nhẹ nhàng" hơn rất nhiều so với những lần giảm trước - khi thực hiện giãn cách xã hội. Họ cũng lạc quan về triển vọng sản xuất trong 12 tháng tới, kỳ vọng số lượng đơn hàng mới và sản lượng sẽ sớm lấy lại đà tăng. (Cafef.vn 03/8)Về đầu trang

ADB: Kiều hối về Việt Nam có thể giảm tới 18% so với 2018 vì Covid-19

Nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển châu Á ADB chỉ ra rằng nền kinh tế toàn cầu có thể thiệt hại hơn 100 tỷ USD kiều hối vì Covid-19. Các chính phủ cần hành động nhanh chóng để bảo vệ những người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội, không để họ thiệt hại nguồn thu nhập quan trọng này.

Đại dịch Covid-19 tiếp tục gây ra các tác động nặng nề lên các hệ thống kinh tế và việc làm trên toàn thế giới. Lao động nhập cư là một trong những nhóm người bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Họ là những người gặp rất nhiều khó khăn trong việc hưởng quyền lợi lao động và bảo hiểm xã hội ở nơi đất khách.

Thất nghiệp quy mô lớn và giảm lương đối với lao động nhập cư cũng đe dọa đến thu nhập của nhiều hộ gia đình ở châu Á và Thái Bình Dương. Người thân của lao động nhập cư phần lớn dựa vào kiều hối để đáp ứng nhu cầu đời sống hàng ngày của họ.

Trong kịch bản tồi tệ nhất, ADB giả định tác động kinh tế của Covid-19 vẫn tồn tại trong suốt cả năm và giảm dần trong ba tháng cuối năm.

Dựa trên kịch bản tồi tệ nhất này, kiều hối toàn cầu sẽ giảm 108,6 tỷ USD trong năm 2020, tương đương với mức giảm 18,3% so với mức dự kiến ​​không có tác động của Covid-19. Riêng khu vực châu Á và Thái Bình Dương, kiều hối sẽ giảm 54,3 tỷ USD, tương đương 19,8% lượng kiều hối trong năm 2018.

Nếu xét theo khu vực nhận kiều hối, kiều hối chảy vào Nam Á dự kiến ​​sẽ giảm mạnh nhất, 28,6 tỷ USD (tương đương 24,7% tổng kiều hối ở khu vực này 2018), tiếp theo là kiều hối về Trung Á (3,4 tỷ USD, 23,8%), Đông Nam Á (11,7 tỷ USD, 18,6%) và Đông Á, bao gồm Trung Quốc và Nhật Bản (1,7 tỷ, 16,2%).

Còn về khu vực gửi kiều hối, phần lớn sự sụt giảm là do lượng kiều hối bắt nguồn Trung Đông giảm tới 22,5 tỷ USD, chiếm 41,4% tổng lượng tổn thất về kiều hối ở châu Á. Tiếp theo là sự sụt giảm 20,5 tỷ USD từ kiều hối từ Hoa Kỳ, (chiếm 37,9% tổng số). Sự sụt giảm kiều hối từ EU và Vương quốc Anh chiếm 6,3% tổng số, tương đương 3,4 tỷ USD. Sự suy giảm từ Liên bang Nga lên tới 2,1 tỷ USD.

Theo dự báo của ADB, lượng kiều hối về Việt Nam đã giảm tới 18% trong năm 2020 so với cùng kỳ năm 2018.

Các chính phủ trong khu vực có thể giúp quản lý tác động của Covid-19 đối với kiều hối bằng cách mở rộng các dịch vụ xã hội tạm thời để hỗ trợ người di cư bị mắc kẹt và quay trở lại; hỗ trợ thu nhập cho các gia đình người nhận chuyển tiền nghèo; và thiết kế các chính sách về sức khỏe, lao động và kỹ năng để giúp người di cư quay trở lại công việc của họ hoặc được tuyển dụng ở nước họ. (Cafef.vn 03/8)Về đầu trang

7 tháng đầu năm, hơn 45.000 doanh nghiệp chấm dứt kinh doanh

Trong 7 tháng đầu năm 2020, toàn quốc có 45.218 doanh nghiệp chấm dứt kinh doanh, tăng 159 doanh nghiệp...so với cùng kỳ năm 2019.

Thông tin trên vừa được Tổng cục Thuế công bố ngày 1/8. Theo đánh giá của Tổng cục Thuế, tình hình kinh tế trong 7 tháng đầu năm 2020 chịu tác động lớn của dịch bệnh COVID-19 . Trong thời gian thực hiện cách ly, hầu hết các hoạt động dịch vụ không thiết yếu phải đóng cửa, hoạt động sản xuất kinh doanh khác bị hạn chế, đã tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (DN).

Từ tháng 5, tình hình dịch bệnh tại Việt Nam về cơ bản đã được kiểm soát, nền kinh tế đã từng bước được mở cửa trở lại, tuy nhiên mức độ phục hồi còn rất chậm.

Thống kê của ngành Thuế cho thấy, trong 7 tháng đầu năm 2020, toàn quốc có 74.810 DN thành lập mới, giảm 4.786 DN so với cùng kỳ năm 2019; 45.218 DN chấm dứt kinh doanh, tăng 159 DN so với cùng kỳ 2019...

“Đến ngày 19/7/2020, toàn quốc có 785.514 DN đang kinh doanh, tăng 27.981 DN so với thời điểm cuối năm 2019”, Tổng cục Thuế cho biết thêm.

Về thu ngân sách nhà nước (NSNN), riêng trong tháng 7 số thu do ngành Thuế quản lý đạt 91.600 tỷ đồng, bằng 7,3% so với dự toán pháp lệnh, bằng 70,2% so với cùng kỳ năm 2019.

Trong đó, thu từ dầu thô chỉ bằng 36% cùng kỳ; Thu nội địa ước đạt 71,5% so với cùng kỳ năm 2019. Số thu không kể tiền sử dụng đất, cổ tức và lợi nhuận còn lại và thu từ xổ số kiến thiết và chênh lệch thu chi của NHNN ước đạt 71,1% so với cùng kỳ năm 2019.

Lũy kế 7 tháng đầu năm 2020, thu NSNN do cơ quan thuế quản lý ước đạt 666.080 tỷ đồng, bằng 53,1% so với dự toán pháp lệnh, bằng 91,5% so với cùng kỳ năm 2019.

Về tổng thể, kết quả thu ngân sách do cơ quan thuế quản lý 7 tháng năm 2020 đạt thấp nhất so với thu của một số năm gần đây cả về tiến độ và tốc độ (thu 7 tháng năm 2019 đạt 57% số thu cả năm, tăng 11,8% so với cùng kỳ; năm 2018 tỷ lệ tương ứng là 56,7%, tăng 16,2%; năm 2017 đạt 54,8%, tăng 16,1%).

Diễn biến thu qua các tháng giảm dần và giảm mạnh từ tháng 4 trở đi khi cả nước thực hiện giãn cách xã hội, phòng chống COVID-19. (Tienphong.vn 02/8)Về đầu trang

QUẢN LÝ

Phức tạp tình trạng khiếu nại, tố cáo kiểu "ném đá giấu tay" trước thềm Đại hội Đảng

Gần đến Đại hội Đảng, việc tố cáo, kiến nghị diễn biến ngày càng phức tạp, đặc biệt là tố cáo sai sự thật, gây mất đoàn kết nội bộ, ảnh hưởng đến nhân sự đại hội.

Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo luôn được các cơ quan chức năng quan tâm, bảo đảm dân chủ, kịp thời và thực hiện theo đúng quy định. Việc khiếu nại, tố cáo với động cơ và mục đích trong sáng, mang tinh thần xây dựng sẽ giúp bộ máy được trong sạch, góp phần lựa chọn được những cán bộ có đức có tài, thể hiện được vai trò giám sát của người dân đối với hoạt động của các cơ quan công quyền, đó là điều nên làm và rất cần thiết.

Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc khiếu nại, tố cáo đã phần nào bị lợi dụng để cố tình tạo ra sự bất ổn tại nhiều cơ quan tổ chức, địa phương trước mỗi kỳ đại hội. Nhiều đơn thư, nội dung tố cáo sai sự thật, cố tình vu khống nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín của tập thể, cá nhân, phá rối nội bộ, làm ảnh hưởng đến đại hội Đảng các cấp.

Nguy hiểm và đáng lo hơn là trong một số đơn thư tố cáo sai sự thật, thông tin bịa đặt, còn có bàn tay, sự chống lưng, góp sức của một số cán bộ cơ hội, biến chất, kéo bè kết phái, đứng sau giật dây, kích động, xúi giục để một người nào đó đứng ra tố cáo theo kiểu "ném đá giấu tay". Họ cố tình lan truyền thông tin sai sự thật, bịa đặt hòng làm giảm uy tín, danh dự của một cán bộ nào đó. Những chuyện này không phải bây giờ mà trong quá khứ cũng đã từng diễn ra.

Chỉ trong 7 tháng đầu năm nay, Ban Tiếp công dân Trung ương đã tiếp nhận trên 9.100 đơn các loại, tăng khoảng 13% so với cùng kỳ năm 2019. Tuy nhiên, có tới hơn 6.400 đơn không đủ điều kiện xử lý, chiếm trên 70%. Những con số này cho thấy, hoạt động khiếu nại, tố cáo trước thềm Đại hội Đảng đang diễn ra phức tạp. Nếu cơ quan thanh tra, kiểm tra các cấp không tỉnh táo, công tâm, khách quan trong quá trình giải quyết đơn thư, rất dễ khiến những cán bộ tốt, đặc biệt là những cán bộ đang được quy hoạch hoặc chuẩn bị bổ nhiệm lãnh đạo bị ảnh hưởng bởi đơn thư xấu.

Một phần trong rất nhiều đơn từ liên quan nhân sự trước Đại hội Đảng là khiếu nại vượt cấp hoặc mượn danh kiến nghị để tố cáo nhằm tránh trách nhiệm pháp lý, phức tạp nhất là kiện cáo từ trong nội bộ. Việc xử lý đơn từ chậm sẽ ảnh hưởng đến công tác nhân sự Đại hội, xử lý thiếu công tâm, thiếu chính xác có nguy cơ làm mất cán bộ. Vì vậy, công tác xử lý khiếu nại, tố cáo nếu không được làm chặt chẽ sẽ ảnh hưởng không chỉ đến sinh mệnh chính trị của cán bộ, mà cả uy tín và chất lượng của tổ chức Đảng trước mỗi kỳ Đại hội.

Trước mỗi kỳ Đại hội Đảng, có một tình trạng rất phổ biến, lặp đi lặp lại là đơn thư nặc danh nhắm vào một số cán bộ đang được quy hoạch vào các vị trí lãnh đạo. Họ xuyên tạc về phẩm chất đạo đức, lối sống, tung thông tin gây hoài nghi trong dư luận với mục đích triệt hạ uy tín và mất lòng tin, từ đó tạo nên chuỗi dư luận bàn tán về tiêu chuẩn, điều kiện của những người được cơ cấu. Khi đại hội đi qua, cơ hội được đề bạt, cất nhắc hoặc được giao những vị trí quan trọng, xứng đáng đã trượt mất.

Để hạn chế thực trạng cơ chế khiếu nại, tố cáo bị lợi dụng, không chỉ cần sự công tâm, chặt chẽ, khoa học trong công tác xử lý đơn thư của các cơ quan có trách nhiệm mà còn cần những chế tài đủ mạnh, đủ sức răn đe hành vi bôi nhọ, vu khống, đảm bảo quyền lợi chính đáng của những người tố cáo, khiếu nại.

Không thể phủ nhận rằng khiếu nại, tố cáo là là cơ chế cần thiết và quan trọng trong quản lý xã hội nói chung và trong công tác cán bộ trước mỗi kỳ đại hội nói riêng. Chúng ta luôn trân trọng, lắng nghe những ý kiến đóng góp, thậm chí đang tiếp tục hoàn thiện các cơ chế bảo vệ người tố cáo. Ngược lại, cần phải xử lý nghiêm minh những người lợi dụng tố cáo để trục lợi, gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ. (Kênh VTV1 – Thời sự 19h ngày 02/8)Về đầu trang

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

Đồng bằng sông Cửu Long hoàn thành kết nối cổng dịch vụ công quốc gia

Theo Văn phòng Chính phủ, 13/13 tỉnh, thành vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã kết nối, tích hợp Cổng dịch vụ của tỉnh với Cổng dịch vụ công quốc gia.

Trong đó, có 6/13 địa phương đã đồng bộ kết quả xử lý hồ sơ, 7/13 địa phương kết nối nền tảng thanh toán trên Cổng dịch vụ công quốc gia. Trong đó có những tỉnh, thành có số lượng hồ sơ lớn, như: Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang.

Dự kiến ngày 15/8 sẽ công bố dịch vụ công thứ 1.000 là đăng ký ô tô, xe máy trên Cổng dịch vụ công quốc gia, đồng thời khai trương Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia và trung tâm thông tin, chỉ đạo điều hành của Chính phủ.

Hiện, Cổng dịch vụ công quốc gia đã có hơn 53,7 triệu lượt truy cập, trên 228.000 hồ sơ được thực hiện. Tổng chi phí tiết kiệm được khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến khoảng gần 6.500 tỷ đồng mỗi năm, trong đó riêng Cổng Dịch vụ công quốc gia đóng góp trên 3000 tỷ đồng. (VTV.vn 03/8)Về đầu trang

QUẢN LÝ NGÂN SÁCH

Năm 2020, phấn đấu dư nợ công của Việt Nam vào khoảng 51,4% GDP

Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1130/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình quản lý nợ công 3 giai đoạn 2020 - 2022 và kế hoạch vay, trả nợ công năm 2020.

Theo đó, mục tiêu kế hoạch vay, trả nợ công năm 2020 là đảm bảo nhiệm vụ huy động vốn vay để đáp ứng nhu cầu cân đối ngân sách nhà nước và phát triển kinh tế xã hội với mức độ chi phí rủi ro phù hợp. Đồng thời kiểm soát chặt chẽ các chỉ tiêu an toàn nợ đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt trong từng thời kỳ.

Thủ tướng Chính phủ quyết định, phấn đấu đến cuối năm 2022, dư nợ công của Việt Nam khoảng 51,4% GDP, nợ Chính phủ khoảng 46,2% GDP, cơ cấu nợ nước ngoài trong tổng nợ công ở mức 40 - 45%.

Cũng theo Quyết định số 1130, trong năm 2020: vay của Chính phủ là 501.461 tỷ đồng (vay trong nước 394.040 tỷ đồng và vay nước ngoài là 107.421 tỷ đồng); vay về cho vay lại là 43.415 tỷ đồng; trả nợ của Chính phủ 366.689 tỷ đồng (trả nợ trực tiếp của Chính phủ 366.689 tỷ đồng, trả nợ của các dự án cho vay lại là 29.567 tỷ đồng).

Đối với chương trình quản lý nợ công 3 năm giai đoạn 2020 - 2022, Thủ tướng Chính phủ quyết định, tổng mức vay của Chính phủ khoảng 1.546,3 nghìn tỷ đồng (trong đó, vay cho ngân sách trung ương khoảng 1.420,4 nghìn tỷ đồng, vay về cho vay lại khoảng 125,9 nghìn tỷ đồng); cơ cấu huy động vốn của Chính phủ từ các nguồn trong nước khoảng 75 - 80% nhiệm vụ vay hàng năm, từ các nguồn nước ngoài khoảng 20 - 25%; duy trì kỳ hạn phát hành trái phiếu chính phủ bình quân hàng năm khoảng từ 6 - 8 năm. Cùng với đó, Chính phủ chủ động bố trí nguồn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ, không để xảy ra tình trạng nợ quá hạn, làm ảnh hưởng đến các cam kết quốc tế của Chính phủ; đảm bảo chi tiêu nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với tổng thu ngân sách nhà nước hàng năm không quá 25%.

Thủ tướng Chính phủ cũng quyết định, khống chế hạn mức bội chi và nợ của chính quyền địa phương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, theo đó bội chi ngân sách địa phương năm 2020 khoảng 17 nghìn tỷ đồng, năm 2021 khoảng 15 nghìn tỷ đồng, năm 2022 khoảng 16,5 nghìn tỷ đồng (khoảng 0,2% GDP hàng năm). Nghĩa vụ trả nợ của chính quyền địa phương khoảng 42,8 nghìn tỷ đồng.

Hạn mức vay thương mại nước ngoài của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng theo phương thức tự vay, tự trả: kiểm soát tốc độ tăng dự nợ ngắn hạn tối đa 18 - 20%/năm; hạn mức vay ròng trung, dài hạn hàng năm tối đa khoảng 5.500 - 6.090 triệu USD. (Thời báo tài chính Việt Nam 02/8)Về đầu trang

Kinh tế phục hồi chậm, thu ngân sách giảm

Theo Bộ Tài chính, thu ngân sách nhà nước 7 tháng đầu năm 2020 đạt 779,8 nghìn tỷ đồng, bằng 51,6% dự toán, giảm 13,1% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó, thu nội địa cũng giảm so với cùng kỳ, nhiều khoản thu quan trọng không đạt dự toán.

Theo Bộ Tài chính, tổng thu cân đối ngân sách nhà nước (NSNN) thực hiện tháng 7 ước đạt 107,9 nghìn tỷ đồng. Luỹ kế thu 7 tháng đạt 779,8 nghìn tỷ đồng, bằng 51,6% dự toán, giảm 13,1% so với cùng kỳ năm 2019 (ngân sách trung ương ước đạt 48,3% dự toán; ngân sách địa phương ước đạt 55,8%). Nếu tính cả số thuế và tiền thuê đất được gia hạn thời gian nộp theo Nghị định số 41/2020/NĐ-CP của Chính phủ (47,6 nghìn tỷ đồng), thì thu NSNN 7 tháng ước đạt 54,7% dự toán, giảm 7,8% so với cùng kỳ.

Về tổng thể, kết quả thu nội địa 7 tháng đạt thấp nhất so với cùng kỳ một số năm gần đây (7 tháng năm 2019 thu đạt 62% dự toán, tăng 13,2% so cùng kỳ; năm 2018 đạt 8,4% dự toán, tăng 11,7%%; năm 2017 đạt 54,9 % dự toán, tăng 11,7%...). Diễn biến thu các tháng cũng giảm dần (tháng 1 thu đạt 12,5% dự toán; tháng 2 đạt 6,4% dự toán; tháng 3 đạt 7,6% dự toán; tháng 4 đạt 6,9% dự toán; tháng 5 đạt 4,8% dự toán; tháng 6 đạt 6% dự toán và tháng 7 đạt 7,1% dự toán). Mức sụt giảm thu diễn ra ở hầu hết các địa phương và tập trung ở các khoản thu thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, lệ phí trước bạ,...

Đến hết tháng 7, có 6/12 khoản thu đảm bảo tiến độ dự toán và cao hơn mức bình quân chung (đạt trên 58%), chủ yếu 1à các khoản thu nhỏ và thu tiền sử dụng đất (đạt 80,9% dự toán); 6 khoản thu còn lại, bao gồm cả các khoản thu quan trọng từ 3 khu vực kinh tế, không đảm bảo tiến độ dự toán và giảm mạnh so cùng kỳ năm 2019, như: thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước đạt 44,8% dự toán, giảm 21%; thu từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 48,5% dự toán, giảm 12,6%; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 42,9% dự toán, giảm 20,5%; các loại phí, lệ phí đạt 44,4% dự toán, giảm 17% so với cùng kỳ năm 2019...

Ước tính cả nước có 28/63 địa phương thu nội địa đạt trên 58% dự toán (không kể thu tiền sử dụng đất có 16/63 địa phương thu nội địa đạt trên 58% dự toán); 15/63 địa phương thu cao hơn so cùng kỳ, 48 địa phương thu thấp hơn so cùng kỳ.

Trong đó: thu từ dầu thô ước đạt 23 nghìn tỷ đồng, bằng 65,4% dự toán, giảm 32,6% so với cùng kỳ năm 2019. Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 106,47 nghìn tỷ đồng, bằng 51,2% dự toán, giảm 20,5% so với cùng kỳ năm 2019.

Đại dịch Covid-19 trên thế giới đang diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến hoạt động thương mại quốc tế, cầu hàng hóa sụt giảm, hoạt động thông quan hàng hóa khó khăn. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 7 tháng đầu năm ước đạt 285,1 tỷ USD, giảm 1,3% so với cùng kỳ năm 2019. Đáng chú ý, kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng có số thu ngân sách lớn giảm, như: xăng dầu các 1oại giảm 48,7%, ô tô nguyên chiếc giảm 47,6%, sắt thép giảm 14,1%, máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng giảm 4,2%... đã tác động làm giảm thu ngân sách. (Thoibaotaichinhvietnam.vn 03/8, Minh Anh)Về đầu trang

Kiến nghị Chính phủ sớm điều chuyển vốn đầu tư công

Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng cho biết, sẽ kiến nghị Chính phủ thực hiện việc điều chuyển vốn giữa các bộ ngành, địa phương sớm hơn, ngay từ tháng 8, chứ không phải sang tháng 9 như dự kiến trước đó.

Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng lý giải, việc điều chuyển này là điều chuyển vốn giữa các bộ, ngành, địa phương giải ngân kém sang bộ, ngành, địa phương giải ngân tốt. Còn việc điều chuyển trong nội bộ bộ ngành, địa phương thì đã được thực hiện từ trước.

Để đẩy mạnh việc giải ngân vốn đầu tư, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho rằng, ngoài giải pháp chung của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương cũng phải có giải pháp riêng.

"Thể chế, chính sách đã có, việc nào vướng mắc cũng đã và đang được tháo gỡ. Vì thế, quan trọng là lãnh đạo các bộ ngành, địa phương phải đeo bám từng dự án, để có vướng mắc gì thì giải quyết ngay", Bộ trưởng nêu quan điểm.

Theo báo cáo của Bộ KH&ĐT, các dự án, công trình đang được tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện. Tốc độ tăng vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng 7 năm 2020 đạt mức cao nhất trong giai đoạn 2016-2020.

Cụ thể, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước tháng 7/2020 ước tính đạt 45,7 nghìn tỷ đồng, tăng 51,8% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: vốn Trung ương quản lý 8,3 nghìn tỷ đồng, tăng 101,8%; vốn địa phương quản lý 37,4 nghìn tỷ đồng, tăng 43,9%.

Tính chung 7 tháng năm 2020, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước đạt 203 nghìn tỷ đồng, bằng 42,7% kế hoạch năm và tăng 27,2% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 bằng 41,6% và tăng 4,7%).

Việc giải ngân vốn đầu tư công được lãnh đạo Chính phủ đặc biệt quan tâm. Thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị giao ban trực tuyến về lĩnh vực này nêu rõ: Mục tiêu đặt ra là phải nỗ lực phấn đấu quyết tâm cao nhất để giải ngân 100% vốn đầu tư công kế hoạch năm 2020 và các năm trước chuyển sang. (VOV.vn 03/8, Trần Ngọc)Về đầu trang

Lan tỏa “sức nóng” quyết tâm giải ngân vốn đầu tư công

Không chỉ người đứng đầu Chính phủ sốt ruột, mà ở cương vị Bộ trưởng Bộ Tài chính tại các cuộc làm việc với địa phương, ông đã từng thốt lên:  “Bộ Tài chính rất sốt ruột về vấn đề này”.

Theo chân Đoàn công tác số 7, do Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng làm trưởng đoàn, đi kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công (kể cả vốn ODA) năm 2020 tại 3 tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng và Lạng Sơn, chúng tôi mới thấy hết được “sức nóng” quyết tâm giải ngân vốn đầu tư công lan tỏa từ người đứng đầu Chính phủ đến lãnh đạo Bộ Tài chính tới các địa phương.

Nhưng “tại sao có đoàn công tác này?”. Tại buổi làm việc với tỉnh Cao Bằng, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cho biết, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo phải vào cuộc với quyết tâm cao nhất, giải ngân hết số kế hoạch vốn đầu tư công trong năm 2020. Đoàn công tác của Bộ Tài chính, qua nghe thực tế giải ngân, vướng mắc, kiến nghị từ địa phương nêu rõ: “những gì thuộc thẩm quyền thì sẽ báo cáo ngay, xử lý ngay những vướng mắc của địa phương; còn những vấn đề khác, không thuộc thẩm quyền Bộ Tài chính sẽ báo cáo Thủ tướng Chính phủ”.

Không né tránh cũng là tinh thần chung từ các cuộc làm việc, từ Bộ trưởng Bộ Tài chính cho đến lãnh đạo các địa phương.

Tại Cao Bằng, mặc dù tốc độ giải ngân chung chỉ thấp hơn tốc độ bình quân chung của cả nước từ 1 - 2%, nhưng Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng thẳng thắn nói: “Báo cáo của các đồng chí thấp như thế, có nhiều nguyên nhân khác nhau, có nguyên nhân từ phía các bộ, ngành, thậm chí, trong đó có Bộ Tài chính”. Với những nguồn vốn chưa giao, Bộ trưởng lo lắng: “Giờ chưa giao thì bao giờ giải ngân hết được. Nhiều việc lắm…!”. Với những dự án không phải chờ từ nguồn dự phòng mà đã có trong dự toán của năm 2020, Bộ trưởng đề nghị: “Có tiền, các đồng chí phải triển khai đi chứ!”.

Tại tỉnh Bắc Kạn, tính đến ngày 27/7, giải ngân đạt 34%; nguồn vốn nước ngoài, ODA thấp, mới đạt 18% kế hoạch. Tỉnh Cao Bằng ước giải ngân đến gần hết tháng 7 đạt hơn 38% so với kế hoạch. Riêng số vốn kéo dài năm 2019 chuyển sang, tính đến 20/7, giải ngân mới đạt hơn 14% kế hoạch. Đối với tỉnh Lạng Sơn tốc độ giải ngân có khá hơn, đạt cao hơn mức bình quân chung cả nước. Tính đến ngày 29/7, tỉnh giải ngân hơn 1.456 tỷ đồng, đạt hơn 49% kế hoạch trung ương giao; đạt 44,67% kế hoạch địa phương giao. Trong đó, từ nguồn vốn ngân sách trung ương, vốn chương trình mục tiêu quốc gia giải ngân đạt 47% kế hoạch. Vốn đầu tư theo các chương trình mục tiêu đạt 82,2% kế hoạch (có 5 chương trình giải ngân vốn trên 60%). Tuy nhiên, vốn nước ngoài ODA giải ngân thấp, chỉ đạt hơn 20% kế hoạch. Kết quả đó là nhờ sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền địa phương ngay từ những ngày đầu tháng đầu của năm.

Nhưng tại sao giải ngân lại vẫn thấp? Trả lời câu hỏi đó chính là vẫn vướng. Vướng từ cơ chế, chính sách cho đến vướng từ sự quyết tâm của các chủ đầu tư, ban quản lý dự án. Ví như chia sẻ của Bí thư Tỉnh ủy Bắc Kạn Nguyễn Văn Du. Ông cho biết, giải ngân vốn chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn đạt thấp, nguyên nhân chủ yếu là các dự án do cấp xã là chủ đầu tư. Những dự án này thường có quy mô nhỏ, chưa kể năng lực cán bộ cấp xã là chủ đầu tư còn “cần phải bàn thêm”, trong khi đó, khi có khối lượng hoàn thành, các chủ đầu tư chưa muốn thanh toán ngay (do số tiền không lớn), nên giải ngân đạt thấp.

Qua thực tế tại 3 địa phương, cảm nhận chung của chúng tôi đó là, các bí thư tỉnh ủy, chủ tịch tỉnh đều sát việc và quyết liệt trong điều hành. Bên cạnh việc quyết tâm phải giải ngân hết kế hoạch vốn, có lãnh đạo tỉnh còn thẳng thắn phát biểu trong cuộc họp rằng, mình sẵn sàng nhận trách nhiệm nếu giải ngân thấp; hoặc đề nghị các đơn vị trong tỉnh không tiêu hết vốn thì sẽ trả lại.

Quyết tâm cao bằng hành động. Ngay sau cuộc làm việc với đoàn công tác của Bộ Tài chính, Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng sẽ trực tiếp điều hành một cuộc họp trong tỉnh về thúc đẩy giải ngân trên địa bàn.

Từ nay đến cuối năm, lãnh đạo 3 địa phương cho biết sẽ thường xuyên kiểm tra tiến độ các công trình, dự án trọng điểm, làm việc trực tiếp với các chủ đầu tư để kịp thời giải quyết các vướng mắc phát sinh.

Các địa phương cũng sẽ tập trung đôn đốc các chủ đầu tư và nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình, khẩn trương hoàn thiện thủ tục đầu tư các công trình khởi công mới năm 2020, tập trung giải ngân kế hoạch đầu tư công năm 2020. Không chỉ họp giao ban hàng tháng, mà 2 tuần/lần, hoặc hàng tuần; cùng với tổ chức các đoàn thanh, kiểm tra, thúc đẩy giải ngân… là các giải pháp được các tỉnh đưa ra.

Vậy họp có hiệu quả không? Câu hỏi mà tại cuộc làm việc với tỉnh Cao Bằng cũng như với 2 địa phương còn lại Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng đã đề nghị lãnh đạo tỉnh cần quy trách nhiệm rõ ràng, đánh giá cán bộ trong quá trình thực thi nhiệm vụ, cũng như “họp là phải ra giải pháp cụ thể”, Bộ trưởng nhấn mạnh. (Thoibaotaichinhvietnam.vn 03/8, Minh Anh)Về đầu trang./.

 

Trung tâm Tin học - Công báo

Các tin khác

Lượt truy cập: 12.095.526 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này