Bản tin cải cách hành chính ngày 27/7/2020

16:52, Thứ Hai, 27-7-2020

Xem với cỡ chữ : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1. TPHCM: Liên thông thủ tục cấp lý lịch tư pháp và giấy phép lao động

2. Phấn đấu mỗi gia đình ở Tây Ninh có một địa chỉ số

3. Quảng Ninh: Hiệu quả từ áp dụng ISO trong cải cách hành chính

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

4. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết liệt đẩy mạnh dịch vụ công trực tuyến mức 3, 4

5. Cấp bản sao giấy khai sinh có phù hợp với Luật hộ tịch?

6. Bộ TN&MT: Tăng cường minh bạch trong hoạch định và thực thi chính sách pháp luật

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

7. Đưa ra khỏi bộ máy cán bộ, công chức thoái hóa, biến chất

8. Hà Nội mở rộng chống tham nhũng ngoài nhà nước, sẽ còn nhiều Nhật Cường lộ mặt

TIN THẾ GIỚI

9. Indonesia tự xét lại chính sách thu hút đầu tư

         

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

TPHCM: Liên thông thủ tục cấp lý lịch tư pháp và giấy phép lao động

“Sở Tư pháp TP.HCM cùng Sở LĐ-TB&XH TP.HCM đã trình và UBND TP đã ban hành Quy chế thực hiện liên thông nhóm thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp và cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại TP.HCM”.

Tại hội nghị giao ban với các đơn vị trực thuộc và họp báo định kỳ sáu tháng đầu năm 2020 do Sở Tư pháp TP.HCM tổ chức vào ngày 24-7, bà Phan Thị Bình Thuận (Phó Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM) cho biết như trên. Với nhiều nội dung mới, quy chế này đem lại kết quả tốt, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân.

Trình bày rõ hơn, bà Hoàng Thị Hương Lan, Trưởng phòng Lý lịch tư pháp, cho biết quy chế này được dự thảo từ tháng 3-2019. Qua nhiều lần góp ý và thẩm định, Hội đồng tư vấn thẩm định đã họp và thống nhất thông qua dự thảo.

Trên cơ sở ý kiến góp ý của các cơ quan, đơn vị có liên quan, Sở Tư pháp và Sở LĐ-TB&XH đã hoàn chỉnh dự thảo. Ngày 7-7-2020, UBND TP.HCM đã ban hành Quyết định số 16 về quy chế này.

Theo bà Lan, quy chế giúp cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa; giảm giấy tờ, rút ngắn thời gian giải quyết, tiết kiệm chi phí, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người dân. Quy chế tạo ra cơ sở để bảo đảm thực hiện cơ chế liên thông trong việc giải quyết hồ sơ yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp và cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài đang làm việc tại TP.HCM theo hướng tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại của người nộp hồ sơ... Cụ thể, khi thực hiện liên thông thủ tục hành chính, thời gian giải quyết giảm từ 20 ngày làm việc xuống còn 17 ngày làm việc (giảm 15% thời gian so với thực hiện riêng lẻ từng thủ tục hành chính).

Tham gia hội nghị, nhiều phòng công chứng cho biết đại dịch COViD-19 đã gây ảnh hưởng đến hoạt động của hầu hết các tổ chức hành nghề công chứng. Theo đó, số lượng giao dịch, hồ sơ đều giảm, kéo theo việc sụt giảm doanh thu. Các phòng công chứng đang dần ổn định nhưng vẫn còn nhiều khó khăn.

Các phòng công chứng cho biết các phòng sẽ tiếp tục nâng cao chất lượng phục vụ, tổ chức các lớp bồi dưỡng cho công chứng viên, các bộ phận nghiệp vụ để nhận diện giấy tờ giả, tránh tình trạng giả mạo giấy tờ…

Đáng chú ý, Phòng công chứng số 6 nêu vài ý kiến có liên quan đến giấy tờ, văn bản chứng thực không đúng quy định. Điều 7 Thông tư 01/2020 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 23/2015 (về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch) có quy định về hủy bỏ giá trị pháp lý của giấy tờ, văn bản chứng thực không đúng. Tuy nhiên, điều này chỉ quy định hủy bỏ giá trị pháp lý của các giấy tờ, văn bản chứng thực do Phòng Tư pháp và UBND cấp xã chứng thực mà không quy định đối với các giấy tờ, văn bản do các tổ chức hành nghề công chứng chứng thực.

Trao đổi lại, đại diện Phòng bổ trợ tư pháp cho biết Điều 7 Thông tư 01/2020 quy định về việc hủy bỏ giá trị pháp lý của giấy tờ, văn bản chứng thực không đúng quy định của pháp luật. Trước đây, trong trường hợp các cơ quan chứng thực tác nghiệp chưa đúng thì không có cơ quan nào xem xét để ra các quyết định về pháp lý đối với những văn bản này. Vì lý do đó mà những văn bản đó vẫn tồn tại, tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Vì vậy, Điều 7 Thông tư 01/2020/TT-BTP đã quy định về cơ chế hủy bỏ giá trị pháp lý của các văn bản chứng thực. Theo đó, có hai người được hủy bỏ: 1. Chủ tịch UBND cấp huyện có trách nhiệm ban hành quyết định hủy bỏ giá trị pháp lý của giấy tờ, văn bản chứng thực do Phòng Tư pháp chứng thực không đúng; 2. Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm ban hành quyết định hủy bỏ giá trị pháp lý của giấy tờ, văn bản chứng thực không đúng đối với giấy tờ, văn bản do cơ quan mình chứng thực.

Như vậy, đối với các văn bản, giấy tờ do các tổ chức hành nghề công chứng chứng thực không đúng, hiện chưa có cơ chế để hủy bỏ giá trị pháp lý. Đại diện Phòng bổ trợ tư pháp cho biết sở sẽ ghi nhận, báo cáo với Bộ Tư pháp về việc này. (Plo.vn 25/7, Yến Châu)Về đầu trang

Phấn đấu mỗi gia đình ở Tây Ninh có một địa chỉ số

Ngày 24/7, Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng và đoàn công tác đã có buổi làm việc với tỉnh Tây Ninh về định hướng phát triển ngành Thông tin-Truyền thông tỉnh Tây Ninh đến năm 2025. Trong đó, nội dung nổi bật là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để chuyển đổi số, xây dựng chính quyền số gắn với đô thị thông minh.

Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh Dương Văn Thắng, mạng bưu chính chuyển phát đã phát triển mạnh trên địa bàn tỉnh những năm gần đây. Hiện có 8 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bưu chính tại tỉnh; doanh thu năm 2019 đạt trên 116 tỷ đồng, 6 tháng đầu năm 2020 đạt trên 48 tỷ đồng. Mạng lưới bưu chính công ích hoạt động cung ứng các dịch vụ công trên địa bàn tỉnh luôn đáp ứng được nhu cầu của người dân, nhất là dịch vụ tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích.

Mạng viễn thông phát triển mạnh, rộng khắp đến vùng sâu, vùng xa. Hiện trên địa bàn tỉnh có 6 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực viễn thông; doanh thu viễn thông năm 2019 đạt 1.756 tỷ đồng, 6 tháng đầu năm 2020 đạt 870 tỷ đồng. Có 3 doanh nghiệp viễn thông gồm VNPT Tây Ninh, Viettel Tây Ninh, và MobiFone Tây Ninh được UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch hạ tầng.

Ngày 3/7/2020, UBND tỉnh Tây Ninh đã khai trương Trung tâm giám sát, điều hành đô thị thông minh (IOC), nhằm cung cấp một số dịch vụ đô thị thông minh cho người dân theo hướng dẫn của Bộ Thông tin và Truyền thông như: dịch vụ phản ánh hiện trường, giám sát an ninh trật tự, giám sát an toàn giao thông, giám sát thông tin trên môi trường mạng, hành chính công.

Tỉnh Tây Ninh cũng đang xem xét phê duyệt Đề án xây dựng chính quyền điện tử hướng tới chính quyền số đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030, trong đó có lồng ghép các nội dung theo "Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến 2025, định hướng đến năm 2030" theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ, Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Trước mắt, tỉnh giao Sở Thông tin và Truyền thông thực hiện chuyển đổi số cho một số ngành trọng điểm của tỉnh như: tài nguyên và môi trường, giáo dục, y tế, xây dựng, giao thông... hoàn thành trong năm 2020.

Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng đánh giá cao tỉnh Tây Ninh đã quan tâm phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý, cải cách thủ tục hành chính công và đưa vào hoạt động Trung tâm giám sát, điều hành đô thị thông minh của tỉnh; hướng tới xây dựng chính quyền số gắn với đô thị thông minh.

Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng đề nghị UBND tỉnh Tây Ninh quan tâm triển khai thực hiện nhanh Chương trình kỹ thuật số quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành, trong quý 3 hoặc chậm nhất cuối năm 2020; Bộ Thông tin Truyền thông sẵn sàng hỗ trợ tỉnh.

Nội dung chuyển đổi số cần tập trung ưu tiên triển khai vào một số trọng tâm như: Thanh toán điện tử trên mạng điện thoại di động, thương mại điện tử, trực tuyến khám chữa bệnh từ xa, chính quyền số, sản xuất thông minh, du lịch thông minh...

Tỉnh cần quan tâm tạo điều kiện, hỗ trợ cho các doanh nghiệp phát triển hạ tầng viễn thông, phấn đấu mỗi gia đình có một địa chỉ số để thuận tiện trong giao dịch điện tử; kế đến là quan tâm phát triển dịch vụ công trực tuyến lên mức độ 4 để phục vụ tốt hơn cho doanh nghiệp, người dân; tỉnh cũng cần quan tâm đầu tư cho an toàn an ninh mạng, bảo vệ hệ thống; đột phá mạnh công nghệ sáng tạo bằng công nghệ số... (TTXVN/Bnews.vn 25/7, Lê Đức Hoảnh)Về đầu trang

Quảng Ninh: Hiệu quả từ áp dụng ISO trong cải cách hành chính

Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9000 là công cụ hỗ trợ đắc lực phục vụ cải cách hành chính (CCHC). Quảng Ninh đã áp dụng hiệu quả vào hoạt động tại cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống hành chính nhà nước trên địa bàn. Nhờ vậy, các chỉ số về CCHC của tỉnh luôn đứng trong top đầu của cả nước.

Để nâng cao hiệu quả công tác CCHC, năm 2005, Quảng Ninh áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2000 vào hoạt động của một số cơ quan hành chính (CQHC) nhà nước trên địa bàn tỉnh. Đến năm 2014, tiêu chuẩn được nâng cấp, UBND tỉnh tiếp tục phê duyệt kế hoạch xây dựng, áp dụng, duy trì hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2008.

Sau khi phiên bản TCVN 9001:2015 có hiệu lực, UBND tỉnh cũng nhanh chóng chỉ đạo các CQHC nhà nước áp dụng phiên bản mới vào hoạt động. Đến ngày 30/9/2019, 100% sở, ban, ngành, UBND cấp huyện và 177 xã, phường, thị trấn của tỉnh đã thực hiện chuyển đổi sang hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2015, vượt trước thời gian quy định của Bộ KH&CN gần 2 năm (trước 30/6/2021).

Theo đó, 100% quy trình thủ tục hành chính (TTHC) thuộc lĩnh vực giải quyết của các sở, ban, ngành, UBND cấp huyện và các đơn vị trực thuộc đã xây dựng chuyển đổi theo TCVN ISO 9001:2015 và công bố, niêm yết, công khai tại các trung tâm hành chính công.

Ông Hoàng Trọng Nghĩa, Chi cục phó Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (Sở KH&CN), cho biết: Bản chất của ISO 9001:2015 là một phương pháp làm việc khoa học, được xem như một công nghệ quản lý mới. ISO 9001:2015 coi trọng việc tiếp cận theo quá trình trong giải quyết một công việc cụ thể. Ưu điểm của tiếp cận theo quá trình là rõ việc (làm việc gì), rõ người (ai làm, trách nhiệm, quyền hạn như thế nào) và cách làm (làm theo chỉ dẫn nào về luật pháp và nghiệp vụ), đồng thời tăng cường khả năng ứng dụng CNTT trong quản lý, điều hành, xử lý tác nghiệp tại các CQHC nhà nước.

Qua kiểm tra, đánh giá cho thấy, việc chuyển đổi áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2015 vào hoạt động của các CQHC từ cấp tỉnh đến cấp xã đã giúp các đơn vị tự kiểm tra, giám sát, đánh giá mức độ, thời gian hoành thành công việc, nâng cao khả năng giải quyết công việc theo đúng trình tự, thời gian.

Nhiều sở, ngành đã rút ngắn rất nhiều về thời gian giải quyết TTHC, số lần đi lại của cá nhân, tổ chức; giảm trung bình 40% thời gian so với quy định của Trung ương. Lĩnh vực đầu tư giảm 45% thời gian, hay TN&MT giảm từ 25,3-59,4%...

Bên cạnh đó, phương pháp chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo đã từng bước đổi mới theo hướng hiện đại hóa, giúp lãnh đạo đơn vị kiểm soát chặt chẽ quá trình xử lý công việc, đảm bảo theo đúng tiến độ, quy định của Nhà nước. Trách nhiệm của cán bộ, công chức được phân công, phân cấp rõ ràng, tránh tình trạng đùn đẩy; trình độ về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng được nâng cao.

Kết quả đạt được từ việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001 trong suốt hơn 15 năm qua đã giúp các chỉ số về CCHC của Quảng Ninh luôn đứng trong top đầu của cả nước. Năm 2019 là năm thứ 3 liên tiếp Quảng Ninh giữ vị trí dẫn đầu 63 tỉnh, thành phố về Chỉ số CCHC (PAR INDEX); Chỉ số đo lường sự hài lòng của người dân về sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) của tỉnh vươn lên vị trí dẫn đầu toàn quốc. Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) năm 2019 của tỉnh xếp thứ 3/63 tỉnh, thành phố.

"Thời gian tới, Quảng Ninh thực hiện tích hợp giữa các quy trình ISO và chính phủ điện tử, từng bước chuyển sang ISO điện tử. Tiếp tục đào tạo, tập huấn cho CQHC nhà nước trên địa bàn tỉnh về nhận thức, hướng dẫn, đánh giá nội bộ, giúp các đơn vị hiểu rõ hơn về tiêu chuẩn TCVN 9001:2015, để áp dụng có hiệu quả hơn, đảm bảo cho việc giải quyết TTHC đối với tổ chức, công dân được công khai, minh bạch, đúng thời gian, tránh phiền hà, nâng cao hiệu quả, hiệu lực của nền hành chính phục vụ" - Ông Nghĩa, cho biết thêm. (Baoquangninh.com.vn 27/7, Nguyễn Hoa)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết liệt đẩy mạnh dịch vụ công trực tuyến mức 3, 4

Nhiều biện pháp nhằm thúc đẩy cung cấp dịch vụ công trực tuyến đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) đưa ra để phát huy hơn nữa lợi ích và hiệu quả công việc của cơ quan nhà nước và người dân.

Thống kê của Trung tâm CNTT - Bộ VHTTDL cho thấy, hiện nay trong tổng số 248 thủ tục hành chính của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch, có 95 thủ tục thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ và  153 thủ tục liên quan đến các địa phương. Hầu hết các thủ tục hành chính được Bộ triển khai cung cấp trực tuyến mức độ cao đều có phát sinh hồ sơ với tỷ lệ lớn.

Theo yêu cầu của Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07/3/2019 về một số nhiệm vụ giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến năm 2025, tỷ lệ hồ sơ giải quyết trực tuyến trên tổng số hồ sơ thủ tục hành chính của từng bộ, ngành, địa phương cần đạt từ 20% trở lên. Với sự chỉ đạo quyết liệt của Lãnh đạo Bộ, sự quyết tâm triển khai đạt và vượt chỉ tiêu của Trung tâm CNTT- Bộ VHTTDL, đến nay Hệ thống Dịch vụ công trực tuyến của Bộ đã đáp ứng sẵn sàng cho 100% thủ tục hành chính cấp trung ương triển khai trực tuyến mức độ 4.

Trung bình mỗi năm, Bộ VHTTDL tiếp nhận 14,938 hồ sơ nộp trực tuyến qua hệ thống, đến thời điểm hiện tại, có 1.248 tài khoản doanh nghiệp và người dân đã đăng ký và được cấp trên hệ thống cung cấp dịch vụ công trực tuyến của Bộ. Tính riêng hai tháng 5, 6/2020, có 441 tài khoản đăng ký mới, trong đó phần lớn là tài khoản của doanh nghiệp.

Tính đến 15/7/2020, tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến mức 3,4 có phát sinh hồ sơ trực tuyến của Bộ đạt 44,1%.

Để phục vụ triển khai mở rộng cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức 4, Bộ VHTTDL đã tích hợp, kết nối với Cổng Dịch vụ công Quốc gia cung cấp và đăng ký 01 thủ tục: Cấp giấy chứng nhận đăng ký‎ quyền tác giả trên Cổng dịch vụ công quốc gia. Bộ đang tiếp tục rà soát và cung cấp Dịch vụ công mức 4, các dịch vụ công liên ngành trên Cổng dịch vụ công quốc gia.

Trong giai đoạn hiện nay, Bộ VHTTDL đang quyết liệt thực hiện các biện pháp để đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Cụ thể, Bộ tập trung tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ và rà soát để lựa chọn các thủ tục hành chính đưa lên dịch vụ công trực tuyến; nâng cấp, phát triển các hệ thống thông tin Cổng Dịch vụ công tại địa chỉ: https://dichvucong.bvhttdl.gov.vn/ phục vụ công dân/doanh nghiệp khai báo và nộp hồ sơ trực tuyến; hoàn thiện hệ thống thông tin Một cửa điện tử phục vụ cán bộ công chức/viên chức nhằm bảo đảm sẵn sàng tiếp nhận hồ sơ trực tuyến và xử lý hồ sơ hoàn toàn trên môi trường mạng.

Giai đoạn 2020-2021, Bộ cũng có kế hoạch tập trung triển khai Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu cấp bộ/ngành (LGSP), kết nối các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu để giảm thành phần hồ sơ phải nộp hoặc xuất trình khi thực hiện thủ tục trực tuyến. Đồng thời, tích cực triển khai các hoạt động hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tiếp cận, sử dụng các dịch vụ công trực tuyến hiệu quả.

Bên cạnh đó, trong toàn bộ quá trình cung cấp dịch vụ công, Bộ VHTTDL cũng chú trọng sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện dữ liệu điện tử. Điều này xuất phát từ bài toán hướng sử dụng dữ liệu điện tử, thực hiện cấp phép điện tử đối với những thủ tục hành chính có thể thực hiện theo phương thức điện tử, theo yêu cầu của Nghị định 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.

Để giảm hồ sơ giấy của người dân, doanh nghiệp phải xuất trình khi thực hiện thủ tục trực tuyến, đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu của ngành, Bộ đã tích hợp và sử dụng dữ liệu của các lĩnh vực khác, nhằm giải quyết nhanh chóng các thủ tục hành chính điện tử.

Cụ thể, Bộ VHTTDL đã phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện kết nối với cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp thông qua Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu NGSP. Nhờ đó, doanh nghiệp thay vì phải xuất trình giấy đăng ký thành lập doanh nghiệp khi thực hiện các thủ tục hành chính, việc kết nối với Hệ thống VNPOST giúp người dân/doanh nghiệp có thể đăng ký nộp và nhận kết quả hồ sơ tại nhà. Việc thanh toán các phí và lệ phí nộp hồ sơ cũng được thực hiện nhanh chóng qua thông qua việc kết nối với Cổng thanh toán Quốc gia. (Toquoc.vn 27/7)Về đầu trang

Cấp bản sao giấy khai sinh có phù hợp với Luật hộ tịch?

Bộ Tư pháp vừa ban hành thông tư số 04 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123 (năm 2015) quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 16-7-2020, thay thế thông tư số 15 (ngày 16-11-2015).

Việc ban hành thông tư 04 đã tháo gỡ một số khó khăn, vướng mắc về công tác hộ tịch như nhiều quy định thông thoáng hơn, giảm thủ tục, giấy tờ không cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi giải quyết các nội dung liên quan đến hộ tịch...

Tuy nhiên, vẫn còn một số quy định của thông tư 04 gây tranh cãi như cấp giấy độc thân phải ghi người dự định cưới; quy định về thay đổi, bổ sung hộ tịch nơi đã đăng ký khai sinh trước đây nhưng thẩm quyền này đã thay đổi hay quy định thiếu trường hợp thay đổi, bổ sung hộ tịch chỉ có thông tin người mẹ...

Đặc biệt, theo thông tư 04 thì từ ngày 16-7, cơ quan hộ tịch phải thực hiện việc cấp bản sao giấy khai sinh theo phôi mẫu do Nhà xuất bản Tư Pháp phát hành. Trong khi đó, Luật hộ tịch chỉ quy định về việc cấp trích lục hộ tịch chứ không quy định về cấp bản sao giấy khai sinh nên đã nảy sinh các vấn đề vướng mắc, bất cập sau:

Thứ nhất, thiếu căn cứ pháp lý: tại điều 9 Luật hộ tịch quy định: "Trích lục hộ tịch là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp nhằm chứng minh sự kiện hộ tịch của cá nhân đã đăng ký tại cơ quan đăng ký hộ tịch. Bản chính trích lục hộ tịch được cấp ngay sau khi sự kiện hộ tịch được đăng ký. Bản sao trích lục hộ tịch bao gồm bản sao trích lục hộ tịch được cấp từ cơ sở dữ liệu hộ tịch và bản sao trích lục hộ tịch được chứng thực từ bản chính".

Như vậy, việc mẫu trích lục khai sinh (bản sao) được thay thế bằng bản sao giấy khai sinh là chưa phù hợp với Luật hộ tịch, nói cách khác Luật hộ tịch không có giấy tờ nào gọi là bản sao giấy khai sinh.

Thứ hai, việc cấp bản sao giấy khai sinh gây khó khăn cho người dân: có thể khẳng định việc cấp trích lục khai sinh (bản sao) theo thông tư số 15 trước đây là rất khoa học, thuận tiện và đơn giản hóa thủ tục dựa trên tinh thần cải cách hành chính.

Qua 5 năm triển khai, thông tư 15 đã tạo điều kiện thuận lợi, giảm được nhiều chi phí cho người dân. Theo đó, khi người dân có yêu cầu thì cơ quan hộ tịch chỉ cần vào cơ sở dữ liệu hộ tịch in, xác nhận là có giá trị pháp lý và được phép sử dụng trong mọi giao dịch có liên quan, không cần phải có mẫu phôi tốn kém, rườm rà.

Thứ ba, không có cơ sở để thu lệ phí: theo điểm c, khoản 2, điều 5 thông tư số 85 (ngày 29-11-2019) của Bộ Tài chính quy định: Lệ phí hộ tịch là khoản thu đối với người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các công việc về hộ tịch theo quy định của pháp luật, không bao gồm việc cấp bản sao trích lục hộ tịch.

Như vậy, theo quy định hiện hành, việc cấp bản sao trích lục hộ tịch thì không thu phí. Trong khi đó, việc cấp bản sao giấy khai sinh theo thông tư 04 được hiểu sẽ phải thu phí, vì phải mua phôi mẫu từ nhà xuất bản nên khi cấp lại địa phương phải thu tiền để trả cho nhà xuất bản. Như vậy, việc thu tiền bản sao theo thông tư 04 là chưa phù hợp với quy định về thu phí hộ tịch hiện hành.

Ngoài ra, việc cấp bản sao giấy khai sinh theo thông tư 04 sẽ gây tốn kém rất lớn cho nguồn lực xã hội. Bởi vì khác với bản chính, số lượng bản sao phải in ấn, xuất bản sẽ rất lớn do cấp theo nhu cầu người dân. Vì thế, chi phí in phôi, tiền vận chuyển, bảo quản cũng tốn kém nhiều.

Thiết nghĩ, cơ quan có thẩm quyền cần sớm xem xét, điều chỉnh, sửa đổi những vướng mắc, bất cập nêu trên để quy định về trích lục hộ tịch được thực hiện thống nhất, chặt chẽ, đúng pháp luật, nhất là phải dựa trên tinh thần cải cách thủ tục hành chính.

Điều này không những bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người dân mà còn góp phần quan trọng vào việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, đặc biệt là giảm chi phí xã hội không cần thiết. (Tuoitre.vn 26/7, Vĩnh Linh)Về đầu trang

Bộ TN&MT: Tăng cường minh bạch trong hoạch định và thực thi chính sách pháp luật

6 tháng đầu năm, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã quán triệt đến toàn thể cán bộ, công chức trong Bộ về trách nhiệm nêu gương đối với người đứng đầu các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị và kỷ luật, kỷ cương hành chính; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng.

Bên cạnh đó, các đơn vị đã tiến hành rà soát, điều chỉnh, sửa đổi và ban hành: Quy chế dân chủ; Quy chế quản lý tài chính hàng năm theo quy định; Quy chế công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng tài sản nhà nước; Quy chế chi tiêu nội bộ; Quy chế quản lý và sử dụng tài sản công. Thực hiện tiết kiệm chi ngân sách Nhà nước; tiết kiệm sử dụng tài sản công của cơ quan, đơn vị; tiếp tục quán triệt tới các đơn vị thực hiện nghiêm túc Quyết định số 117-QĐ/BCSĐTNMT ngày 11/4/2014 của Ban Cán sự đảng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc quy định chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động. Các đơn vị trực thuộc Bộ đã tổ chức tổng kết công tác năm, kịp thời khen thưởng, tuyên dương các tập thể, cá nhân có thành tích công tác năm 2019, thực hiện đăng ký chỉ tiêu thi đua, khen thưởng của năm 2020 đối với cá nhân, tập thể tại các đơn vị.

Về việc chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức nhằm phòng ngừa tham nhũng, Bộ đã thực hiện Quyết định số 599/QĐ-BTNMT Quy chế quản lý công chức, viên chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Quyết định số 828/QĐ-BTNMT ngày 15/3/2018 quy định về trình tự, thủ tục và hồ sơ bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, điều động, điều động biệt phái, luân chuyển, thuyên chuyển công tác, thôi giữ chức danh lãnh đạo, quản lý đối với công chức, viên chức các đơn vị tổ chức thuộc Bộ. Hiện các đơn vị trực thuộc Bộ tiến hành xây dựng và thực hiện việc luân chuyển cán bộ lãnh đạo quản lý năm 2020 và tiếp tục thực hiện tốt việc chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc diện phải chuyển đổi theo quy định.

Cùng kỳ, khi xem xét, xử lý trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, do mình quản lý, phụ trách, tại Bộ chưa phát hiện trường hợp cán bộ, công chức của Bộ có hành vi tham nhũng; chưa có trường hợp nào phải xử lý, xem xét trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị khi có hành vi tham nhũng.

Việc thanh toán tiền lương từ ngân sách nhà nước 100% cho người lao động cũng đã được các đơn vị chi trả qua tài khoản theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Đối với các đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ đã và đang thực hiện việc chi trả lương, công lao động qua tài khoản, nhằm kiểm soát việc chi trả lương cho người lao động.

Về việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính (CCTTHC), Bộ đã ban hành Quyết định về việc ban hành Kế hoạch Kiểm soát thủ tục hành chính năm 2020; Quyết định về việc Ban hành Kế hoạch tổng kết chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020 và xây dựng tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2021-2030; tiếp tục thực hiện rà soát, hoàn thiện sửa đổi các quy chế: Quy chế Quản lý nhiệm vụ chuyên môn, Quy chế Kiểm tra, nghiệm thu, Quy chế Quản lý tài chính, Quy chế Quản lý tài sản công cho phù hợp với các quy định mới được Nhà nước ban hành. Hướng dẫn các đơn vị triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách về tài chính có hiệu lực từ ngày 01/01/2020 và điều hành dự toán ngân sách năm 2020 theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả. Hoàn thiện đồng bộ về cơ chế tài chính đối với các hoạt động của ngành tài nguyên môi trường; rà soát, cập nhật và hoàn thiện đồng bộ hệ thống văn bản quy định về quản lý tài chính, kế toán thuộc thẩm quyền của Bộ theo quy định. (Thanhtravietnam.vn 27/7, Lan Anh)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Đưa ra khỏi bộ máy cán bộ, công chức thoái hóa, biến chất

Có cơ chế kiểm soát hiệu quả đối với cán bộ, công chức khi thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra, điều tra, thi hành án, hải quan, thuế, quản lý thị trường… bảo đảm ngăn chặn cho được tình trạng lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, “vòi vĩnh”, “chung chi”...

Thực hiện Công điện số 724/CĐ-TTg ngày 17/6/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng trong hoạt động công vụ, Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận đã có văn bản yêu cầu các sở, ban, ngành tỉnh; UBND các huyện, thành phố khẩn trương, tập trung chỉ đạo triển khai hàng loạt biện pháp.

Theo đó, tiếp tục quán triệt thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về phòng, chống tham nhũng (PCTN), Luật PTCN năm 2018, các chỉ đạo của Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 22/4/2019 về việc tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc đến cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan, đơn vị mình.

Người đứng đầu sở, ban, ngành, địa phương phải gương mẫu, đi đầu trong việc thực hiện các quy định của Đảng, Nhà nước về PCTN. Nếu để xảy ra tiêu cực, tham nhũng tại đơn vị, cơ quan mình thì phải chịu trách nhiệm trước Tỉnh ủy, UBND tỉnh, phải coi đấu tranh PCTN là một nhiệm vụ chính trị thường xuyên, liên tục, lâu dài, đặc biệt quan trọng và làm tiêu chí để đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ hàng năm của từng cơ quan, đơn vị, địa phương.

Đẩy mạnh phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi tham nhũng, tiêu cực trong chính lực lượng chức năng và đội ngũ cán bộ, công chức thực thi pháp luật. Thực hiện nghiêm quy tắc ứng xử, quy trình chuyên môn nghiệp vụ của các cơ quan, đơn vị, trong đó cần quy định rõ ràng, minh bạch, cụ thể và có cơ chế kiểm soát hiệu quả đối với cán bộ, công chức khi thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra, điều tra, thi hành án, hải quan, thuế, quản lý thị trường… bảo đảm ngăn chặn cho được tình trạng lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, “vòi vĩnh”, “chung chi”, phục vụ động cơ cá nhân, vụ lợi trong thực thi công vụ.

Các sở, ban, ngành, địa phương tăng cường ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin để hạn chế tối đa việc tiếp xúc trực tiếp của cán bộ, công chức, viên chức với người dân, doanh nghiệp khi giải quyết công việc, tăng cường sử dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4. Triển khai rộng rãi hệ thống ghi âm, ghi hình, camera trực tuyến tại các địa điểm có tiếp xúc trực tiếp với người dân, doanh nghiệp và có bộ phận thường trực để theo dõi, giám sát thường xuyên. Công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng số điện thoại đường dây nóng để tiếp nhận các ý kiến phản ánh của người dân, doanh nghiệp về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức để có biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời vi phạm.

Người đứng đầu các sở, ban, ngành, địa phương phải tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát đối với các cơ quan, đơn vị, đặc biệt là cơ quan, lực lượng thực thi pháp luật có yếu tố nhạy cảm cao trong việc chấp hành những quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, trong thực thi công vụ, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chế độ công vụ, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh những trường hợp vi phạm, kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy những cán bộ, công chức, viên chức thoái hóa, biến chất, vi phạm pháp luật, định kỳ luân chuyển, thay đổi vị trí công tác đối với những người có đủ phẩm chất, đạo đức, năng lực chuyên môn nghiệp vụ để đảm nhiệm các vị trí nhạy cảm, nhất là đối với các trưởng đoàn thanh tra, kiểm tra, điều tra viên…

Tăng cường phát huy vai trò giám sát của Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp, các tổ chức chính trị xã hội, các cơ quan báo chí và nhân dân trong việc phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng trong hoạt động công vụ.

Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận yêu cầu thủ trưởng các sở, ban, ngành; chủ tịch UBND các huyện, thành phố, trong phạm vi chức năng quản lý của ngành, địa phương, định kỳ hàng năm báo cáo kết quả về UBND tỉnh (qua Thanh tra tỉnh) để tổng hợp, tham mưu UBND tỉnh báo cáo Thanh tra Chính phủ theo quy định.

Thanh tra tỉnh được giao trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc triển khai thực hiện Công điện số 724/CĐ-TTg ngày 17/6/2019 của Thủ tướng Chính phủ và nội dung văn bản này; định kỳ tổng hợp tham mưu UBND tỉnh báo cáo tình hình thực hiện theo quy định. (Thanhtra.com.vn 27/7, Bảo Hân)Về đầu trang

Hà Nội mở rộng chống tham nhũng ngoài nhà nước, sẽ còn nhiều Nhật Cường lộ mặt

Đề xuất Hà Nội mở rộng phòng, chống tham nhũng ra khu vực ngoài nhà nước của Phó Trưởng Ban Nội chính Trung ương Trần Quốc Cường được dư luận đồng tình, ủng hộ. Nhiều ý kiến cho rằng sẽ còn nhiều công ty như Nhật Cường lộ mặt.

Mới đây, Phó Trưởng Ban Nội chính Trung ương Trần Quốc Cường đã có một góp ý vào Dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội rất đáng chú ý. Đó là việc, mở rộng phòng, chống tham nhũng ra khu vực ngoài nhà nước vì liên quan đến “phòng chống nhũng nhiễu, tham nhũng vặt”.

Đề nghị trên của Phó Trưởng Ban Nội chính Trung ương nhận được nhiều ý kiến đồng tình. Thực tế thời gian qua, không chỉ nhiều địa phương trên cả nước, mà ngay tại Hà Nội, công tác điều tra, truy tố cho thấy, tham nhũng ở khu vực ngoài nhà nước cũng rất hệ trọng.

Điển hình mới đây nhất tại Hà Nội đã xảy ra vụ án tại công ty Nhật Cường được Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng đưa vào diện theo dõi, chỉ đạo.

Đến nay, cùng với Bùi Quang Huy - Tổng Giám đốc Công ty Nhật Cường, cơ quan điều tra đã khởi tố 25 bị can liên quan vụ án này về các tội danh khác nhau.

Đáng chú ý, trong số các bị can có không ít người từng là cán bộ, từng giữ những vị trí chủ chốt trong cơ quan nhà nước như Nguyễn Văn Tứ, Chánh văn phòng Thành ủy Hà Nội, nguyên Giám đốc Sở Kế hoạch - Đầu tư, Phạm Thị Thu Hường, Chánh văn phòng Sở Kế hoạch - đầu tư, Nguyễn Tiến Học, nguyên Phó giám đốc Sở Kế hoạch - đầu tư Hà Nội, Phạm Thị Kim Tuyến, Trưởng phòng đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch - đầu tư hay mới đây là Nguyễn Anh Ngọc - Phó trưởng Phòng Thư ký – Biên tập, Văn phòng UBND TP Hà Nội; Nguyễn Hoàng Trung, Chuyên viên Phòng Thư ký - Biên tập, Văn phòng UBND TP Hà Nội, lái xe của Chủ tịch UBND TP Hà Nội và Phạm Quang Dũng - nguyên cán bộ Công an...

Vụ án là một minh chứng rõ ràng nhất về các hành vi vi phạm pháp luật, tội phạm trong khu vực ngoài Nhà nước đang diễn biến phức tạp, có sự móc nối giữa tư nhân với cán bộ, công chức nhà nước để chiếm ưu thế trong việc kinh doanh. Hoạt động vi phạm pháp luật của những doanh nghiệp như Nhật Cường được sự nâng đỡ của người có chức vụ quyền hạn đã làm ảnh hưởng đến môi trường đầu tư kinh doanh, gây bức xúc dư luận.

Cũng không loại trừ, ngoài Nhật Cường còn có các doanh nghiệp đang hoạt động tương tự nhưng chưa “lộ mặt”, có thể tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các hành vi sai phạm, tham nhũng của những người có thẩm quyền quản lý, xâm phạm nghiêm trọng quyền lợi của các cá nhân, tổ chức, cũng như ảnh hưởng lớn đến sự phát triển ổn định của nền kinh tế.

Thực tế hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế. Hơn nữa thực tế cho thấy, những dấu hiệu tham nhũng ở khu vực này làm ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, kinh doanh của đất nước.

Do đó, việc kiểm soát chặt chẽ, mở rộng phòng, chống tham nhũng ra khu vực ngoài nhà nước sẽ tránh được việc người có thẩm quyền lợi dụng chức vụ được giao hoặc thành lập doanh nghiệp “sân sau” để tham nhũng. Đồng thời sẽ khuyến khích xây dựng văn hóa kinh doanh lành mạnh, không tham nhũng và chỉ áp dụng luật này đối với một số doanh nghiệp, tổ chức xã hội khu vực ngoài Nhà nước.

Biết đâu, khi Hà Nội mở rộng chống tham nhũng ngoài nhà nước, sẽ còn nhiều “Nhật Cường” khác lộ mặt. (Kienthuc.net.vn 27/7, Tâm Đức)Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

Indonesia tự xét lại chính sách thu hút đầu tư

Sau sự sụt giảm nghiêm trọng của dòng vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp vào Indonesia trong hai quý liên tiếp, một quan chức Jakarta hôm 23/7 đã bày tỏ ý nghĩ xem xét lại chính sách của nước này.

Ông Bahil Lahadalia - người đứng đầu Hội đồng điều phối đầu tư Indonesia vừa đưa ra lời kêu gọi đánh giá lại lợi ích của đất nước.

Nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á đã thu hút 6,7 tỷ USD đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) trong quý II, không kể đầu tư vào các lĩnh vực ngân hàng và dầu khí. Con số này thấp hơn 3% so với cùng kỳ năm ngoái. Còn trong quý I, các quyết định đầu tư phải gác lại do đại dịch coronavirus tấn công đã giáng đòn vào nền kinh tế Indonesia thậm chí còn nặng nề hơn, khiến chỉ số vốn đầu tư nước ngoài giảm 9,2%.

Theo bài báo hôm 13 tháng 7 trên tờ “The Jakarta Post”, chính ông Bahil Lahadalia đã thừa nhận trong cuộc họp báo ngắn ngày 10 tháng 7 rằng, cấp phép kinh doanh nước ngoài và vấn đề thu hồi đất đai đang là hai trở ngại chính cho các dự án đầu tư ở Indonesia.

Vị quan chức cấp cao cam đoan với các nhà đầu tư nước ngoài rằng đội ngũ chuyên trách của Hội đồng điều phối đầu tư sẽ đón gặp các doanh nhân nước ngoài ngay ở sân bay. Để giúp đỡ những nhà đầu tư dự định nghiêm túc đầu tư vào Indonesia, Hội đồng sẽ tháo gỡ mọi vấn đề về cấp phép, để cho các nhà đầu tư nước ngoài đơn giản là “chỉ cần mang tới đây vốn tư bản và công nghệ”.

Chế xuất công nghiệp, năng lượng và thiết bị y tế là những hạng mục ưu tiên của Indonesia. Ông Lahadalia đặc biệt hứa hẹn mở cửa thị trường nội địa dành cho các nhà đầu tư trong lĩnh vực thiết bị y tế, bởi trong thời gian đại dịch Indonesia đã phải nhập khẩu số lượng lớn thiết bị y tế vì năng lực yếu kém của các doanh nghiệp quốc gia.

Phần lớn các chuyên gia kinh tế thế giới cho rằng, sự suy giảm đầu tư nước ngoài trực tiếp ở Indonesia không phải là chuyện của những tháng gần đây và cũng không phải là chuyện riêng của nước này, mà nó là thực trạng chung của các nước đang phát triển.

Theo chuyên gia hàng đầu của Trung tâm Công nghệ-Chính trị Nga là ông Nikita Maslennikov, đà suy giảm dòng vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp vào các nền kinh tế đang phát triển đã bắt đầu từ khoảng gần 2 năm qua. Điều đó có nền tảng sâu xa hơn chứ không chỉ bởi sự tác động mạnh đột ngột, mang tính nhất thời vì đại dịch coronavirus.

Sự suy giảm đó gắn với môi trường đầu tư, mà quan trọng nhất là “độ cởi mở của thị trường”, trong đó có thị trường tài chính; thực trạng hệ thống tài chính của từng đất nước; mức nợ công và nợ doanh nghiệp; cũng như rủi ro vỡ nợ. Khi đánh giá môi trường đầu tư để ra quyết định bỏ vốn, đây chính là những yếu tố mà các nhà đầu tư nước ngoài phải chú ý đến trước tiên, dù là ở Trung Quốc hay ở các nước ASEAN trong đó có Indonesia.

Tiềm năng của ASEAN như một tổ chức liên kết hội nhập thực sự đang bắt đầu cho thấy sức mạnh và xu thế triển vọng, vài năm trước, các quốc gia thuộc Hiệp hội Các nước Đông Nam Á đã có những quyết định khá nghiêm túc được đưa ra theo hướng này.

Chuyên gia Nikita Maslennikov cho rằng, “quan điểm xét lại” theo chiều hướng thay đổi quan hệ của đất nước và Cộng đồng kinh tế ASEAN hàm chứa những rủi ro nghiêm trọng đối với chính Indonesia, chính quyền nước này cần phải thận trọng khi tiếp cận những đề xuất và đánh giá như vậy. Dường như, đó là những phát biểu mang nặng cảm xúc bột phát hơn là những tính toán tỉnh táo về kinh tế và tài chính.

Cộng đồng ASEAN được hình thành dựa trên 3 trụ cột là Cộng đồng Chính trị-An ninh (APSC), Cộng đồng Kinh tế (AEC) và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội (ASCC). Kinh tế có mạnh thì mới có tiềm lực củng cố quốc phòng-an ninh và phát triển văn hóa-xã hội; do đó, AEC sẽ đóng vai trò quan trọng nhất, là yếu tố quyết định sự vững mạnh của Cộng đồng Chính trị - An ninh và Cộng đồng Văn hóa - Xã hội.

Giới phân tích cho rằng, nếu đoàn kết và xây dựng được chương trình nghị sự hợp lý, ASEAN sẽ đóng vai trò cốt lõi như là một trung tâm hội nhập kinh tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Việc ASEAN giải được bài toán kinh tế sẽ có những tác động lớn lao đến các lĩnh vực khác như chính trị, quân sự, văn hóa-xã hội trong nội khối. Nó cũng giúp các nước hạn chế sự lũng đoạn về kinh tế của Trung Quốc, giảm sự phụ thuộc vào Bắc Kinh và tạo được sự đồng thuận cao trong giải quyết các tranh chấp chủ quyền giữa một số nước trong khối với Trung Quốc.

Trong những năm qua, lập trường tập thể của các nước ASEAN phần nhiều đã phát huy tác dụng bảo vệ lợi ích của các nước thành viên Hiệp hội mỗi khi phát sinh những “rủi ro trong khu vực và toàn cầu”. Bất kể trong bối cảnh nào, tiềm năng của ASEAN vẫn đang được bảo tồn và củng cố, ASEAN đã tiến lên cấp độ mới trong lịch sử phát triển năng động của một tổ chức khu vực trở thành một cơ cấu khu vực có tiếng nói quan trọng trong cán cân kinh tế và tài chính toàn cầu.

Nếu đứng một mình, các nước nhỏ yếu sẽ chỉ là những kẻ cạnh tranh nhỏ, nhặt nhạnh “những mảnh vụ thị trường”, nên cơ chế đối thoại, hợp tác khu vực sẽ đóng vai trò rất quan trọng trong cả hiện tại lẫn tương lai, bởi thế giới đang ngày càng tiềm ẩn nhiều mâu thuẫn và nguy cơ. (Baodatviet.vn 27/7, Thiên Nam)Về đầu trang./.

 

Trung tâm Tin học - Công báo

Các tin khác

Lượt truy cập: 12.023.403 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này