Bản tin cải cách hành chính ngày 16/10/2020

15:51, Thứ Sáu, 16-10-2020

Xem với cỡ chữ : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. Hướng tới chuyển giao dịch vụ hành chính công

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

2. Đà Nẵng: Nâng cao hiệu quả công tác dân vận trong hệ thống chính trị

3. Kiểm tra công tác cải cách hành chính tại Sở Du Lịch Nghệ An

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

4. Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong ngành BHXH mang lại nhiều lợi ích cho người dân

5. Bước cải cách hành chính mạnh mẽ của Kho bạc Nhà nước

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

6. Kỳ vọng gói hỗ trợ lần hai cần cắt giảm thủ tục và quy trình tiếp cận

7. Chính quyền đô thị phải ưu việt, tránh cứng nhắc, rập khuôn

TIN THẾ GIỚI

8. Nhật Bản đẩy mạnh sáng kiến cải cách thủ tục hành chính

         

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Hướng tới chuyển giao dịch vụ hành chính công

Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước vừa xin ý kiến các chuyên gia, nhà khoa học về việc có nên giao một số dịch vụ hành chính công cho doanh nghiệp và tổ chức xã hội thực hiện, từ đó có cơ sở để báo cáo đề xuất với lãnh đạo Bộ Nội vụ. Dù có nhiều ý kiến ủng hộ chủ trương này nhưng cũng có nhiều ý kiến băn khoăn.

Dịch vụ hành chính công là dịch vụ gắn với thẩm quyền hành chính pháp lý của Nhà nước. Đó là các hoạt động như: cấp giấy phép, giấy xác nhận, chứng thực (công chức, giấy khai sinh, khai tử, giấy đăng ký kết hôn, đăng ký ô tô, xe máy…); giấy đăng ký kinh doanh, chứng chỉ hành nghề; hoạt động thu các khoản đóng góp vào ngân sách và các quỹ của Nhà nước; hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và xử lý các vi phạm hành chính…

Xã hội hóa dịch vụ công, trong đó có dịch vụ hành chính công đã được đề ra trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa VII và được chính thức đưa vào văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII; tại Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017 (về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn…) cũng đã yêu cầu chuyển một số nhiệm vụ và dịch vụ hành chính công mà Nhà nước không nhất thiết phải thực hiện cho doanh nghiệp, các tổ chức xã hội đảm nhiệm. Các nghị quyết, chương trình hành động của Chính phủ cũng đã cụ thể hóa chủ trương trên.

Những tính chất đặc thù của dịch vụ hành chính công cho thấy, khi một số dịch vụ mà Nhà nước không đủ nguồn lực, thì việc cho phép khu vực ngoài Nhà nước có cơ hội cung cấp dịch vụ công sẽ mang lại lợi ích cho xã hội. Việc chuyển giao cũng là giải pháp mở rộng dân chủ, thu hút người dân tham gia vào quản lý, quản trị nhà nước. Đơn cử như Sở GTVT TP Hà Nội đang quản lý số lượng hồ sơ hành chính liên quan tới lĩnh vực GTVT là rất lớn (thủ tục cấp lại giấy phép lái xe, phù hiệu biển xe vận tải…). Các thủ tục này chỉ được xử lý trực tiếp tại bộ phận một cửa chuyên trách ở 2 địa chỉ. Nếu xã hội hóa dịch vụ trên cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực GTVT đóng trên địa bàn các quận huyện, thì có thể tiết kiệm thời gian, chi phí xã hội, thuận lợi cho người dân và quan trọng là giảm được số lượng cán bộ chuyên trách tại bộ phận một cửa.

Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, mặc dù chủ trương như vậy, nhưng cũng cần phải xác định vai trò của Nhà nước trong việc đảm bảo chất lượng dịch vụ hành chính công khi chuyển giao. Đặc biệt, cần lựa chọn một số dịch vụ hành chính công chuyển giao mà không ảnh hưởng tới an ninh - quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Trong quá trình thực hiện, việc chọn các doanh nghiệp và tổ chức xã hội có đủ năng lực tham gia vào cung ứng một số dịch vụ hành chính công để xã hội hóa hoạt động cung ứng là rất quan trọng.

Để tránh “sự việc đã rồi” hay “tiền trảm hậu tấu”, trước khi chuyển giao một số loại dịch vụ hành chính công, cần có cơ chế để xác định những doanh nghiệp, tổ chức xã hội có đủ năng lực thực hiện; cơ chế giám sát chống độc quyền trong việc cung ứng dịch vụ hành chính công. Đặc biệt, để tránh được cơ chế xin - cho trong quá trình xác định đơn vị tham gia cung ứng thì cần thiết phải áp dụng phương thức đấu thầu công khai cung ứng dịch vụ hành chính công. (Sggp.org.vn 16/10, Đỗ Trung)Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Đà Nẵng: Nâng cao hiệu quả công tác dân vận trong hệ thống chính trị

Trong những năm qua, nhờ những cách làm mới, sáng tạo, đạt hiệu quả cao trong công tác vận động quần chúng, quận Thanh Khê đã phát huy được sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, tạo sự đồng thuận trong xây dựng và phát triển địa phương.

Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Phó Bí thư Thường trực Quận ủy, Chủ tịch HĐND quận Thanh Khê cho biết, Đảng bộ quận luôn xác định công tác dân vận là nhiệm vụ quan trọng. Vì vậy, trước khi có Quyết định số 290-QĐ/TW ngày 25-2-2010 của Bộ Chính trị về “Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị”, Quận ủy đã ban hành Đề án số 09-ĐA/QU ngày 20-4-2007 về “Đổi mới nội dung phương thức vận động nhân dân trong tình hình mới”.

Sau đó, cùng với Quyết định số 290-QĐ/TW, Quận ủy đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận và các tổ chức thành viên hướng các hoạt động về cơ sở, thực hiện tốt Quy chế dân chủ nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân theo pháp luật; tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền với nhân dân; tập trung giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc như nhà ở, việc làm, môi trường sống, an sinh xã hội…

Đồng thời, Quận ủy Thanh Khê luôn chú trọng công tác sơ kết, tổng kết thực tiễn, phát huy hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước, nhân rộng các điển hình tiên tiến nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước, nỗ lực lao động sáng tạo của các tầng lớp nhân dân. “Chính vì vậy, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy, tạo nên sự đồng thuận cao trong nhân dân, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn quận trong nhiều năm qua”, bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt nhấn mạnh.

Một trong những điểm nổi bật ở Thanh Khê là công tác dân vận của chính quyền các cấp được coi trọng thông qua thực hiện có hiệu quả công tác cải cách thủ tục hành chính (CCTTHC) theo mô hình “một cửa hiện đại”, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân giám sát hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước.

Ông Hồ Thuyên, Chủ tịch UBND quận Thanh Khê cho biết, trong 10 năm qua, công tác CCTTHC có nhiều đổi mới, đi vào chiều sâu, tạo chuyển biến tích cực trong việc quản lý và điều hành; phát huy dân chủ, giúp mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân ngày càng gắn bó mật thiết hơn. Cuộc vận động “3 hơn” trong CCTTHC “nhanh hơn, hợp lý hơn, thân thiện hơn” được triển khai đồng bộ mang lại kết quả tích cực. Tỷ lệ hồ sơ sớm và đúng hẹn luôn đạt cao, tỷ lệ hồ sơ trễ hẹn dần được khắc phục.

Kết quả lấy ý kiến đánh giá mức độ hài lòng của tổ chức, công dân đối với cán bộ, công chức tiếp nhận và giải quyết TTHC công luôn đạt tỷ lệ cao ở tiêu chí hài lòng và rất hài lòng. Năm 2017- 2018, UBND quận dẫn đầu thành phố về công tác ứng dụng công nghệ thông tin. Trong 3 năm (2017-2019), quận Thanh Khê dẫn đầu khối thi đua quận, huyện về công tác cải cách hành chính. Năm 2018, Trang Thông tin điện tử quận Thanh Khê được Sở Thông tin và Truyền thông thành phố đánh giá dẫn đầu thi đua khối quận, huyện về hoạt động trang thông tin điện tử. (Baodanang.vn 15/10)Về đầu trang

Kiểm tra công tác cải cách hành chính tại Sở Du Lịch Nghệ An

Chiều 15/10, đoàn kiểm tra về công tác cải cách hành chính (CCHC) của Sở Nội vụ do đồng chí Trần Quốc Chung – Phó Giám đốc làm Trưởng đoàn có cuộc làm việc với Sở Du lịch.

Báo cáo của Sở Du lịch Nghệ An cho biết, công tác CCHC là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên được Sở tập trung lãnh đạo chỉ đạo; tạo bước chuyển biến căn bản trong quan hệ giữa các cơ quan hành chính với công dân.

Sở kịp thời phổ biến quán triệt các chủ trương, chính sách liên quan đến CCHC đến cán bộ công chức viên chức của Sở, có kế hoạch và tiến hành kiểm tra việc thực hiện giải quyết các thủ tục hành chính (TTHC) để kịp thời chấn chỉnh, khắc phục.

Qua đó cán bộ, công chức của phòng, đơn vị chuyên môn có nhiều cố gắng trong thực hiện nhiệm vụ được phân công, có ý thức trách nhiệm đối với công việc hơn, thường xuyên phải làm thêm ngoài giờ để đảm bảo hoàn thành khối lượng công việc được giao. Công tác tham mưu công bố, công khai TTHC thường xuyên, kịp thời, đảm bảo tính liên tục trong công tác quản lý nhà nước về du lịch. 

Sở thực hiện quyết liệt trong cắt giảm thời gian giải quyết của 9  TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở (từ 2 ngày đến 10 ngày/mỗi thủ tục). 100% hồ sơ được tiếp nhận đều xử lý trên hệ thống một cửa điện tử của tỉnh; trong quá trình xử lý không có sai sót nào xảy ra.

Chất lượng giải quyết TTHC được nâng cao rõ rệt; TTHC được công khai minh bạch. Cơ chế một cửa hoạt động có hiệu quả cao, giảm thời gian chờ đợi, chi phí trong quá trình giao dịch giữa tổ chức cá nhân, doanh nghiệp với cơ quan Nhà nước.

Song song, Sở tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình chỉ đạo, quản lý điều hành: 100% văn bản được phát hành thông qua phần mềm VNPT-ioffce và sử dụng chữ ký số để phát hành văn bản; hầu hết cán bộ, công chức đều sử dụng hộp thư công vụ trong quá trình trao đổi công việc. Sở thực hiện chuyển đổi và áp dụng sớm hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2015. (Baonghean.vn 15/10, Lê Thanh)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong ngành BHXH mang lại nhiều lợi ích cho người dân

Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế về an sinh xã hội đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới và khu vực, ngành BHXH xác định cải cách thủ tục hành chính (TTHC), ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm đáp ứng được các yêu cầu tổ chức, thực hiện chính sách BHXH, BHYT trong tình hình mới. Những năm qua, BHXH Việt Nam đã triển khai mạnh mẽ ứng dụng CNTT, theo đó đã xây dựng các phần mềm nghiệp vụ bao phủ hầu hết các hoạt động của ngành...

Từ năm 2017, ngành BHXH bắt đầu triển khai hình thức kê khai nộp BHXH qua giao dịch điện tử, giúp cho doanh nghiệp giảm được thời gian đi lại, chờ đợi khi nộp hồ sơ trực tiếp tại cơ quan BHXH. Bên cạnh đó, chính thức nâng cấp và cung cấp miễn phí Phần mềm kê khai nộp BHXH lên phiên bản web để hỗ trợ đơn vị sử dụng lao động và cá nhân tham gia giao dịch điện tử với cơ quan BHXH từ ngày 12/8/2019.

Trong năm 2019, ngành BHXH đã tích hợp, liên thông các phần mềm nghiệp vụ nhằm kiểm tra, đối chiếu dữ liệu thu, cấp sổ BHXH, thẻ BHYT với phần mềm xét duyệt hồ sơ hưởng và chi trả các chế độ BHXH nên đã rút ngắn được thời hạn giải quyết chế độ BHXH cho người lao động. Phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tư pháp chính thức khai trương Cơ sở dữ liệu chuyên ngành BHXH và kết nối hệ thống thông tin quản lý hộ tịch qua Trục dữ liệu Quốc gia phục vụ liên thông khai sinh, cấp thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi.

Trên nền tảng ứng dụng CNTT, ngành BHXH đã và đang hoàn thiện hệ sinh thái 4.0 phục vụ người dân và doanh nghiệp với các dịch vụ: Tin nhắn (SMS); Thanh toán trực tuyến; Ứng dụng BHXH trên thiết bị di động; Hệ thống Chatbot hỗ trợ khách hàng (trả lời chính sách BHXH, BHYT tự động bằng trí tuệ nhân tạo, tăng tính tương tác cao với người tham gia, cung cấp thông tin đóng, hưởng BHXH, BHYT và dự tính mức hưởng nhằm phục vụ người dân tốt hơn); Phân tích, khai thác được lượng dữ liệu rất lớn của ngành trên BIGDATA; Thiết lập Fanpage truyền thông trên hệ thống mạng xã hội; Cung cấp tất cả các dịch vụ công có thể lên cấp độ 4. (Sức khỏe & Đời sống 16/10, Nguyễn Hoàng)Về đầu trang

Bước cải cách hành chính mạnh mẽ của Kho bạc Nhà nước

Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 1302/QĐ-BTC về việc công bố Chỉ số theo dõi, đánh giá kết quả cải cách hành chính (CCHC) năm 2019 của các đơn vị thuộc Bộ Tài chính. Trong đó, Kho bạc Nhà nước (KBNN) đứng vị trí thứ hai, với điểm thẩm định là 96,5/100 (thang điểm tối đa là 100). Tổng cục Hải quan đứng thứ nhất với điểm thẩm định là 97/100. Các vị trí tiếp theo lần lượt thuộc về: Tổng cục Thuế; Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Tổng cục Dự trữ Nhà nước.

Kết quả Chỉ số theo dõi, đánh giá kết quả cải cách hành chính năm 2019 cho thấy, các đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ Tài chính đều đạt trên 90% điểm so với điểm tối đa, không có sự chênh lệch nhiều, các đơn vị rất quan tâm chú trọng đến công tác CCHC và cụ thể hóa bằng các chương trình, kế hoạch hành động và qua các văn bản chỉ đạo thực hiện công tác CCHC.

Thông qua kết quả Bộ Tài chính công bố, thể hiện sự nỗ lực của các Tổng cục nói chung và hệ thống KBNN nói riêng trong việc tích cực triển khai các đề án chính sách của Chính phủ, Bộ Tài chính giao cũng như đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong các hoạt động nghiệp vụ chuyên môn, cải cách thủ tục hành chính (TTHC) nâng cao chất lượng, góp phần phục vụ tốt hơn các đơn vị sử dụng ngân sách, doanh nghiệp và người dân.

Đối với hệ thống KBNN, KBNN luôn xác định công tác CCHC là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, được thực hiện thường xuyên, liên tục, góp phần quan trọng vào hoạt động CCHC của ngành Tài chính, cũng như Chiến lược phát triển KBNN đến năm 2020 được ban hành theo Quyết định số 138/2007/QĐ-TTg ngày 21/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ.

Bám sát chủ trương, chỉ đạo của Chính phủ, của Bộ Tài chính, hệ thống KBNN đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để CCHC, hoàn thiện các cơ chế chính sách, quy trình nghiệp vụ. Trong đó, trọng tâm là cải cách quy trình TTHC về thu, chi NSNN theo hướng đơn giản, công khai, minh bạch nhằm giảm thiểu thời gian, thủ tục và chi phí thực hiện TTHC cho các đơn vị dự toán ngân sách, chủ đầu tư và người dân trong giao dịch với hệ thống KBNN. (Tapchitaichinh.vn 15/10)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Kỳ vọng gói hỗ trợ lần hai cần cắt giảm thủ tục và quy trình tiếp cận

Nhóm nghiên cứu Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU) vừa đưa ra khuyến nghị Chính phủ hỗ trợ hơn nữa các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi COVID-19. Theo đó, gói hỗ trợ kinh tế lần hai nếu được thông qua cần giảm thiểu những phiền hà về thủ tục và quy trình tiếp cận các gói hỗ trợ, đặc biệt chứng minh về tài chính. Các doanh nghiệp kỳ vọng được tiếp tục giảm chi phí sản xuất, tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội (BHXH), giảm tiền thuê đất…

Dịch bệnh trên thế giới còn phức tạp, tác động đến kinh tế Việt Nam đang và sẽ trầm trọng hơn, đòi hỏi phải có giải pháp quyết liệt hơn. Đây là thông điệp đưa ra tại Hội thảo khoa học “Chính sách vượt qua tác động của COVID-19 để phục hồi và phát triển kinh tế” do NEU phối hợp với Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, Ban Kinh tế Trung ương, Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) phối hợp tổ chức ngày 15/10.

Tại Hội thảo, PGS TS Bùi Đức Thọ, Phó Hiệu trưởng NEU chia sẻ: Giới doanh nghiệp và chuyên gia kinh tế đánh giá cao việc Chính phủ nhanh chóng đưa ra gói giải pháp lần thứ nhất đúng và trúng. Nhưng, hiệu quả lại không cao trên thực tế. “80% doanh nghiệp được hỏi cho biết, đã không tiếp cận được gói hỗ trợ do không đủ điều kiện và do không có thông tin về chính sách”, PGS TS Bùi Đức Thọ nói.

Do vậy, Nhóm nghiên cứu đề xuất một số hướng đi cho gói hỗ trợ kinh tế “hậu” COVID-19 lần hai. Cụ thể: Về gói tiền tệ, cần nới lỏng các điều kiện tín dụng, miễn và giảm lãi; gói hỗ trợ tài khóa khóa tiếp tục miễn, giảm thuế phí, giảm phí bảo hiểm xã hội, giảm các chi phí hạ tầng,

Nhóm nghiên cứu khuyến nghị Chính phủ cần có các hình thức hỗ trợ phù hợp với các doanh nghiệp ở từng ngành, lĩnh vực và theo giai đoạn; ưu tiên hơn nữa các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa bởi khả năng chống chịu kém của loại hình doanh nghiệp này.

Với gói hỗ trợ lần hai, Chính phủ cần phân loại, đánh giá, lựa chọn doanh nghiệp để hỗ trợ; chú trọng hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc các ngành bị tổn thương bởi dịch bệnh, có hệ thống quản trị tốt để có thể vượt lên sau đại dịch. Theo nhóm nghiên cứu, Chính phủ cần kéo dài thời gian các gói hỗ trợ để doanh nghiệp có đủ thời gian phục hồi sản xuất kinh doanh một cách bền vững; đồng thời chính sách hỗ trợ cần rõ ràng, minh bạch về thủ tục cũng như đối tượng được hưởng.

“Gói hỗ lần hai phải đủ lớn. Rất may, chúng ta có tiền và chấp nhận tăng thâm hụt ngân sách; hai là diện phải rộng như gói 1 là có tính đến người lao động, có doanh nghiệp và có xã hội; ba là phải có trọng điểm, hỗ trợ những lĩnh vực, những doanh nghiệp có tính lan tỏa. Ví dụ, có hỗ trợ ngành hàng không như các nước không?; bốn là thời gian, ít nhất phải thực hiện cả trong năm 2021; năm là gói này không chỉ giúp doanh nghiệp vượt khó như gói 1, gói 2 là hỗ trợ để vượt khó, để phục hồi và tái cấu trúc”, TS Võ Trí Thành, thành viên Tổ tư vấn Kinh tế của Thủ tướng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược thương hiệu và Cạnh tranh kiến nghị.

Kết quả khảo sát cho thấy, có tới 40% doanh nghiệp bị tác động bởi COVID-19. Trong đó, 30% phải cắt giảm quy mô sản xuất và gần 10% phải tạm dừng hoạt động. Bị ảnh hưởng nặng nề nhất là ngành du lịch, lưu trú, ăn uống. Đến đầu tháng 10/2020, khoảng 80% doanh nghiệp được điều tra không nhận được gói hỗ trợ COVID-19 lần thứ nhất của Chính phủ. Lý do chủ yếu là doanh nghiệp không đáp ứng điều kiện, không có thông tin về chính sách.

Tỷ lệ doanh nghiệp lớn nhận được gói hỗ trợ nhiều hơn so với doanh nghiệp nhỏ. Trong khi các doanh nghiệp vừa và nhỏ là những đối tượng rất dễ tổn thương bởi khủng hoảng dịch bệnh. Doanh nghiệp chủ yếu tiếp cận được với gói “gia hạn nộp thuế”, các gói hỗ trợ khác tỷ lệ tiếp cận thấp. Có nhiều lý do dẫn đến việc các doanh nghiệp không nhận được hỗ trợ, chủ yếu là không đáp ứng được điều kiện hỗ trợ, không có thông tin về chính sách, quy trình, thủ tục phức tạp, thông tin không minh bạch. (TTXVN/Baotintuc.vn 15/10)Về đầu trang

Chính quyền đô thị phải ưu việt, tránh cứng nhắc, rập khuôn

Ngày 15.10, UBND TP.Đà Nẵng cùng Bộ Nội vụ đã có buổi lấy ý kiến xây dựng nghị định của Chính phủ quy định cụ thể và hướng dẫn thực hiện thí điểm mô hình tổ chức chính quyền đô thị. Tại đây, các địa phương nêu rõ, việc hạn chế số lượng cán bộ công chức, gộp phòng ban nếu cứ rập khuôn làm cứng nhắc sẽ tạo nhiều áp lực, hiệu quả công việc không có, mô hình chính quyền không thể trở nên ưu việt.

Ông Võ Trường Anh - Chủ tịch UBND phường Hải Châu 1 - có ý kiến, sau khi sắp xếp số lượng công chức theo Nghị định 34, các phường đang có không quá 14 công chức. Trong khi đó, công việc ở phường rất nhiều, có khi quá tải. Nay, theo mô hình chính quyền đô thị, các địa phương buộc phải cắt giảm xuống 12 công chức, đồng thời 17 ban chuyên trách được gộp lại chỉ còn lại 14 ban thì quá nặng nhọc cho cán bộ. “Tôi cho rằng, đưa ra con số này là không thể. Cắt đi 2 cán bộ đã có biên chế mà không có lý do, hiện cũng chưa có quy định hướng dẫn thì làm sao chúng tôi sắp xếp được?” - ông Anh đặt câu hỏi.

Đồng tình với quan điểm này, ông Nguyễn Ngự Tuyên - Chủ tịch UBND phường Chính Gián - cho rằng, thực tế hiện nay, 1 cán bộ đang phụ trách 1 lĩnh vực đã là quá tải. Bởi, trừ kế toán ra, 50% cán bộ phường phải trực ở Bộ phận Một cửa để tiếp dân. Họ phải đi xác minh, làm nhiệm vụ chuyên môn ngành dọc. Họ luôn trong tình trạng bỏ cái nào cũng không được mà làm thì không xong. Vậy nên, một số lĩnh vực, 1 cán bộ công chức (CBCC) không thể làm hết việc. Chưa kể, CBCC là nữ khi nghỉ sinh con, việc bố trí người sẽ rất khó. Một vấn đề khác là mô hình chính quyền đô thị quy định, cán bộ hoạt động không chuyên trách chỉ làm việc bán thời gian. Tuy nhiên, thực tế là tại Đà Nẵng, hơn 50% các địa phương có cán bộ không chuyên trách có trình độ đại học. Vậy, chỉ để họ làm việc nửa thời gian như vậy sẽ không tận dụng được tối đa sức lao động. Còn nếu để họ làm việc 100% như CBCC hiện nay thì chế độ, phụ cấp phải như nhau.

Về ý kiến của các quận, ông Nguyễn Đăng Huy - Chủ tịch UBND quận Liên Chiểu - cũng trao đổi về việc gộp 12 phòng chuyên môn thành xuống còn 8. “Lĩnh vực Y tế nếu ghép với Giáo dục và Văn hoá là rất lớn. Bởi riêng Y tế, ngoài việc quản lý các bệnh viện trên địa bàn quận, chúng tôi còn phải lo về vấn đề an toàn thực phẩm. Tương tự như đề xuất gộp phòng Đô thị với Tài nguyên môi trường lại với nhau là không thể, bởi mỗi lĩnh vực đều có rất nhiều việc. Quan điểm của địa phương là nên duy trì như hiện nay hoặc ghép vào thí điểm” - ông Huy nói.

Ghi nhận những ý kiến của các địa phương, ông Hoàng Ngọc Anh - Phó Vụ trưởng Vụ Cải cách hành chính, Bộ Nội vụ - cho biết, theo lộ trình, ngày 15.10, bộ sẽ chốt trình Nghị định cho Chính phủ. Tuy nhiên, TP.Đà Nẵng là nơi thụ hưởng và thực hiện Nghị định này nên các ý kiến cần được lắng nghe, cân nhắc kỹ lưỡng để làm sao Nghị định đưa ra phải đồng bộ với các Nghị định khác cũng như phù hợp với tính đặc thù của TP.Đà Nẵng. Các cán bộ Bộ Nội vụ cũng cho rằng, không nên vội vàng quyết định, đóng khung tất cả các đầu mối. Quá trình thí điểm sẽ có so sánh hiệu quả, cái gì rườm rà, không tốt thì bỏ đi, đồng thời cũng nên có lộ trình chuyển tiếp dần dần để hoàn thiện mô hình chứ không thể rập khuôn, cứng nhắc làm ngay.

Tiếp thu những ý kiến đó, ông Trần Anh Tuấn - Thứ trưởng Bộ Nội vụ - cho rằng, về số lượng cơ quan chuyên môn giúp việc UBND quận, bộ sẽ nghiên cứu để phù hợp với địa phương, thể hiện sự cải cách nhiều hơn, nâng cao hiệu quả hoạt động chính quyền đô thị, làm sao để tạo ra mô hình ưu việt nhất. Tuy nhiên, các địa phương cũng cần hiểu rằng có những quy định đặt ra là để tạo sự thống nhất và hiệu quả cho mô hình chính quyền đô thị. Như số lượng cấp phó càng ít thì mới thể hiện được người lãnh đạo làm tốt việc, nên phải có lộ trình đưa số lượng cấp phó về số lượng quy định.

“Chúng tôi cũng sẽ cân nhắc thêm về số cán bộ tại UBND phường, có thể là 14 hay 15 trên cơ sở những vấn đề có lợi cho Đà Nẵng, đáp ứng sự hài lòng của người dân, đáp ứng được việc cải cách hành chính, phục vụ sự phát triển Đà Nẵng trong thời gian tới thì các bộ, ngành sẽ ủng hộ các phương án nhưng cũng phải đảm bảo không trái với các chủ trương, Nghị quyết, phù hợp với điều kiện thực tế” - ông Tuấn Anh nói. (Laodong.vn 16/10, Thùy Trang)Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

Nhật Bản đẩy mạnh sáng kiến cải cách thủ tục hành chính

Theo báo Japan Times, một số người đứng đầu các địa phương đã bày tỏ sự ủng hộ đối với sáng kiến của chính quyền Thủ tướng Suga khởi động cách đây khoảng một tháng.

Tuy nhiên, sáng kiến này lại vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ các nhà sản xuất con dấu hanko. Họ cho rằng các đơn vị hành chính không nên xem con dấu như một trở ngại mang tính biểu tượng đối với quá trình số hóa.

Tỉnh trưởng Kotaro Nagasaki tại Yamanashi – một địa phương có nghề làm con dấu hanko truyền thống - kêu gọi chính quyền trung ương không nên tìm cách xóa bỏ hanko một cách dễ dàng. Mặc dù biết rõ lợi ích của việc bỏ hanko trong thủ tục hành chính, Tỉnh trưởng Nagasaki kêu gọi chính quyền địa phương đưa ra các biện pháp để giúp ngành công nghiệp này tồn tại, bao gồm số hóa con dấu và tìm thị trường mới ở các nước châu Á khác.

Tính đến cuối tháng 9, chính quyền thành phố Fukuoka đã xóa bỏ quy trình đóng dấu hanko không cần thiết đối với khoảng 3.800 loại hồ sơ thủ tục hành chính.

Với các nỗ lực cải cách mũi nhọn của Thị trưởng Soichiro Takashima, Fukuoka đã xử lý xong 73,7% công việc hành chính trực tuyến tính đến cuối tháng Ba. 

Một công chức trong độ tuổi 30 cho rằng những động thái của chính phủ là rất “hữu ích”, vì trước đây đã có lúc cô ấy phải quay lại văn phòng khi quên mang theo con dấu hanko.

Quan chức chính quyền thành phố Fukuoka dự đoán thủ tục hành chính trực tuyến “sẽ trở thành xu hướng đối với tất cả các chính quyền địa phương ở Nhật Bản trong bối cảnh bùng phát đại dịch COVID-19”. (TTXVN/Baotintuc.vn 16/10, Bảo Hà)Về đầu trang./.

 

Trung tâm Tin học - Công báo

Các tin khác

Lượt truy cập: 12.021.008 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này