Bản tin phục vụ lãnh đạo ngày 19/4/2021

10:55, Thứ Hai, 19-4-2021

Xem với cỡ chữ : A- A A+

TIÊU ĐIỂM

1. Có thật chính sách hưu trí Việt Nam “hào phóng” nhất thế giới?

2. Xoá bất cập lương hưu: Người chỉ 1,3 triệu, người 101 triệu đồng/tháng

3. Kiến nghị sửa luật để hạn chế người lao động nhận bảo hiểm xã hội một lần

THỜI SỰ - CHÍNH TRỊ

4. Thủ tướng: Cả bộ máy phải vào việc ngay!

5. Thủ tướng: Tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT 2021 an toàn, chất lượng

TƯ DUY MỚI - CÁCH LÀM HAY

6. Đắk Lắk: Nhiệt huyết của ông Bí thư huyện nghèo

KINH TẾ - ĐẦU TƯ  - HỘI NHẬP

7. Bộ Tài chính Hoa Kỳ: Không đủ bằng chứng xác định Việt Nam thao túng tiền tệ

8. WB: Bức tranh kinh tế vĩ mô Việt Nam đầu năm 2021 có gì mới?

9. Chiến lược đa quốc gia DN FDI: 5 “đối thủ” cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam

PHÂN TÍCH - BÌNH LUẬN

10. 10 năm không phát hiện tham nhũng: Chẳng còn ai giật mình, xấu hổ nữa

11. Sử dụng “thước đo” nào trong quản lý Nhà nước?

QUẢN LÝ

12. Đề xuất đóng BHXH 70% bình quân thu nhập, BHXH Việt Nam nói gì?

13. Hà Nội phát hiện sai phạm hơn 3,5 ngàn tỉ đồng liên quan đến tham nhũng

14. Quảng Bình: Trước nghỉ hưu 3 ngày, Giám đốc Sở ký tuyển dụng 8 biên chế giáo viên 

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

15. Khai trương Cổng dịch vụ công Bộ Quốc phòng

QUẢN LÝ NGÂN SÁCH

16. Quý 1/2021: Giải ngân đầu tư công thấp, vốn ODA chưa đụng tới

17. Thúc đẩy giải ngân đầu tư công, tạo động lực cho tăng trưởng

SAI PHẠM ĐIỂN HÌNH

18. Vụ lạm thu phí làm căn cước gắn chíp ở Hải Phòng: Đình chỉ thêm 3 cán bộ công an

THẾ GIỚI

19. Hơn 50% số “hộ chiếu vàng” ở CH Cyprus được cấp trái phép

20. Nga bắt giữ quan chức lãnh sự quán Ukraine vì thu thập tài liệu mật về Moscow

 

TIÊU ĐIỂM

Có thật chính sách hưu trí Việt Nam “hào phóng” nhất thế giới?

Tại dự thảo tờ trình Đề nghị xây dựng Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi), Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) đưa ra nhận định, “Chính sách hưu trí của Việt Nam được các chuyên gia của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đánh giá là thuộc loại hào phóng nhất thế giới”.

Tại dự thảo, Bộ LĐTBXH đặt vấn đề “Quỹ hưu trí và tử tuất khó đảm bảo cân đối trong dài hạn".

Nguyên nhân được chỉ ra là: Do chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) hiện hành được kế thừa từ các chính sách BHXH trong giai đoạn kế hoạch hóa tập trung, thiết kế dành cho công nhân viên chức khu vực nhà nước, do ngân sách nhà nước đảm bảo. Khi mở rộng ra các khu vực kinh tế khác, chính sách chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời, chưa phù hợp với sự thay đổi về đặc điểm của quy mô và cơ cấu dân số (tốc độ già hóa dân số), chưa phù hợp với nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối giữa mức đóng - mức hưởng dẫn đến quỹ hưu trí và tử tuất khó đảm bảo khả năng cân đối trong dài hạn.

Theo thống kê của BHXH Việt Nam, bình quân người tham gia BHXH đóng góp trong 28 năm với tỉ lệ 22% vào quỹ hưu trí và tử tuất, trong khi hưởng lương hưu bình quân 25 năm với tỉ lệ hưởng bình quân 70,1%. Theo thông lệ quốc tế, với mô hình hưu trí như Việt Nam hiện nay, để người nghỉ hưu hưởng lương hưu trong 20 năm thì thời gian đóng góp bình quân ít nhất là 40 năm mới đảm bảo cân đối quỹ hưu trí trong dài hạn.

Bên cạnh đó, tương quan giữa số người đóng và số người hưởng có xu hướng ngày càng giảm. Năm 1996, cứ có 217 người đang đóng BHXH, chỉ có 1 người đang hưởng chế độ hưu trí; 10 năm sau, năm 2006 tỉ lệ này là 12,6/1; đến năm 2017 là 8,2/1 và đến năm 2020 là 7,7/1. Tỉ lệ số chi trên số thu vào quỹ hưu trí và tử tuất trong thời gian qua đang có xu hướng tăng lên. Riêng giai đoạn 2007-2014, tỉ lệ này có xu hướng giảm do quy định của Luật BHXH năm 2006 quy định lộ trình tăng tỉ lệ đóng của người sử dụng lao động và người lao động.

Tỉ lệ hưởng lương hưu trên số năm đóng góp của Việt Nam hiện nay là khá cao, mức tối đa là 75% cho 35 năm đóng góp đối với nam và 30 năm đóng góp đối với nữ, tương ứng với tỉ lệ tích lũy là 2,14% cho mỗi năm đóng góp đối với nam và 2,5% cho mỗi năm đóng góp đối với nữ. Tỉ lệ này vẫn cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực và trên thế giới (hầu hết các nước đều quy định sau 40 năm đóng góp, tỉ lệ hưởng lương hưu tối đa không quá 60% như Trung Quốc, Hàn Quốc…) và chính sách hưu trí của Việt Nam được các chuyên gia của Tổ chức Lao động Quốc tế đánh giá là thuộc loại hào phóng nhất thế giới.

Tuy nhiên, trong một báo cáo khác liên quan đến sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội, Bộ LĐTBXH cũng đánh giá: Mức lương hưu bình quân giai đoạn này là 4,26 triệu đồng/người/tháng; mức lương hưu cao nhất: 101,3 triệu đồng/tháng; có hơn 4.100 người hưởng mức lương hưu dưới 1,3 triệu đồng/tháng; có hơn 3.989 người hưởng mức từ 13 triệu đồng/tháng trở lên. Do quá chú trọng đến nguyên tắc đóng - hưởng dẫn đến tình trạng có người hưởng mức lương hưu hàng tháng quá thấp (1,3 triệu đồng) và cá biệt có người hưởng mức lương hưu hàng tháng quá cao (hơn 100 triệu đồng) gây những bức xúc trong xã hội. (Cafef.vn 18/4, Minh Anh)Về đầu trang

Xoá bất cập lương hưu: Người chỉ 1,3 triệu, người 101 triệu đồng/tháng

Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) thừa nhận có tình trạng chênh lệch khá lớn về lương hưu giữa các nhóm lao động, có người hưởng mức lương hưu hàng tháng quá thấp (1,3 triệu đồng) và cá biệt có người hưởng mức lương hưu hàng tháng quá cao, từ đó làm giảm niềm tin của người tham gia vào hệ thống bảo hiểm xã hội.

Tại báo cáo về chính sách lương hưu mới công bố, Bộ LĐTBXH đã đưa ra đánh giá có sự “Tồn tại sự chênh lệch khá lớn về mức lương hưu giữa các nhóm đối tượng, làm nản lòng người lao động có mức lương hưu thấp dẫn đến gia tăng số lượng hưởng BHXH một lần trong nhóm đối tượng này”.

Theo số liệu báo cáo của BHXH Việt Nam tính đến cuối năm 2017, mức lương hưu bình quân là 4,26 triệu đồng/người/tháng; mức lương hưu cao nhất: 101,3 triệu đồng/tháng; có hơn 4.100 người hưởng mức lương hưu dưới 1,3 triệu đồng/tháng; có hơn 3.989 người hưởng mức từ 13 triệu đồng/tháng trở lên. Do quá chú trọng đến nguyên tắc đóng - hưởng dẫn đến tình trạng có người hưởng mức lương hưu hàng tháng quá thấp (1,3 triệu đồng) và cá biệt có người hưởng mức lương hưu hàng tháng quá cao (hơn 100 triệu đồng) gây những bức xúc trong xã hội.

Việc chênh lệch khá lớn về lương hưu giữa các nhóm lao động, có người hưởng mức lương hưu hàng tháng quá thấp (1,3 triệu đồng) và cá biệt có người hưởng mức lương hưu hàng tháng quá cao, từ đó làm giảm niềm tin của người tham gia vào hệ thống BHXH, duy trì sự tham gia và ở lại trong hệ thống BHXH, nhiều người đề nghị giải quyết hưởng BHXH một lần và rời khỏi hệ thống BHXH. Những năm gần đây, bình quân mỗi năm có khoảng 600 ngàn người hưởng BHXH một lần và rời khỏi hệ thống BHXH.

Ngoài ra, theo Bộ LĐTBXH: Căn cứ Nghị quyết số 27-NQ/TW về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp, sẽ tiến tới việc bãi bỏ mức lương cơ sở, trong khi đó Luật bảo hiểm xã hội có đến 11 nội dung gắn với mức lương cơ sở. Do vậy, nếu không sửa đổi Luật bảo hiểm xã hội thì sẽ không còn căn cứ pháp lý để thực hiện những nội dung nêu trên của Luật bảo hiểm xã hội, ảnh hưởng tới quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội.

Để giải quyết vấn đề này, Bộ LĐTB&XH đưa ra phương án: Hoàn thiện các chế độ bảo hiểm xã hội hiện hành.

Theo đó, đối với người lao động, việc sửa đổi cách tính mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH để tính lương hưu theo hướng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH để tính lương hưu đối với người lao động được tính theo mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của người đó và tiền lương tháng đóng BHXH trung bình của tất cả mọi người tham gia BHXH. Như vậy, có sự chia sẻ nhất định giữa người có mức lương cao với người có mức lương thấp.

Từ đó, thu hẹp khoảng cách về thu nhập trong các đối tượng hưởng chế độ hưu trí, có tác động khuyến khích nhóm người lao động có mức lương hưu thấp, khuyến khích người tham gia BHXH có mức tiền lương thấp bảo lưu thời gian đóng BHXH để được hưởng lương hưu thay vì nhận BHXH một lần.

Đồng thời, tạo thuận lợi người lao động, người sử dụng lao động và cơ quan bảo hiểm xã hội ở các địa phương trong quá trình thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, đảm bảo quyền thụ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội của người lao động và thân nhân của người lao động. (Laodong.vn 17/4, Bằng Linh)Về đầu trang

Kiến nghị sửa luật để hạn chế người lao động nhận bảo hiểm xã hội một lần

Bình quân mỗi năm, có khoảng 600.000 người hưởng bảo hiểm xã hội (BHXH) một lần và rời khỏi hệ thống BHXH là một con số đáng lo ngại vì ảnh hưởng tới quyền lợi lâu dài của người lao động. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đang dự thảo để sửa Luật BHXH nhằm hạn chế người lao động nhận BHXH một lần.

Đánh giá về quy mô tham gia BHXH trên thực tế, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) cho biết: Tính đến năm 2020, mới chỉ có gần 33,5% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia BHXH, vẫn còn gần 32 triệu người trong lực lượng lao động trong độ tuổi lao động (khoảng 66,5%) chưa tham gia BHXH.

Mục tiêu đến năm 2030, có khoảng 60% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia BHXH theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW là một thách thức rất lớn nếu không có những giải pháp căn bản về cả chính sách và công tác tổ chức thực hiện chính sách.

Tính đến cuối 2020, Việt Nam có khoảng 14,1 triệu người sau độ tuổi nghỉ hưu (từ 55 tuổi trở lên đối với nữ; từ 60 tuổi trở lên đối với nam). Trong số đó, chỉ có khoảng trên 3,1 triệu người đang được hưởng lương hưu, BHXH hằng tháng (chiếm 22,1%) tổng số người sau độ tuổi nghỉ hưu. Nếu tính cả những người đang hưởng trợ cấp hưu trí xã hội (1,8 triệu người) thì tổng cộng có khoảng gần 5 triệu người (chiếm 35%) được hưởng các khoản trợ cấp hàng tháng.

Như vậy, cho đến nay, vẫn còn khoảng 9,2 triệu người sau độ tuổi nghỉ hưu (chiếm 65%) chưa thuộc diện bao phủ của hệ thống BHXH hoặc tầng an sinh xã hội nào khác. Trong khi đó, mục tiêu Nghị quyết số 28-NQ/TW đặt ra là đến năm 2021 có khoảng 45% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu sẽ là một thách thức rất lớn.

Bộ LĐTBXH cũng cho rằng: Chính sách BHXH thiếu sự chia sẻ theo nghĩa rộng. Hiện nay, tính chất chia sẻ rủi ro chỉ thể hiện rõ trong các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Chính sách hưu trí được thiết kế còn nặng về nguyên tắc đóng - hưởng, nhưng thiếu chú ý đến nguyên tắc chia sẻ giữa người có mức lương cao và mức lương thấp để thu hẹp khoảng cách về thu nhập giữa các nhóm lao động.

Ngoài ra, quy định điều kiện về thời gian tối thiểu được hưởng lương hưu quá chặt chẽ dẫn đến số người đang tham gia rời bỏ hệ thống BHXH trước tuổi nghỉ hưu khá lớn.

Một nguyên nhân khiến, số người nhận BHXH một lần tăng là điều kiện hưởng BHXH một lần khá dễ dàng. Sau một năm không làm việc, không tham gia BHXH là người lao động có thể hưởng BHXH một lần với mức hưởng bằng 1,5 tháng lương cho mỗi năm tham gia BHXH trước năm 2014 và 2 tháng lương cho mỗi năm tham gia sau đó. Như vậy, với mức đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất 8% tiền lương từ phía người lao động, một năm đóng 0,96 tháng lương thì việc hưởng 2 tháng lương khi nhận BHXH một lần được xem như là có lãi, cùng với việc phải chờ đợi quá lâu để hưởng hưu trí sẽ khiến người lao động mong muốn được nhận BHXH một lần để đáp ứng các nhu cầu trước mắt.

Vì vậy, Bộ LĐTBXH đã đề xuất phương án: Điều chỉnh quy định điều kiện hưởng BHXH một lần theo hướng có lộ trình tiến tới chỉ giải quyết đối với người lao động khi đã hết tuổi lao động nhưng không đủ điều kiện hưởng lương hưu mà không có nhu cầu đóng tiếp, trừ trường hợp ra nước ngoài để định cư hợp pháp hoặc mắc bệnh hiểm nghèo mà có nhu cầu nhận một lần hoặc quy định trường hợp chưa hết tuổi lao động mà nhận bảo hiểm xã hội một lần thì mức hưởng thấp hơn. Đồng thời, nghiên cứu bổ sung các quyền lợi ngắn hạn (trước mắt), tăng mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước nhằm tăng tính hấp dẫn, thu hút tạo điều kiện để người dân tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Mặt khác, sửa đổi điều kiện hưởng chế độ hưu trí theo hướng giảm dần số năm đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu để được hưởng chế độ hưu trí từ 20 năm xuống 15 năm, hướng tới còn 10 năm với mức hưởng được tính toán phù hợp nhằm tạo điều kiện cho người lao động cao tuổi, có số năm tham gia bảo hiểm xã hội thấp được tiếp cận và thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm xã hội. (Laodong.vn 18/4, Bằng Linh)Về đầu trang

THỜI SỰ - CHÍNH TRỊ

Thủ tướng: Cả bộ máy phải vào việc ngay!

Ngày 15-4, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã chủ trì phiên họp Chính phủ triển khai công việc sau khi Chính phủ được kiện toàn nhân sự tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa XIV.

Phiên họp đã thảo luận về công tác bàn giao nhiệm vụ sau khi Chính phủ được kiện toàn nhân sự tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa XIV; quan điểm định hướng chỉ đạo và một số nội dung trọng tâm cần tập trung chỉ đạo thực hiện ngay trong thời gian tới.

Theo chương trình làm việc, Chính phủ đã thảo luận về dự thảo Chương trình hành động của Chính phủ triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; tổng kết Quy chế làm việc của Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định 138/2016; tiếp tục rà soát hệ thống pháp luật, đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật; phục vụ công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; công tác phòng chống dịch Covid-19 và tiêm phòng vắc-xin Covid-19; thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công; dự thảo Nghị định gia hạn thời hạn nộp thuế, tiền sử dụng đất năm 2021 và việc triển khai thực hiện Nghị quyết 42 của Chính phủ về hỗ trợ người dân khó khăn do đại dịch Covid-19; tổ chức kỳ thi THPT quốc gia.

Tại cuộc họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu các thành viên Chính phủ khẩn trương xử lý, giải quyết ngay công việc, bảo đảm liên tục, thông suốt; sớm kiện toàn cấp ủy, tổ chức Đảng và công tác nhân sự; tiếp tục kế thừa, tập trung xây dựng Chính phủ và cơ quan hành chính các cấp đoàn kết, thống nhất cao, liêm chính, dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương; hành động thiết thực, hiệu lực, hiệu quả, không phô trương, hình thức; lấy người dân, doanh nghiệp là trung tâm phục vụ; bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội tham gia và thụ hưởng thành quả phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Sau khi nghe ý kiến thảo luận của các thành viên Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính kết luận Chính phủ quyết nghị một số nội dung. Theo đó, về quan điểm định hướng chỉ đạo, Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đề ra trên các lĩnh vực theo các nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Nghị quyết 01 ngày 1-1 của Chính phủ; chú trọng kiểm soát lạm phát, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế; nỗ lực phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra trong 6 tháng và cả năm 2021.

Bên cạnh đó, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho sản xuất - kinh doanh; phát triển thị trường thương mại, du lịch trong nước; phát triển ổn định, bền vững thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán; tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực phục vụ phát triển đất nước bằng thể chế, cơ chế, chính sách phù hợp, hiệu quả. (Nld.com.vn 17/4, Thế Dũng) Về đầu trang

Thủ tướng: Tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT 2021 an toàn, chất lượng

Để kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học, giáo dục nghề nghiệp năm 2021 (Kỳ thi và tuyển sinh) năm 2021 được triển khai an toàn, nghiêm túc, khách quan, chất lượng, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho thí sinh, Thủ tướng đã ra chỉ thị về công tác tổ chức kỳ thi.

Theo đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm toàn diện về kỳ thi, trực tiếp thực hiện các khâu: Ban hành các văn bản chỉ đạo, quy chế, hướng dẫn và triển khai kế hoạch tổ chức kỳ thi và tuyển sinh đại học; chịu trách nhiệm về đề thi; cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời các quy định, thông tin cần thiết về kỳ thi và tuyển sinh; xây dựng hệ thống công nghệ thông tin phục vụ công tác tổ chức thi thống nhất toàn quốc và chấm thi trắc nghiệm bằng máy tính, bảo đảm an toàn.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND cấp tỉnh, trực tiếp là Chủ tịch UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm toàn diện về tổ chức kỳ thi trên địa bàn, bảo đảm an toàn, nghiêm túc, chất lượng, bao gồm:

- Tổ chức đăng ký dự thi, in sao đề thi, coi thi, chấm thi, thanh tra, kiểm tra, công bố kết quả thi và phúc khảo bài thi, xét công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông.

- Chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị để tổ chức kỳ thi tại địa phương; bố trí kinh phí từ ngân sách địa phương để tổ chức kỳ thi; bảo đảm các quy định phòng dịch, vệ sinh, an toàn thực phẩm, an ninh, trật tự.

- Tạo điều kiện thuận lợi về đi lại, ăn nghỉ cho thí sinh và người thân ở tất cả các điểm tổ chức thi; vận động, hỗ trợ các thí sinh là con em hộ nghèo, vùng sâu, vùng xa, thí sinh khuyết tật, thí sinh cư trú tại các vùng chịu ảnh hưởng thiên tai tham dự Kỳ thi; không để thí sinh nào phải bỏ thi vì gặp khó khăn về điều kiện kinh tế hay đi lại. (Vtv.vn 17/4)Về đầu trang

TƯ DUY MỚI - CÁCH LÀM HAY

Đắk Lắk: Nhiệt huyết của ông Bí thư huyện nghèo

Sau hơn một năm thi trúng tuyển chức danh Bí thư Huyện ủy Lắk (Đắk Lắk), ông Võ Ngọc Tuyên tiếp tục hiện thực hóa chương trình hành động của mình, kêu gọi được nhiều tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp đầu tư vào địa phương. Ngay trong ngày đầu tiên xúc tiến đầu tư, ít nhất 3 tập đoàn, doanh nghiệp đã cam kết đầu tư dự án, tổng vốn hơn 1.300 tỷ đồng.

Sáng sớm 16/4, hàng trăm doanh nghiệp (DN) từ Trung ương, Hà Nội, TPHCM và nhiều tỉnh thành khác đã có mặt tại thị trấn Liên Sơn, trung tâm huyện Lắk dự Hội nghị Xúc tiến đầu tư. “Chúng tôi sẽ xem nhà đầu tư đến với huyện là công dân trên địa bàn. Thành công của các nhà đầu tư cũng là thành công của huyện”, Bí thư Võ Ngọc Tuyên hồ hởi nói.

Theo ông Tuyên, năm 2020 là năm đầu tiên địa phương này được công nhận Đảng bộ huyện trong sạch, vững mạnh, được Tỉnh ủy Đắk Lắk tặng bằng khen hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; có nhiều chỉ tiêu hoàn thành và vượt, trong đó có chỉ tiêu phát triển đảng viên mới, kinh tế-xã hội không ngừng được đổi mới.

“Dẫu vậy, huyện vẫn còn nghèo. Năm vừa rồi chúng tôi chỉ thu ngân sách được hơn 35 tỷ đồng. Huyện luôn xác định môi trường đầu tư là yếu tố hàng đầu, quyết định đến kết quả thu hút đầu tư vào địa phương”, ông Tuyên nói và cho biết hiện rất nhiều nhà đầu tư quan tâm tìm hiểu và đăng ký đầu tư các dự án lớn.

Ông Nay Y Phú, Chủ tịch UBND huyện Lắk, cho biết sẽ tạo điều kiện tối đa cho các nhà đầu tư bằng các chính sách thiết thực như miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước trong thời gian DN xây dựng dự án; ưu đãi thuế thu nhập DN với thuế suất 10% trong 15 năm đầu, miễn thuế nhập khẩu để tạo tài sản cố định…

Theo Bí thư huyện Lắk, tại hội nghị lần này, huyện đã xác định 19 dự án trọng điểm về nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp, phát triển đô thị, dự án thương mại - dịch vụ và du lịch để mời gọi các nhà đầu tư.

Ông Phan Đức Hiếu, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (Bộ KH&ĐT) nói rằng, Lắk là một trong số ít huyện trên phạm vi cả nước tổ chức hội nghị xúc tiến đầu tư, và là huyện nghèo nhất tỉnh Đắk Lắk. “Đây là minh chứng cho thấy câu chuyện “trên nóng dưới lạnh” đã thay đổi thành “trên nóng dưới cũng nóng”, trên tích cực dưới cũng tích cực”, ông Hiếu nói. Theo ông Hiếu, cộng đồng DN rất quan tâm chủ trương, sự minh bạch và cách tiếp cận thông tin dễ dàng, cạnh tranh bình đẳng, tính năng động của chính quyền, trực tiếp là Huyện ủy và UBND huyện. “Hội nghị là bước khởi đầu của các chuỗi hoạt động xúc tiến đầu tư của DN, phải tiếp tục hiện thực hóa trong trong gian tới”, ông nói.

Sau khi tuyển chọn không đậu chức danh Bí thư Huyện ủy Lắk, Phó giám đốc Sở VH-TT&DL Đắk Lắk Nguyễn Văn Hà được điều động, bổ nhiệm chức vụ Phó bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Ea H’leo. Phó chánh Văn phòng UBND tỉnh Đắk Lắk Nguyễn Thị Thu An dự kiến tới đây được điều động làm Bí thư Huyện ủy Krông Năng. Ông Hà và bà An từng là hai ứng viên tuyển chọn chức danh Bí thư Huyện ủy Lắk do tỉnh Đắk Lắk tổ chức ngày 19/3/2020. Trong cuộc tuyển chọn này, ông Võ Ngọc Tuyên, Phó giám đốc Sở KH&ĐT tỉnh Đắk Lắk khi đó, đạt điểm cao nhất và được Tỉnh ủy Đắk Lắk làm hồ sơ, thủ tục để bổ nhiệm chức danh này.

Cho rằng du lịch là lợi thế lớn của huyện Lắk hiện nay, song ông Hiếu cũng khuyến cáo địa phương cần phát triển du lịch theo hướng bền vững, chứ không chỉ tập trung khai thác lợi ích.

Tại hội nghị ngày 16/4, thay mặt lãnh đạo huyện, Chủ tịch UBND Nay Y Phú ký và trao 3 giấy chứng nhận đầu tư cho 3 tập đoàn, DN lớn, tổng giá trị cam kết đầu tư hơn 1.300 tỷ đồng.

Đại diện cho đơn vị đã và đang đầu tư, kinh doanh khu nghỉ dưỡng trên hồ Lắk, bà Bùi Viết Thủy Tiên, Giám đốc Cty TNHH Đường mòn châu Á, đề nghị cơ chế quản lý của chính quyền cần thống nhất từ trên xuống. Bà Tiên cũng kiến nghị huyện cần đầu tư phát triển hạ tầng du lịch, bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống để thu hút và giữ chân du khách, phát triển nhân lực chất lượng cao. Xu hướng hiện nay không cho phép cưỡi voi, vì thế, chính quyền cần có giải pháp để tăng nguồn thu cho các chủ voi, chẳng hạn có dự án bảo tồn voi, tạo nguồn sinh kế cho các gia đình nuôi voi như cho phép khách tham quan, tìm hiểu về cách nuôi, chăm sóc, huấn luyện voi…, bà nói.

Ông Phạm Thanh Tuấn, Phó tổng thư ký Hiệp hội Du lịch Đắk Lắk, nói rằng, tài nguyên của huyện Lắk được ví như tôm hùm, chỉ cần luộc lên cũng ngon. Tuy nhiên, để phát triển lâu dài, bền vững, huyện Lắk cũng cần các nhà đầu tư như “đầu bếp” tài ba nghiên cứu, chế biến thành các sản phẩm du lịch hấp dẫn, giá trị, ông nói.

Ông Nguyễn Tuấn Hà, Ủy viên Ban Thường vụ tỉnh ủy, Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Đắk Lắk, cho rằng, để đạt mục tiêu của tỉnh tới năm 2030 đưa huyện Lắk thành khu du lịch trọng điểm, cần phải có sự chung tay, vào cuộc đồng bộ của chính quyền, các sở ngành và cộng đồng DN, người dân. (Tienphong.vn 17/4, Tuấn Nguyễn – Vũ Long)Về đầu trang

KINH TẾ - ĐẦU TƯ  - HỘI NHẬP

Bộ Tài chính Hoa Kỳ: Không đủ bằng chứng xác định Việt Nam thao túng tiền tệ

Bộ Tài chính Mỹ ngày 16/4 đã gửi báo cáo giữa năm về các chính sách tỷ giá hối đoái và kinh tế vĩ mô của các đối tác thương mại lớn của Mỹ lên quốc hội nước này.

Đáng chú ý, Bộ Tài chính Mỹ đã đưa Việt Nam và Thụy Sĩ ra khỏi danh sách các quốc gia bị coi là thao túng tiền tệ. Theo Reuters, Bộ Tài chính Mỹ thông báo không có đủ bằng chứng để kết luận Việt Nam thao túng tiền tệ như đã nêu trong báo cáo "Chính sách kinh tế vĩ mô và ngoại hối của các đối tác thương mại lớn của Mỹ" của chính quyền cựu Tổng thống Trump hồi tháng 12/2020.

Tuy nhiên, Bộ Tài chính Mỹ cho biết Việt Nam, Thụy Sỹ và Đài Loan (Trung Quốc) sẽ tiếp tục được giám sát trong các vấn đề tiền tệ. (Vtv.vn 17/4)Về đầu trang

WB: Bức tranh kinh tế vĩ mô Việt Nam đầu năm 2021 có gì mới?

Báo cáo Cập nhật Kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 4/2021 của Ngân hàng Thế giới mới công bố cho thấy, Việt Nam đang phục hồi sau cú sốc Covid-19, nhưng kết quả phục hồi giữa các ngành còn chưa đồng đều.

Cụ thể, tăng trưởng trong quý 1/2021 đạt 4,5% so với cùng kỳ năm ngoái, tương đương với quý 4/2020. Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng có sự khác biệt đáng kể giữa các ngành.

Một mặt, nông nghiệp không bị ảnh hưởng nhiều bởi cú sốc, tăng trưởng 3,2% so cùng kỳ năm 2020 và ngành công nghiệp và xây dựng tăng tốc từ 5,6% so cùng kỳ năm ngoái trong quý cuối năm 2020 lên 6,3% so cùng kỳ năm trước nhờ nhu cầu mạnh mẽ từ khu vực kinh tế đối ngoại.

Mặt khác, ngành dịch vụ chỉ tăng trưởng 3,3% so cùng kỳ năm trước, bằng khoảng một nửa so với tốc độ tăng trưởng trước đại dịch. Đặc biệt, các lĩnh vực liên quan đến du lịch vẫn suy giảm nặng nề khi dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 4,5% so với cùng kỳ năm trước.

Sau khi chững lại vào tháng 2, các hoạt động đi lại tăng lên trong tháng 3, cho thấy hoạt động kinh tế đang quay lại. Tình hình đi lại ở các chợ tạp hóa và nơi làm việc đã phục hồi lại mức như trước Covid-19 vào đầu tháng 2/2020.

"Mặc dù vậy, tình hình đi lại ở các đầu mối giao thông công cộng và quán ăn nhà hàng vẫn thấp hơn so với trước đại dịch, thể hiện vết sẹo lâu dài do khủng hoảng gây ra cho ngành du lịch", báo cáo nhận định.

Bên cạnh đó, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 3/2021 tăng 6,1% so cùng kỳ năm ngoái. Lĩnh vực năng động nhất bao gồm: đồ uống do các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất để phục vụ nhu cầu trong nước vào mùa hè. Ngoài ra còn có các ngành chế tạo kim loại, linh kiện điện tử, thiết bị điện, máy móc và xe cơ giới cũng tăng trưởng nhờ sức cầu mạnh từ khu vực kinh tế đối ngoại.

Chỉ số PMI tăng từ 51,3 vào tháng 2 lên 51,6 trong tháng 3, một lần nữa khẳng định các ngành chế biến, chế tạo tiếp tục mở rộng. Mặc dù người Việt Nam thường tăng chi tiêu đáng kể trong kỳ nghỉ Tết, nhưng tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ thực hiện vào tháng 2/2021 giảm 4,4% so tháng trước, cho thấy đợt bùng phát Covid-19 lần thứ ba cùng với các biện pháp nhằm kiểm soát lây nhiễm cộng đồng đã tác động đáng kể đến tiêu dùng nội địa.

Thực tế, hoạt động đi lại ở các đầu mối giao thông công cộng không tăng lên trước Tết nguyên đán do nhiều người Việt Nam không về quê ăn Tết vì Covid-19, dẫn đến cắt giảm chi tiêu. Đến tháng 3, doanh số bán lẻ lại giảm thêm 0,9% so tháng trước khi tiêu dùng yếu đi sau Tết. Tuy vẫn tăng 10,5% so cùng kỳ năm 2020, nhưng mức tăng chủ yếu do hiệu ứng cơ sở vì sức cầu trong nước đã giảm đáng kể khi bắt đầu đại dịch cách đây một năm.

Cũng trong giai đoạn này, tín dụng cho nền kinh tế tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước. Tốc độ tăng này gần sát với các mức trước Covid-19, cho thấy tác động của chính sách tiền tệ nới lỏng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, qua đó giúp cung cấp vốn đầy đủ để hỗ trợ phục hồi kinh tế.

Đáng chú ý, cân đối ngân sách đạt bội thu lần đầu tiên kể từ khi bắt đầu đại dịch. Trong quý 1/2021, Chính phủ thu ngân sách 403,7 nghìn tỷ đồng (tăng 3,2 % so cùng kỳ năm trước) trong khi tổng chi giảm 0,4% so cùng kỳ năm trước, xuống còn 341,9 nghìn tỷ đồng, dẫn đến bội thu ngân sách trên 60 nghìn tỷ đồng, cao hơn 29% so với cách đây một năm.

Thu ngân sách cao phản ánh khu vực kinh tế trong nước trở nên mạnh hơn và nhập khẩu tăng trưởng ổn định, với thu từ hoạt động xuất nhập khẩu tăng 9,7% so cùng kỳ năm ngoái. Giải ngân vốn đầu tư công đảm bảo tiến độ, với tỷ lệ giải ngân khoảng 13%, tương đương quý 1/2020. (Cafef.vn 17/4, Hà Trần)Về đầu trang

Chiến lược đa quốc gia DN FDI: 5 “đối thủ” cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam

Theo nghiên cứu từ VCCI, các doanh nghiệp FDI đánh giá, 5 quốc gia được nhắc đến nhiều nhất là "đối thủ" của Việt Nam, gồm: Trung Quốc, Thái Lan, Singapore, Indonesia và Malaysia.

Trong báo cáo chuyên sâu về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh mà VCCI vừa công bố, có một phần dành riêng để điều tra và các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI).

Cụ thể, nhóm điều tra khảo sát doanh nghiệp FDI về tương quan so sánh với các quốc gia khác cũng như đâu là các yếu tố thu hút họ đầu tư vào Việt Nam. Kết quả cho thấy, nhìn chung, môi trường kinh doanh của Việt Nam năm 2020 đã có cải thiện trên hầu hết các tiêu chí này, theo cảm nhận của các nhà đầu tư nước ngoài.

So sánh với năm 2013, ngoại trừ yếu tố chính trị ổn định, các đánh giá của doanh nghiệp FDI đối với 8 yếu tố còn lại đều rơi vào khoảng từ 30 - 60% và điểm số khá tập trung. Năm 2020, khoảng cách này đã giãn rộng hơn và thang điểm cũng tăng lên.

Nhóm đầu tiên, gọi là nhóm lợi thế lâu dài, bao gồm các yếu tố luôn có sức hút với các nhà đầu tư nước ngoài. Chỉ có một yếu tố được phân loại vào nhóm này, đó là yếu tố chính trị ổn định. Yếu tố này của Việt Nam liên tục được các doanh nghiệp FDI đánh giá cao, với tỷ lệ trên 90% và dao động không đáng kể qua các năm.

Nhóm thứ hai (lợi thế mới nổi) bao gồm các yếu tố rõ ràng đã trở thành điểm mạnh của Việt Nam sau những bước tiến ấn tượng trong các năm qua: (4) rủi ro bị thu hồi mặt bằng sản xuất kinh doanh và (5) rủi ro bất ổn chính sách.

Năm 2013, có 64% doanh nghiệp FDI tham gia điều tra PCI nhận định rủi ro bị thu hồi mặt bằng là thấp, và 60% cho rằng Việt Nam có rủi ro bất ổn chính sách thấp hơn các quốc gia khác mà họ đã cân nhắc đầu tư. Bảy năm sau, năm 2020, hai yếu tố này hiện nay được nhà đầu tư đánh giá cao, với tỷ lệ tương ứng đạt ngưỡng xấp xỉ 80% (79,7% cho Rủi ro bị thu hồi mặt bằng sản xuất kinh doanh thấp và 81,7% cho Bất ổn chính sách thấp).

Rõ ràng, sau khi Luật Đất đai năm 2013 được ban hành, niềm tin của các doanh nghiệp FDI đã tăng lên đáng kể về tính ổn định trong nắm giữ quyền sử dụng đất. Mặt khác, các quan ngại về bất ổn chính sách dường như đã cải thiện trong nhiệm kỳ vừa qua của Chính phủ (2015-2020).

Nhóm thứ ba (lợi thế còn tiềm năng) bao gồm các yếu tố mặc dù đã có một số bước tiến song vẫn còn là điểm yếu của môi trường kinh doanh tại Việt Nam so với các nước khác. Đó là hai yếu tố (3) thuế, và (8) vai trò của doanh nghiệp trong hoạch định chính sách. Với những cải thiện đáng kể lĩnh vực thuế với chính sách thuế hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, tỷ lệ doanh nghiệp FDI lựa chọn đầu tư vào Việt Nam cũng tăng từ 55% năm 2015 lên 62% năm 2020.

Nhóm cuối cùng, có lẽ là nhóm đáng quan tâm nhất, bao gồm các yếu tố mà Việt Nam cần đẩy mạnh giải quyết các hạn chế có tính truyền thống) Nhóm này bao gồm các yếu tố (1) kiểm soát tham nhũng ; (2) hệ thống thủ tục, quy định; (6) cơ sở hạ tầng; (7) chất lượng cung cấp dịch vụ công.

Gần 40% doanh nghiệp FDI coi chống tham nhũng là một trong những điểm mạnh của Việt Nam trong năm 2020, tăng từ mức xấp xỉ 30% năm 2014, cho thấy công cuộc chống tham nhũng của chính phủ đã đạt được những thành quả rõ nét. Tuy nhiên, nếu tính theo giá trị tuyệt đối, con số này vẫn khá thấp – dưới 50% - nghĩa là vẫn còn nhiều lợi ích tiềm tàng Việt Nam có thể khai thác khi nâng cao môi trường kinh doanh quốc gia.

Các bất cập liên quan đến hệ thống thủ tục, quy định tại Việt Nam, nhìn chung, gần như không đổi; năm 2013 chỉ có 44% doanh nghiệp FDI coi đây là một lợi thế so sánh của Việt Nam trong khi con số này vào năm 2020 là 45%.

Về cơ sở hạ tầng, dù Chính phủ ngày càng chú trọng cải thiện chất lượng cơ sở hạ tầng, chỉ có 40% doanh nghiệp FDI cho rằng Việt Nam có chất lượng cơ sở hạ tầng tốt hơn so với các quốc gia khác. Các nhà đầu tư nước ngoài vẫn coi chất lượng cung cấp dịch vụ công là điểm yếu của Việt Nam, dù đánh giá của doanh nghiệp FDI về lĩnh vực này đã cải thiện đáng kể, tăng từ mức báo động 29% năm 2014 lên gần 46% của năm 2020.

Theo nghiên cứu từ VCCI, các doanh nghiệp FDI đánh giá, 5 quốc gia được nhắc đến nhiều nhất là đối thủ của Việt Nam, gồm: Trung Quốc, Thái Lan, Singapore, Indonesia và Malaysia.

Đối với dòng vốn FDI mà Việt Nam là điểm đến cuối cùng, Trung Quốc là quốc gia cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam. Tỷ lệ doanh nghiệp FDI nhắc đến Trung Quốc như "quốc gia khác thay thế trong chiến lược đa quốc gia" đã tăng từ 24% trong khoảng thời gian 2013-2015 lên 30% năm 2020.

Con số này phản ánh Việt Nam ngày càng có vai trò lớn hơn như một điểm đến thay thế cho Trung Quốc và là ứng viên hàng đầu đối với các tập đoàn đa quốc gia trong chiến lược "Trung Quốc + 1". Các doanh nghiệp FDI hoạt động tại Việt Nam cũng từng cân nhắc các quốc gia khác thuộc khu vực Đông Nam Á như những ứng viên tiềm năng.

Vị thế của Thái Lan đã suy giảm rõ rệt, từ mức trung bình 23% doanh nghiệp FDI từng cân nhắc giữa nước này với Việt Nam trong thời điểm 2013-2015 xuống chỉ còn 10% vào năm 2020. Tuy nhiên trong  năm 2020, Thái Lan vẫn là một trong những lựa chọn phổ biến nhất để thay thế cho Việt Nam trong khu vực ASEAN, với vị trí ngang bằng Singapore và Indonesia (lần lượt là 11 và 10%), và trên Malaysia (4%).

Có thể thấy, từ khi điều tra PCI đưa ra câu hỏi này năm 2015, môi trường kinh doanh của Việt Nam đã cải thiện trên toàn bộ các khía cạnh này. Rõ ràng, các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá cao các bước tiến Việt Nam đạt được thời gian qua trong giảm thiểu rủi ro về mặt bằng sản xuất kinh doanh và đặc biệt là trong ổn định chính sách. So sánh thời điểm 2015 với 2020, tỷ lệ doanh nghiệp FDI lựa chọn đầu tư vào Việt Nam bởi hai yếu tố này đã tăng thêm 11 và 28 điểm phần trăm tương ứng.

Tuy nhiên như có thể thấy trên đồ thị, một số khía cạnh còn đáng quan ngại, đó là kiểm soát tham nhũng, hệ thống thủ tục, quy định, cơ sở hạ tầng và chất lượng dịch vụ công. Dù những lĩnh vực này đã có cải thiện rõ nét nhưng năm 2020, chỉ có 27% doanh nghiệp FDI đánh giá mức độ tham nhũng ở Việt Nam ít phổ biến hơn ở Trung Quốc, Thái Lan, Singapore, Indonesia và Malaysia. (Bizlive.vn 17/4, Hạ An)Về đầu trang

PHÂN TÍCH - BÌNH LUẬN

10 năm không phát hiện tham nhũng: Chẳng còn ai giật mình, xấu hổ nữa

Năm 2016, ĐBQH Nguyễn Ngọc Bảo đã từng phát biểu rằng hình như họ bao che cho nhau, không ai khai ra ai, họ dựa vào nhau, cùng nhau chia sẻ lợi ích theo kiểu dĩ hoà vi quý. Và bối cảnh của phát ngôn là báo cáo công tác tự kiểm tra nội bộ từ Hà Nội và TP HCM: Không phát hiện tham nhũng.

Ngày 16/4, Hà Nội, vẫn lại tuyên bố: “Chưa phát hiện trường hợp tham nhũng nào” qua công tác tự kiểm tra nội bộ. Mà đó là suốt từ 2009 đến tháng 6.2020. Tổng cộng hơn 10 năm.

Bởi tự kiểm tra không phát hiện trường hợp nào, nhưng qua thanh tra thì phát hiện sai phạm trên 3.597 tỉ đồng, từ 523 tập thể và 579 cá nhân bị xử lý hành chính. Tự kiểm tra không phát hiện khi đã có 240 vụ/610 bị can bị điều tra về các hành vi tham nhũng...

Cũng cần nhắc lại một chuyện khó tin ở TP HCM: 10 năm có... 1 trường hợp kê khai tài sản không trung thực.

Ông Nguyễn Ngọc Bảo năm đó đã nói đúng, rằng các công bố chưa sát với thực tế. Rằng: “Tham nhũng đang diễn ra hàng ngày ở khắp các tỉnh, thành phố, khắp các công việc, khắp các lĩnh vực, cử tri ai cũng biết điều đó”.

Và rằng: đưa ra một kết luận hoàn toàn không có tham nhũng thì đó là kết quả không đúng sự thật.

Năm 2017, Bí thư Thành uỷ TP HCM khi đó là ông Nguyễn Thiện Nhân cũng từng đúc kết công tác phòng chống tham nhũng bằng một cái “Ba không” và “Hai một”- cho thấy “chương trình lớn nhưng kết quả lại là con số 0.

Đó là: Hơn 37.000 bản kê khai thu nhập của cán bộ, công chức... Nhưng lại KHÔNG có ai bị xử lý. Cả năm có 43 đoàn kiểm tra trách nhiệm người đứng đầu và kết quả là KHÔNG xử lý trường hợp nào... 

Thành phố 10 triệu dân, cả ngàn khiếu tố nhưng báo cáo kết luận CHƯA phát hiện tham nhũng qua giải quyết khiếu nại, tố cáo. Còn “Hai một” là công tác tự kiểm tra nội bộ chỉ phát hiện 1 trường hợp. Hoạt động thanh tra cũng phát hiện 1 trường hợp.

Và Bí thư bình luận: Đọc mà thấy giật mình”.

Giờ đây, công tác tự kiểm tra không khiến cử tri, nhân dân giật mình nữa. Khi mà sự hình thức, khi mà những KHÔNG, những CHƯA giờ được báo cáo thản nhiên như vậy.

Nhưng có lẽ, đã đến lúc xem xét lại hiệu lực hiệu quả, xem xét lại công tác tự kiểm tra nội bộ. Bởi nếu 5 năm, 10 năm, 12 năm mà vẫn chưa phát hiện trường hợp tham nhũng nào, thì cần phải thay đổi về chất một “công tác” vừa yếu kém, vừa hình thức, vừa mất thời gian, vừa tốn tiền, lại làm mất niềm tin của người dân! (Laodong.vn 17/4, Anh Đào)Về đầu trang

Sử dụng “thước đo” nào trong quản lý Nhà nước?

Cán bộ Phòng TN-MT TX.Đông Hòa và TX.Sông Cầu (Phú Yên) sai phạm trong quản lý đất đai, khiến hàng trăm hộ dân ngay tình “nằm không cũng trúng đạn”.

Đất đai hợp pháp của họ, quyền lợi hợp pháp của họ bỗng dưng bị đóng băng, đợi vụ án được điều tra, xét xử để tìm ra kẻ xấu thì họ mới được trả lại sự trong sạch. Chờ đợi bao lâu, họ phải chịu đựng những gì, thiệt hại trong thời gian chờ đợi đó ai chịu trách nhiệm... thì chỉ có bắc thang lên hỏi ông trời.

Để phá vỡ thế “cán bộ làm sai, dân mắc kẹt” đó, Sở TN-MT tỉnh Phú Yên yêu cầu chính quyền 2 thị xã này rà soát để trả lại quyền lợi chính đáng cho người ngay. Tuy nhiên, đã quá hạn 1 tháng, một nơi thì rà soát được một nửa, còn một nơi im lặng. Kết quả của việc im lặng đó là các cơ quan chức năng lại sắp... họp để bàn, và người dân lại đợi. Vòng luẩn quẩn này sợ rằng sẽ không kết thúc nhanh. Thiệt hại của người dân đương nhiên có, mà nói người có trách nhiệm ở các địa phương trên có sai không lại rất... khó.

Sự việc trên chỉ là một hiện tượng của cả một vấn đề, bởi việc vin vào “các quy định của pháp luật” để né tránh trách nhiệm quả không hiếm. “Thần chú” của những người này là chỉ đạo “xem xét thực hiện theo đúng quy định của pháp luật”; và trả lời “chưa có căn cứ pháp luật” để thực hiện… Không có một văn bản, quy định nào có thể liệt kê cặn kẽ tất cả các trách nhiệm của một cán bộ, công chức; cũng như không có loại pháp luật nào có thể bao quát hết thực tiễn, nên những người không muốn làm quả thực có nhiều cách để né tránh. Người chịu hậu quả, xét cho cùng, không phải là họ.

Từ việc to đến việc nhỏ đều có thể thấy dấu vết hậu quả của việc né tránh trách nhiệm. Nó hằn lên trong số phận của những người dân mất cả cuộc đời đội đơn tìm công lý; trong mỗi đồng tiền thuế được mang ra trả lãi cho các dự án đắp chiếu nhiều nghìn tỉ đồng, mà nhiều người thà để của cải mục ruỗng đúng nghĩa đen theo cách đó, còn hơn thò bút ký để gắn trách nhiệm cá nhân mình vào; nó hằn lên trong cả những quán tính cũ kỹ bó buộc những “công bộc”, dù thâm tâm biết hành động sẽ đúng hơn, nhưng không hành động sẽ tốt hơn, cho chính họ.

Hẳn là tân Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng nhìn thấy và muốn sửa đổi, trước hết, thực tế này. Bởi thế, một trong những thông điệp đầu tiên trên cương vị mới, Thủ tướng nhấn mạnh nhiều lần về việc “quyết tâm phải cao, nỗ lực phải lớn, hành động quyết liệt, hiệu quả”, “làm việc nào dứt việc đó, trước hết giải quyết dứt điểm những vấn đề mà người dân, doanh nghiệp đang trông chờ, những vấn đề vướng mắc, tồn đọng kéo dài từ lâu”. Thủ tướng cũng nhấn mạnh “phân cấp, phân quyền, xác định rõ trách nhiệm tập thể, cá nhân” và “bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”. Ông đã giao Văn phòng Chính phủ chủ trì việc sửa đổi Quy chế làm việc của Chính phủ.

“Không cầu toàn”, “lấy hiệu quả làm thước đo” cũng là một trong những thông điệp của Thủ tướng. Ông đã chọn một “thước đo” chuẩn, bởi giải phóng sức sáng tạo và sự cống hiến của cán bộ để đạt được hiệu quả mới khó, chứ bó họ trong cái áo “quy định” lại quá dễ dàng. (Thanhnien.vn 18/4, Vũ Hân)Về đầu trang

QUẢN LÝ

Đề xuất đóng BHXH 70% bình quân thu nhập, BHXH Việt Nam nói gì?

BHXH Việt Nam vừa kiến nghị cơ quan có thẩm quyền (Quốc hội, Chính phủ...) sửa đổi, bổ sung chính sách pháp luật về BHXH để thể chế hóa các nội dung cải cách chính sách BHXH tại Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23-5-2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về cải cách chính sách BHXH.

Cụ thể, theo yêu cầu Nghị quyết số 28 đặt ra tại nội dung cải cách thứ tám, nêu rõ: "Sửa đổi quy định về căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của khu vực doanh nghiệp ít nhất bằng khoảng 70% tổng tiền lương và các khoản thu nhập khác có tính chất lương của người lao động để khắc phục tình trạng trốn đóng, đóng không đủ bảo hiểm xã hội, ảnh hưởng đến khả năng cân đối Quỹ bảo hiểm xã hội và quyền lợi của người lao động. Nghiên cứu điều chỉnh tỉ lệ đóng vào Quỹ BHXH theo hướng hài hoà quyền lợi giữa người sử dụng lao động và người lao động".

Theo BHXH Việt Nam , đến nay số người tham gia BHXH là gần 16 triệu người, đạt 32,4% lực lượng lao động trong độ tuổi (trong đó gần 14,9 triệu người tham gia BHXH bắt buộc, trên 1,1 triệu người tham gia BHXH tự nguyện); BHTN gần 13,2 triệu người, đạt 26,7% lực lượng lao động trong độ tuổi; BHYT gần 87 triệu người, đạt tỉ lệ bao phủ 88,9% dân số, giảm 1,24% so với hết năm 2020.

Đến hết tháng 3-2021, số người giải quyết hưởng mới chế độ BHXH hằng tháng, ốm đau, thai sản đều giảm; số người đề nghị hưởng BHXH một lần có chiều hướng gia tăng, tăng gần 20,6% so với cùng kỳ năm 2020. Nguyên nhân chủ yếu là do dịch bệnh, người lao động nghỉ việc, mất việc, tính thời điểm này đã đủ 12 tháng (trong đó, một số địa phương có số người đề nghị hưởng BHXH một lần tăng cao do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 như Khánh Hoà, Đà Nẵng, Quảng Nam…).

Liên quan tới tiền lương đóng BHXH, trước đó báo cáo BHXH Việt Nam cho thấy nhiều doanh nghiệp vẫn chủ yếu xây dựng thang, bảng lương để đóng BHXH bằng mức thấp nhất.

Thống kê của BHXH Việt Nam cũng cho thấy đa số doanh nghiệp đã đăng ký đóng BHXH cho người lao động theo mức lương mà không có khoản bổ sung khác. Mặc dù quy định từ ngày 1-1-2018, tiền lương tháng đóng BHXH gồm mức lương và thêm khoản bổ sung khác. Theo BHXH Việt Nam một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng trên là việc chưa chỉ rõ khoản phụ cấp bổ sung nào phải tính đóng BHXH.

Thực tế ở nhiều doanh nghiệp đưa ra rất nhiều các khoản thu nhập khác như: khoán sản phẩm (ngoài định mức lương), tăng năng suất lao động tính theo tỷ lệ %, hỗ trợ tiền nhà, tiền điện thoại, xăng xe, chuyên cần (chăm chỉ - ngày công lao động trong tháng) để không phải đóng BHXH. (Nld.com.vn 17/4, D.Thu)Về đầu trang

Hà Nội phát hiện sai phạm hơn 3,5 ngàn tỉ đồng liên quan đến tham nhũng

Ngày 16-4, UBND TP Hà Nội tổ chức Hội nghị tổng kết Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 và kế hoạch thực hiện Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC) trên địa bàn TP Hà Nội.

Theo đánh giá của UBND TP Hà Nội, trong những năm qua, Hà Nội đã quyết liệt trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo phòng, chống tham nhũng; tập trung thực hiện hiệu quả 5 nhóm giải pháp về phòng, chống tham nhũng. Theo báo cáo của các đơn vị, từ năm 2009 đến tháng 6-2020, qua công tác tự kiểm tra nội bộ chưa phát hiện và xử lý tham nhũng trường hợp nào.

Từ 1-6-2009 đến 1-6-2020, các đơn vị thanh tra trên toàn TP đã tổ chức triển khai 3.136 cuộc thanh tra, đã kết luận 3.078 cuộc thanh tra. Qua thanh tra, đã phát hiện sai phạm trên 3.597 tỉ đồng, kiến nghị thu hồi nộp ngân sách nhà nước trên 2.380 tỉ đồng, kiến nghị khác trên 1.185 tỉ đồng; kiến nghị thu hồi trên 2.000 ha đất, xử lý hành chính 523 tập thể và 579 cá nhân; xử phạt vi phạm hành chính trên 375 tỉ đồng; chuyển cơ quan điều tra 57 cuộc.

Cũng trong thời gian đó, các cơ quan hành chính của TP đã tiếp 237.109 lượt công dân; tiếp nhận và xử lý 230.960 đơn các loại (khiếu nại 45.988 đơn, tố cáo 23.300 đơn, kiến nghị, phản ảnh 161.672 đơn); thụ lý và giải quyết 18.160/18.319 vụ khiếu nại và 6.612/6.647 vụ tố cáo thuộc thẩm quyền.

Qua giải quyết khiếu nại, tố cáo đã kiến nghị thu hồi 22,5 tỉ đồng và 17,5 ha đất; kiến nghị trả lại quyền lợi cho công dân 43,8 tỉ đồng và 3,7 ha đất; kiến nghị điều chỉnh 109 phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng; bán bổ sung 8 nhà tái định cư, thu hồi và điều chỉnh 31 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; xử lý về hành chính 229 tập thể và 389 cá nhân; chuyển cơ quan điều tra 30 vụ

Về kết quả điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, Công an TP đã thụ lý điều tra: 256 vụ/627 bị can (trong đó, khởi tố: 240 vụ/610 bị can). Đã giải quyết: 221 vụ/601 bị can (Đình chỉ điều tra: 9 vụ/13 bị can; Tạm đình chỉ điều tra: 6 vụ/10 bị can; Kết thúc điều tra, chuyên Viện Kiểm sát đề nghị truy tố: 206 vụ/578 bị can). Hiện đang điều tra 35 vụ/26 bị can. Viện Kiểm sát nhân dân TP thụ lý 207 vụ/579 bị can. Truy tố, chuyển Tòa: 204 vụ/568 bị can. Đình chỉ: 3 vụ/11 bị can.

Tòa án nhân dân TP đã xét xử sơ thẩm 352 vụ/1059 bị cáo; giải quyết: 342 vụ/1023 bị cáo (trong đó: xét xử 265 vụ 777 bị cáo, trả hồ sơ điều tra bổ sung 77 vụ 246 bị cáo); đang giải quyết 10 vụ 36 bị cáo. Số tài sản thất thoát trong các vụ án tham nhũng đã xét xử là trên 15.687 tỉ đồng...

Tuy vậy, theo UBND TP Hà Nội, dự báo tình hình tham nhũng trên địa bàn vẫn diễn biến phức tạp và tiềm ẩn trong nhiều lĩnh vực như: tín dụng, ngân hàng; quản lý, sử dụng đất đai, giải phóng mặt bằng; đầu tư xây dựng; tài chính, thuế... với tính chất ngày càng phức tạp; thủ đoạn tinh vi hơn; phạm vi, lĩnh vực ngày càng rộng.

Đặc biệt, vẫn còn dư luận về tình trạng nhũng nhiễu của một bộ phận cán bộ, công chức trong thực thi công vụ, nhiệm vụ. Một số vụ tham nhũng được phát hiện trong lĩnh vực y tế, thực hiện chế độ chính sách người có công đã gây bức xúc dư luận; Đã xuất hiện tình trạng tham nhũng có tính lợi ích nhóm trong một số lĩnh vực… (Nld.com.vn 17/4, B.H.Thanh)Về đầu trang

Quảng Bình: Trước nghỉ hưu 3 ngày, Giám đốc Sở ký tuyển dụng 8 biên chế giáo viên

Ngày 16-4, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Bình cho biết vừa có công văn gửi Sở GD-ĐT, yêu cầu kiểm tra, làm rõ việc ông Đinh Quý Nhân - nguyên Giám đốc Sở GD-ĐT - đã ký 8 quyết định tuyển dụng vào những ngày cuối nhiệm kỳ mà không thông qua Sở Nội vụ.

Công văn trên do ông Hồ An Phong, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình, ký, yêu cầu báo cáo rõ sự việc cho UBND tỉnh trước ngày 25-4.

Theo phản ánh, cuối năm 2020, ông Đinh Quý Nhân đã ký quyết định tuyển dụng 8 biên chế là giáo viên và nhân viên cho các trường trực thuộc trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.

Các quyết định tuyển dụng này được ông Đinh Quý Nhân ký vào ngày 28-12-2020. Trong khi đó, ông Nhân lại chính thức nghỉ hưu từ ngày 1-1-2021 - tức là chỉ 3 ngày trước khi kết thúc nhiệm kỳ và bàn giao công việc.

Đáng nói, các quyết định tuyển dụng trên được ông Đinh Qúy Nhân ký khi chưa thông qua sự thẩm định, phê duyệt của Sở Nội vụ tỉnh Quảng Bình.

Theo Sở GD-ĐT tỉnh Quảng Bình, vào các ngày 11-11 và 28-12-2020, ông Đinh Quý Nhân đã tổ chức họp nội bộ liên quan đến việc ký các quyết định tuyển dụng trên. Các phòng liên quan của Sở GD-ĐT đều không đồng ý với phương án tuyển dụng 8 trường hợp này vì chưa đúng quy định nhưng ông Nhân vẫn quyết định ký tuyển dụng.

Ông Nhân cho rằng mình làm đúng khi nói Nghị định 115/2020 có khoản 2 điều 67 cho phép thực hiện tiếp những kế hoạch đã được phê duyệt trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày nghị định mới có hiệu lực, trong khi kế hoạch tuyển dụng của Sở GD-ĐT năm 2020 đã được Sở Nội vụ thẩm định và phê duyệt tuyển 74 chỉ tiêu biên chế .

Theo ông Nhân, trong kế hoạch này có điều khoản Giám đốc Sở GD-ĐT được quyết định việc tuyển dụng bổ sung đối với các trường hợp có kết quả tuyển dụng thấp hơn liền kề với các trường hợp trúng tuyển trong trường hợp có gian lận, hoặc ngành giáo dục phát sinh nhu cầu tuyển dụng mới trong năm 2020. Và 8 biên chế này rơi vào trường hợp phát sinh mới.

Trong khi đó, Sở Nội vụ tỉnh Quảng Bình cho biết theo quy định thì việc Sở GD-ĐT tỉnh tự tuyển dụng mà không thông qua Sở Nội vụ là không đảm bảo về quy trình. (Nld.com.vn 17/4, Hoàng Phúc)Về đầu trang

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

Khai trương Cổng dịch vụ công Bộ Quốc phòng

Chiều ngày 16/04/2021, Bộ Quốc phòng chính thức khai trương Cổng dịch vụ công, với mục tiêu đẩy mạnh cải cách, minh bạch hóa các thủ tục hành chính tại Bộ Quốc phòng, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, góp phần xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính và hành động.

Cổng dịch vụ công Bộ Quốc phòng do Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội (Viettel) phối hợp xây dựng và phát triển, cung cấp 29 dịch vụ công mức độ 3, mức độ 4 cho người dân, doanh nghiệp, và tổ chức tại địa chỉ: http://dichvucong.mod.gov.vn.

Hệ thống thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính; các thủ tục hành chính tập trung vào 06 lĩnh vực gồm: báo chí, quản lý vật liệu nổ, mật mã dân sự, chứng thực điện tử, chính sách quân đội và công nghệ thông tin. Đặc biệt, hệ thống đáp ứng yêu cầu liên thông, tích hợp và cung cấp các dịch vụ công trực tuyến của Bộ Quốc phòng trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia.

Cổng dịch vụ công Bộ Quốc phòng giúp người dân, doanh nghiệp, tổ chức có thể nộp hồ sơ online, thanh toán phí, lệ phí trực tuyến, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại. Người nộp hồ sơ có thể quản lý toàn bộ hồ sơ giao dịch với cơ quan quản lý nhà nước; theo dõi tiến trình xử lý hồ sơ, nhận và quản lý kết quả trực tuyến. Đồng thời, trên Cổng dịch vụ công, công dân có thể gửi phản ánh kiến nghị và đánh giá mức độ hài lòng liên quan đến việc giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công. Toàn bộ chỉ số hài lòng của người dân và kết quả xử lý hồ sơ trực tuyến của Bộ Quốc phòng sẽ được đồng bộ lên Cổng dịch vụ công Quốc gia, và sẽ được đánh giá bởi Văn phòng Chính phủ; nêu cao tinh thần phục vụ công dân.

Ngoài ra, hệ thống là cánh tay đắc lực giúp các cơ quan chức năng trực thuộc Bộ Quốc phòng dễ dàng theo dõi toàn bộ tiến trình xử lý công việc, nhanh chóng ra quyết định dựa trên các báo cáo phân tích tổng quan. Hệ thống lưu trữ, tra cứu thông tin nhanh chóng thuận lợi, đảm bảo an toàn thông tin tối đa. (Cafef.vn 17/4, Nhã Mi)Về đầu trang

QUẢN LÝ NGÂN SÁCH

Quý 1/2021: Giải ngân đầu tư công thấp, vốn ODA chưa đụng tới

Bộ Tài chính vừa có báo cáo Chính phủ về tình hình thanh toán vốn đầu tư nguồn ngân sách nhà nước quý 1/2021. Theo đó, ước 3 tháng vừa qua chỉ giải ngân được hơn 60.700 tỷ đồng vốn đầu tư công, chỉ đạt gần 12% kế hoạch cả năm (hơn 508.258 tỷ đồng đầu tư công cho năm nay).

Đặc biệt, vốn nước ngoài gần như chưa giải ngân được, khi tỷ lệ giải ngân 3 tháng qua chỉ đạt 0,66%. Một số bộ ngành, địa phương có tỷ lệ giải ngân cao như: Thái Bình (43,2%), Bộ Công an (31,6%), Bắc Ninh (30,2%), Hưng Yên (28,6%), Thanh Hóa (27,7%), Hà Nam (27,6%)… Tuy nhiên, có tới 31 bộ, cơ quan trung ương chưa giải ngân kế hoạch vốn.

Bộ Tài chính lý giải, có tình trạng trên là do 3 tháng đầu năm các bộ ngành, địa phương vẫn chủ yếu tập trung giải ngân nốt phần vốn năm 2020 kéo dài sang năm 2021; một số dự án lớn đang điều chỉnh các thủ tục đầu tư, đang triển khai đấu thầu; vướng giải phóng mặt bằng...

Đối với dự án sử dụng vốn vay ODA, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, Bộ Tài chính cho tằng, vốn giải ngân thấp chủ yếu do ảnh hưởng của dịch COVID-19, dẫn tới ngưng trệ giải ngân do không có khối lượng, hoặc có khối lượng cũng chậm được xác nhận (do nhân sự quản lý chưa thể sang Việt Nam).

Do đó, Bộ Tài chính tiếp tục đề nghị Bộ KH&ĐT rà soát số vốn kế hoạch năm 2021 còn lại đến nay chưa phân bổ chi tiết của các bộ ngành, địa phương báo cáo Thủ tướng xem xét, quyết định đối với các đối tượng thuộc thẩm quyền.

Bộ Tài chính cũng yêu cầu các bộ ngành, địa phương chỉ đạo các chủ đầu tư, ban quản lý dự án đẩy nhanh tiến độ thi công công trình, dự án; tổng hợp danh mục dự án và số vốn năm 2020 kéo dài sang năm 2021 gửi Bộ Tài chính và Bộ KH&ĐT. (Tienphong.vn 18/4, Lê Hữu Việt) Về đầu trang

Thúc đẩy giải ngân đầu tư công, tạo động lực cho tăng trưởng

Cùng với lực đẩy từ xuất khẩu và tiêu dùng, đầu tư công được xem là một trong những bánh xe quan trọng của “cỗ xe tam mã” để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế năm 2021. Tuy nhiên, tốc độ giải ngân nguồn vốn này trong những tháng đầu năm vẫn còn khá chậm.

Tình hình giải ngân tổng kế hoạch vốn đầu tư nguồn ngân sách nhà nước, ước thanh toán từ đầu năm đến hết tháng 3 là hơn 66 nghìn tỷ đồng, đạt 11,7% kế hoạch. Đối với giải ngân vốn kế hoạch các năm trước kéo dài chuyển sang năm 2021 là 5,2 nghìn tỷ đồng, đạt 9,43% kế hoạch. Riêng đối với nguồn vốn kế hoạch năm 2021, ước đến hết tháng 3 giải ngân đạt hơn 60,7 nghìn tỷ đồng, bằng 11,95% kế hoạch.

Số liệu từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, đến nay, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công của hầu hết các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương đạt dưới 10%.

Lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá, giải ngân vốn ngân sách Nhà nước 3 tháng đầu năm 2021 khá thấp, chưa đạt yêu cầu chủ yếu do trong 3 tháng đầu năm các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương tập trung hoàn thiện hồ sơ thanh toán, giải ngân vốn ngân sách nhà nước năm 2020 và làm thủ tục kéo dài kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước năm 2020 sang năm 2021.

Cùng với đó, tháng 2/2021 trùng với kỳ nghỉ dịp Tết Nguyên đán và dịch Covid-19 bùng phát trở lại tại một số địa phương gây ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ thi công; đồng thời, thách thức lớn nhất hiện nay là giải ngân vốn nước ngoài đạt 0,66% kế hoạch (gần như chưa giải ngân), thấp hơn nhiều so với cùng kỳ năm 2020 (4,99%).

Nhằm thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư ngân sách Nhà nước, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế. Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng yêu cầu các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương tập trung thực hiện các giải pháp: đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến đất đai, tài nguyên; đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ thi công; thực hiện nghiệm thu, lập hồ sơ thanh toán ngay khi có khối lượng.

Cùng với đó, các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương cần rà soát, điều chuyển kế hoạch vốn giữa các dự án chậm giải ngân sang các dự án có tiến độ giải ngân tốt, còn thiếu vốn; đồng thời, thành lập Tổ công tác thúc đẩy giải ngân vốn trong từng bộ, địa phương để xử lý các điểm nghẽn trong giải ngân vốn đầu tư công gắn với trách nhiệm người đứng đầu.

Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng lưu ý, các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương cần đặc biệt quan tâm, chú ý và chịu trách nhiệm trong việc thẩm định, phê duyệt tổng mức đầu tư của các dự án đầu tư từ tất cả các nguồn vốn, trong đó có các dự án đầu tư công.

Theo ông Lê Tuấn Anh, Phó vụ trưởng Vụ Đầu tư (Bộ Tài chính), một trong những nguyên nhân khiến việc giải ngân chậm là giải phóng mặt bằng. Hiện việc này gặp nhiều khó khăn, vướng mắc về đơn giá, phương án đền bù, khó khăn trong di dời các công trình tiện ích... Hơn nữa, cũng có tình trạng chủ đầu tư chưa kiên quyết trong việc đôn đốc nhà thầu triển khai thi công dẫn đến công việc còn trì trệ; các tháng đầu năm chưa giải ngân được nhiều.

Ngoài ra, các dự án sử dụng vốn vay ODA, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài chịu tác động nặng nề của đại dịch COVID-19 do hầu hết các hoạt động đều gắn với yếu tố nước ngoài từ khâu nhập máy móc, thiết bị cho đến huy động chuyên gia, nhân công, nhà thầu nước ngoài, tư vấn giám sát, thống nhất với nhà tài trợ đối với từng hoạt động và kế hoạch của dự án,... Các lý do này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến độ thực hiện của phần lớn các dự án ODA. Hoạt động giải ngân do đó cũng ngưng trệ do không có khối lượng hoặc nếu có khối lượng thì cũng chậm được xác nhận, ông Lê Anh Tuấn đánh giá.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu thì cho rằng, đầu tư công rất quan trọng trong thời điểm hiện tại khi nền kinh tế bị tác động bởi đại dịch Covid-19. Đây là tiền đề quan trọng để tiếp tục vực dậy kinh tế trong đại dịch. Do đó, ông Nguyễn Trí Hiếu nhấn mạnh cần phải tạo mọi điều kiện để nhanh chóng giải ngân vốn đầu tư công. (VOV.vn 17/4, Trần Ngọc)Về đầu trang

SAI PHẠM ĐIỂN HÌNH

Vụ lạm thu phí làm căn cước gắn chíp ở Hải Phòng: Đình chỉ thêm 3 cán bộ công an

Ngày 16/4, Công an Hải Phòng tạm đình chỉ thêm Đội trưởng, Phó đội trưởng Đội Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội - Công an huyện Tiên Lãng và Trưởng Công an xã Tiên Minh.

Cả 3 trường hợp nói trên đã phải tạm dừng công việc để xác minh, làm rõ trách nhiệm có liên quan đến việc thu lệ phí làm căn cước công dân gắn chíp sai quy định tại xã Tiên Minh, huyện Tiên Lãng.

Như đã đưa tin, Chủ tịch UBND xã Tiên Minh (huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng) đã ký quyết định tạm đình chỉ công tác 2 công an viên xã liên quan vụ thu phí làm thẻ căn cước công dân (CCCD) gắn chíp cao hơn quy định.

Theo đó, 2 công an viên xã Tiên Minh bị tạm đình chỉ công tác 15 ngày (từ 8/4) là ông Vũ Văn Bảo và ông Bùi Văn Thoại. Văn bản của UBND xã Tiên Minh nêu rõ, ông Bảo và ông Thoại có trách nhiệm bàn giao đầy đủ mọi công việc có liên quan trước khi tạm đình chỉ công tác.

Trước đó, qua xác minh của cơ quan chức năng, tại xã Tiên Minh (huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng) có tình trạng cán bộ công an bán chuyên trách xã Tiên Minh thu 100.000 đồng tiền lệ phí làm căn cước công dân, đúng như người dân phản ánh. (Vtv.vn 17/4)Về đầu trang

THẾ GIỚI

Hơn 50% số “hộ chiếu vàng” ở CH Cyprus được cấp trái phép

Hơn một nửa số hộ chiếu mà Cộng hòa Cyprus cấp cho các nhà đầu tư theo chương trình "hộ chiếu vàng" là trái quy định pháp luật. Đây là kết luận trong một cuộc điều tra của Chính phủ Cyprus.

Trong giai đoạn từ năm 2013 - 2019, hơn 3.000 công dân nước ngoài có khoản đầu tư tối thiểu 2 triệu Euro (khoảng 2,2 triệu USD) vào bất động sản hoặc một công ty có trụ sở tại Cyprus đã được cấp "hộ chiếu vàng" tại đảo quốc này. Chính phủ Cyprus đã ngừng chương trình đầu tư định cư này vào năm 2020 sau một vụ bê bối tham nhũng làm ảnh hưởng đến uy tín của Chính phủ.

Trao đổi với báo giới vào ngày 16/4, quan chức phụ trách cuộc điều tra Myron Nicolatos cho biết, 51,81% số hộ chiếu cấp cho các nhà đầu tư nước ngoài ở nước này là bất hợp pháp. Một số trường hợp thuộc diện được cấp hộ chiếu Cyprus theo quy định pháp luật, nhưng không đáp ứng các tiêu chí được áp dụng ở thời điểm nộp đơn xin nhập tịch.

Cuộc điều tra xem xét 2.478 hộ chiếu được cấp trong giai đoạn 2007 - 2016 và hơn 400 hộ chiếu cấp đến năm 2020 bị nghi ngờ.

Cyprus đã thúc đẩy chương trình đầu tư định cư để giải cứu nền kinh tế sau cuộc khủng hoảng tài chính vào năm 2013. Nhờ vậy, nước này đã thu được 8 tỷ USD để phát triển kinh tế.

Tuy nhiên, Liên minh châu Âu (EU) thường xuyên chỉ trích chương trình nói trên do lo ngại nguy cơ nước thành viên Cyprus có thể trở thành "sân sau" để tội phạm thâm nhập vào phần còn lại của EU. (Vtv.vn 17/4)Về đầu trang

Nga bắt giữ quan chức lãnh sự quán Ukraine vì thu thập tài liệu mật về Moscow

Cơ quan An ninh Liên bang Nga đã bắt giữ một quan chức thuộc lãnh sự quán Ukraine ở Saint Petersburg, vì người này được cho là đã gặp một công dân Nga để nhận tài liệu mật.

Nhà ngoại giao, được xác định là Alexander Sosonyuk, bị bắt tại thành phố Saint Petersburg hôm thứ Sáu, Cơ quan An ninh Liên bang (FSB) cho biết.

Vào thời điểm bị bắt, Sosonyuk “đang gặp một công dân Nga để nhận thông tin mật từ cơ sở dữ liệu của FSB và cơ quan thực thi pháp luật”.

“Hành động này không phù hợp với tư cách của một nhân viên ngoại giao, và thể hiện sự công khai thù địch với Nga”, FSB cho biết thêm.

Hiện chưa rõ Moscow sẽ làm gì với Sosonyuk, nhưng quan chức này có khả năng sẽ bị trục xuất khỏi Nga.

Các thông tin chi tiết về vụ bắt bớ - bao gồm thông tin về người giao dịch với Sosonyuk - vẫn chưa được tiết lộ. (Tienphong.vn 18/4, Minh Hạnh)Về đầu trang./.

 

Trung tâm Tin học - Công báo

Các tin khác

Lượt truy cập: 12.089.612 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này