Bản tin Cải cách hành chính ngày 01/11/2023

15:18, Thứ Tư, 1-11-2023

Xem với cỡ chữ : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1.        Đề xuất thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về cải cách thể chế

2.        Bảo mật, bảo đảm an toàn thông tin để xây dựng chính quyền điện tử

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

3.        TPHCM: Quyết liệt cải cách hành chính hiệu quả hơn nữa

4.        Yên Bái: Để hạnh phúc, người dân phải hài lòng về nhiều mặt

5.        Sở Xây dựng Thái Nguyên: Sẽ cấp phép xây dựng online từ cuối năm 2023

6.        Thái Nguyên: Nỗ lực cải thiện chỉ số tiếp cận đất đai

7.        Điện Biên: Ðẩy mạnh sử dụng dịch vụ công trực tuyến

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

8.        Nâng cấp dịch vụ công trực tuyến, số hóa văn bản cho “kho bạc 3 không"

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

9.        “Tăng lương để giảm tham nhũng vặt”

10.     Cần Thơ chi thu nhập bình quân tăng thêm cho cán bộ, công chức, viên chức khi đủ điều kiện

THẾ GIỚI

11.     Trung Quốc: Cơ hội từ chính sách “giữ chân người tài” ở Hong Kong

 

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Đề xuất thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về cải cách thể chế

Sáng 1.11, thảo luận về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, đại biểu Lê Thanh Vân (đoàn Cà Mau) bày tỏ tâm đắc và tán thành với nhiều giải pháp trong kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2021-2025 của Chính phủ.

Đại biểu Lê Thanh Vân nhấn mạnh, phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Chính phủ cần tập trung thu hút, trọng dụng nhân tài và xây dựng phát triển đội ngũ doanh nhân dân tộc.

Về thu hút, trọng dụng nhân tài, đại biểu đánh giá cao Chính phủ đang chuẩn bị xây dựng dự thảo về vấn đề này. Đại biểu mong sớm có đạo luật để có quy tắc chung cho toàn xã hội trong vấn đề này.

Về doanh nhân dân tộc, vừa qua, Bộ Chính trị mới ban hành Nghị quyết 41, đại biểu đề nghị Quốc hội đưa ra một đoạn có "hồn cốt" tinh thần nghị quyết này trong nghị quyết chung của kỳ họp, đề nghị Chính phủ sớm có giải pháp thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị.

Trong đó, các cơ quan Nhà nước, cấp ủy chính quyền các cấp thường xuyên có đối thoại với doanh nhân; hỗ trợ doanh nhân khởi nghiệp. Đặc biệt, cần bảo vệ tài sản hợp pháp của doanh nghiệp, bổ sung các chế tài về kinh tế để xử lý vi phạm và không hình sự hóa các quan hệ kinh tế.

Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị cần có các biện pháp mạnh mẽ trong cải cách thể chế. Cần coi thể chế như một nguồn lực, cần sớm thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về cải cách thể chế, xem đây là một điểm đột phá quan trọng.

Trong thể chế cần đặc biệt quan tâm 3 nhóm thể chế về kinh tế: xác lập bình đẳng trong phân phối nguồn lực xã hội, không kể công và tư; bảo vệ chế độ hợp đồng, bảo vệ tài sản; giải quyết tốt quan hệ Nhà nước - thị trường.

Việc các ngành và địa phương xin cơ chế đặc thù cho thấy "cái áo" thể chế của chúng ta đã quá chật hẹp, cần rà soát đồng bộ để "may áo mới cho thích hợp thay vì vá víu một cách ngắn hạn".

Ngoài ra, đại biểu cho rằng cần tiếp cận, làm chủ khoa học, công nghệ tiên tiến, tập trung vào 3 ngành công nghệ mũi nhọn: khoa học dữ liệu, công nghệ sinh học, công nghệ môi trường. Sử dụng hiệu quả đồng vốn để giải quyết các vấn đề khúc mắc, giảm chi thường xuyên để chi cho đầu tư, phát triển; dùng toàn bộ tăng thu của các năm để tăng chi hoàn thiện cơ sở hạ tầng.

Ngoài ra, cần chấn hưng văn hóa và đạo đức dân tộc. Theo đại biểu, có ba nhóm người cần tiên phong trong vấn đề này gồm: Đội ngũ lãnh đạo và quản lý phải đi đầu về trách nhiệm dẫn dắt; thầy cô giáo trong nhà trường; cha mẹ trong gia đình.

"Ba nhóm người này mà dẫn đầu về văn hóa, đạo đức thì tôi tin thế hệ thanh niên sẽ có ứng xử với đạo đức văn hóa tốt hơn", đại biểu khẳng định.

Cùng nói về vấn đề rà soát, xử lý các văn bản quy phạm pháp luật chồng chéo, đại biểu Lê Xuân Thân (đoàn Khánh Hòa) cho biết, tháng 6 năm 2023, tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 101, đây là nghị quyết chung của kỳ họp, trong đó có nội dung rà soát để xem xét nguyên nhân vì sao xảy ra tình trạng trì trệ, không dám làm của các cán bộ.

Bên cạnh việc sợ trách nhiệm không dám làm, đại biểu Lê Xuân Thân cho rằng, còn có nguyên nhân khác là quy định không rõ ràng, mâu thuẫn, chồng chéo của văn bản quy phạm pháp luật.

Do đó, trong khoảng thời gian rất ngắn (từ tháng 7-9), các cơ quan chức năng đã tích cực triển khai và rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chủ yếu ở lĩnh vực luật, nghị định, thông tư và chưa có văn bản của các địa phương. Qua kết quả rà soát, tỉ lệ chồng chéo có nhưng không cao.

Đại biểu cho rằng, nếu dừng lại ở tỉ lệ chưa cao và để lửng ở đó thì chưa nhìn nhận được nguyên nhân dẫn đến tình trạng cán bộ không dám làm và pháp luật chồng chéo, mâu thuẫn.

Điều này dẫn đến tình trạng “địa phương phải hỏi Trung ương, tỉnh phải hỏi bộ trưởng, rất nhiều vấn đề chưa rõ vì văn bản”. Do đó, đại biểu Lê Xuân Thân đề nghị cần rà soát kỹ các nội dung cụ thể. (Laodong.vn 01/11, Phạm Đông – Thùy Linh)Về đầu trang

Bảo mật, bảo đảm an toàn thông tin để xây dựng chính quyền điện tử

Sáng 1-11, Thành ủy Hà Nội tổ chức Hội nghị quán triệt các nội dung cơ bản của Nghị quyết số 56-NQ/TƯ ngày 5-3-2020 của Bộ Chính trị về chiến lược phát triển ngành Cơ yếu Việt Nam đến năm 2030 và định hướng đến năm 2045; các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác cơ yếu, an ninh, an toàn thông tin, bảo mật thông tin.

Phát biểu khai mạc, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Nguyễn Thị Tuyến cho biết: Hiện nay, tình hình chính trị, an ninh thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến nhanh và phức tạp. Các thách thức về chiến tranh thông tin, chiến tranh trên không gian mạng đang hiện hữu và ngày càng quyết liệt, đe dọa an ninh toàn cầu. Trong nước, cùng sự phát triển mạnh mẽ về khoa học và công nghệ, bên cạnh những mặt tích cực, việc lộ lọt thông tin bí mật nhà nước tại một số cơ quan trọng yếu có chiều hướng gia tăng; các thế lực thù địch tăng cường hoạt động, cài cắm, móc nối, mua chuộc với tính chất, mức độ ngày càng tinh vi, nghiêm trọng.

Theo Phó Bí thư Thường trực Thành ủy, Thủ đô Hà Nội có vị trí, vai trò quan trọng, là “Trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ và hội nhập quốc tế; một động lực phát triển của vùng Đồng bằng sông Hồng và cả nước”. Hà Nội cũng là thành phố đông dân với trên 8,3 triệu người, chiếm 8,5% dân số của cả nước; có 30 quận, huyện, thị xã; 579 xã, phường, thị trấn; nhiều cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn. Đảng bộ Thủ đô cũng là Đảng bộ lớn nhất cả nước với 50 đảng bộ cấp trên cơ sở trực thuộc Thành ủy, hơn 47 vạn đảng viên, chiếm khoảng 9% tổng số đảng viên của cả nước.

Nghị quyết số 15-NQ/TƯ ngày 15-5-2022 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đề ra nhiệm vụ, giải pháp thời gian tới là: Phát triển đô thị Hà Nội thông minh, hiện đại, có bản sắc, tạo hiệu ứng lan tỏa, liên kết vùng đô thị phía Bắc và cả nước. Ngày 30-12-2022, Thành ủy đã ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TU về chuyển đổi số, xây dựng thành phố Hà Nội thông minh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

Xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ trên, thành phố xác định, trong giai đoạn phát triển Thủ đô hiện nay, công tác bảo đảm, bảo mật, an toàn thông tin ngày càng có vai trò quan trọng và then chốt. Nếu không có bảo mật, an toàn thông tin, sẽ không thể xây dựng chính quyền điện tử, không thể chuyển đổi số và triển khai chính quyền thông minh, đô thị thông minh.

Phó Bí thư Thường trực Thành ủy cũng khẳng định, thời gian qua, công tác cơ yếu luôn được Thành ủy quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện bảo đảm theo quy định.

Ngay sau khi Nghị quyết số 56-NQ/TƯ ban hành, trên cơ sở hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Trung ương, Thường trực Thành ủy Hà Nội đã giao Ban Tuyên giáo Thành ủy, Văn phòng Thành ủy ban hành hướng dẫn để tuyên truyền, nghiên cứu, quán triệt và thực hiện Nghị quyết.

Để triển khai hiệu quả Nghị quyết số 56-NQ/TƯ của Bộ Chính trị, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy đề nghị các đại biểu nêu cao tinh thần trách nhiệm, tiếp tục nghiên cứu, tiếp thu kỹ lưỡng các nội dung được học tập, quán triệt, đặc biệt là những chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp trong Nghị quyết của Bộ Chính trị; việc thực hiện pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực cơ yếu, an toàn, an ninh thông tin, bảo mật thông tin để có những giải pháp phù hợp triển khai thực hiện có hiệu quả tại địa phương, đơn vị trong năm 2023 và những năm tiếp theo.

Cấp ủy, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị tiếp tục thực hiện tốt các nội dung theo hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Thành ủy; thường xuyên, kịp thời tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác bảo mật, an toàn thông tin nhất là giảm thiểu nguy cơ về tình hình lộ lọt thông tin bí mật nhà nước. (Hanoimoi.com.vn 01/11, Hương Ly)Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

TPHCM: Quyết liệt cải cách hành chính hiệu quả hơn nữa

Với một đô thị có nhịp sống sôi động với hơn 10 triệu dân như TPHCM, nhu cầu thực hiện các giao dịch hành chính của người dân và doanh nghiệp luôn rất lớn. Thực tế đó đòi hỏi các cơ quan, đơn vị, địa phương phải không ngừng nâng cao cách thức vận hành, ứng dụng công nghệ, cung cách phục vụ để công tác cải cách hành chính ngày một hiệu quả hơn nữa. Tuy nhiên, ở nhiều đơn vị, địa phương, đây vẫn là vấn đề khiến nhiều người dân bức xúc.

Bên cạnh những mô hình hay, hiệu quả về cải cách hành chính, ở nhiều đơn vị, địa phương, tình trạng chậm trễ, thiếu quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành vẫn còn xảy ra.

Bà Nguyễn Thị Hằng, sinh năm 1968, ngụ phường 1, quận Bình Thạnh suốt hơn hai năm qua đã nhiều lần nộp hồ sơ lên cơ quan chức năng của quận để làm thủ tục hoàn công căn nhà của gia đình. Tuy nhiên, qua nhiều lần tiếp xúc, thực hiện các giao dịch hành chính, bà Hằng vẫn chưa thể hoàn tất hồ sơ này theo nhu cầu của mình.

Bà Hằng cho rằng, năm 2019, khi xây dựng nhà, gia đình bà thực hiện theo các thiết kế, hồ sơ được cơ quan chức năng cấp duyệt. Riêng với ô che cầu thang, gia đình bà có thiết kế mái che bằng vật liệu nhẹ. Ở bên hông căn nhà, để bảo đảm an ninh trật tự, bà cũng gắn thêm lưới sắt nằm trong ranh giới hạn của đất nhà mình và hoàn toàn không ảnh hưởng đến các hộ dân chung quanh.

Do thời gian chờ việc phản hồi kết quả từ phía các cơ quan chức năng của quận Bình Thạnh quá lâu, gia đình bà Hằng đã có đơn khiếu nại và tiếp xúc công dân với lãnh đạo quận để tìm câu trả lời xác đáng. Tuy nhiên, sau hai lần tiếp xúc với lãnh đạo quận, đến nay, việc xử lý hồ sơ hoàn công nhà của gia đình bà Hằng vẫn chưa thực hiện xong.

Đáng nói, trong lần tiếp xúc gần nhất, lãnh đạo quận Bình Thạnh đã chỉ đạo các cơ quan chức năng có văn bản tham mưu, hướng giải quyết để thông tin đến bà Hằng trước ngày 15/10, tuy nhiên, đến thời điểm 31/10 gia đình bà Hằng vẫn chưa nhận được văn bản chính thức nào từ phía Ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh.

Trong nhiều năm trở lại đây, cải cách hành chính là công tác luôn được lãnh đạo thành phố triển khai quyết liệt để đồng hành, hỗ trợ người dân. Những nỗ lực này đã góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế-xã hội khi các giao dịch, thủ tục hành chính của người dân, doanh nghiệp được thực hiện nhanh hơn.

Cùng với đó, với sự ứng dụng công nghệ vào quá trình thực hiện cũng góp phần quan trọng vào quá trình giải quyết cũng như chuyển đổi số của thành phố. Thành phố Hồ Chí Minh cũng là địa phương có nhiều mô hình cải cách hành chính hiệu quả, nổi bật được nhiều nơi nhân rộng nhằm tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.

Và năm 2023, thành phố tiếp tục lấy công tác cải cách hành chính là một trong các nội dung trọng tâm để đưa vào chủ đề năm là: “Nâng cao hiệu quả hoạt động công vụ, đẩy mạnh cải cách hành chính và cải thiện môi trường đầu tư; thúc đẩy phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội”.

Tuy vậy, bên cạnh các kết quả đạt được, công tác cải cách hành chính vẫn tiếp tục bộc lộ nhiều hạn chế. Giám đốc Sở Nội vụ Thành phố Hồ Chí Minh Huỳnh Thanh Nhân cho biết, công tác cải cách hành chính vẫn còn những điểm nghẽn như: tỷ lệ hồ sơ quá hạn còn cao; cung cấp dịch vụ công còn yếu; thanh toán trực tuyến chưa đáp ứng mục tiêu của Chính phủ; số hóa hồ sơ, sắp xếp tổ chức bộ máy chưa đạt được như yêu cầu…

Theo ông Huỳnh Thanh Nhân, là một đô thị lớn nên lượng hồ sơ người dân thực hiện giao dịch trong ngày là rất lớn cũng là một trong các nguyên nhân dẫn đến sự quá tải, chậm trễ. Tuy nhiên, một phần nguyên nhân lớn cũng đến từ việc người đứng đầu các cơ quan hành chính chưa quan tâm, sâu sát đến công tác kỷ luật hành chính, chưa chỉ đạo quyết liệt trong thực hiện cải cách hành chính.

Nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác cải cách hành chính, kết luận phiên họp Ban Chỉ đạo cải cách hành chính quý 3/2023 mới đây, Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh Phan Văn Mãi yêu cầu thủ trưởng sở, ban, ngành, chủ tịch ủy ban nhân dân các địa phương tăng cường trách nhiệm công vụ, trách nhiệm của người đứng đầu; từng cán bộ, công chức, viên chức gắn với nhiệm vụ được phân công.

Đồng thời, tập trung giải quyết hồ sơ tồn đọng; rà soát quy trình nội bộ, giảm khâu trung gian. Thực hiện cải tiến công tác phối hợp giữa các sở, ban, ngành và địa phương theo hướng xác định cụ thể đối tượng lấy ý kiến, nội dung lấy ý kiến, nội dung trả lời, thời gian trả lời, mẫu hóa văn bản trả lời trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin và chữ ký số.

Ông Phan Văn Mãi cũng yêu cầu các sở ngành, địa phương phải công khai danh sách cán bộ, công chức, viên chức xử lý hồ sơ hành chính chậm cũng như nghiêm túc gửi thư xin lỗi khi giải quyết hồ sơ trễ hạn đối với người dân, doanh nghiệp. (Nhandan.vn 31/10, Quang Quý)Về đầu trang

Yên Bái: Để hạnh phúc, người dân phải hài lòng về nhiều mặt

Chỉ số “hạnh phúc” mà tỉnh Yên Bái đưa vào Nghị quyết Đại hội chính là việc xác định mức độ hài lòng của người dân trên 3 tiêu chí chính: Sự hài lòng về cuộc sống, sự hài lòng về môi trường sống và tuổi thọ trung bình, cùng số năm sống khỏe của người dân…

Có thể thấy, để hạnh phúc, người dân phải hài lòng về nhiều mặt. Từ lẽ đó, để cụ thể hoá Nghị quyết, tỉnh Yên Bái đã ban hành hàng trăm đề án, kế hoạch, bảo đảm phủ kín trên tất cả các lĩnh vực, từ kinh tế tới văn hóa, xã hội, môi trường, cho cả vùng thấp và vùng cao, nông thôn, thành thị... Đây là yếu tố quan trọng để triển khai thực hiện mục tiêu xây dựng chỉ số hạnh phúc cho người dân. Đây là nội dung bài số 3 cũng là bài cuối của loạt bài “Chỉ số Hạnh phúc” - Thước đo hoạt động cấp ủy Yên Bái”.

Bà Vũ Thị Hiền Hạnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái khi nói về quan điểm và cách thức triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIX của tỉnh luôn nhắc đi nhắc lại về “chỉ số hạnh phúc”: "Có thể nhắc lại việc đưa Chỉ số hạnh phúc vào Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020 - 2025 và định hướng phát triển “xanh, hài hòa, bản sắc, hạnh phúc” được coi là điểm mới trong chiến lược phát triển của tỉnh - xuất phát từ nhận định và triết lý riêng của Yên Bái. Đây cũng là việc mới, việc khó, chưa có tiền lệ, nên tỉnh Yên Bái xác định không cầu toàn mà phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm theo lộ trình và bước đi cụ thể, thận trọng, bài bản từng năm".

Theo nữ Phó Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái, ngay trong những năm đầu của nhiệm kỳ, tỉnh đã kịp thời ban hành nhiều nghị quyết, đề án, chính sách, phủ kín trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường.... Đặc biệt, đã quan tâm bố trí nguồn lực và ban hành các chính sách cho phát triển kinh tế - xã hội vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của nhân dân các dân tộc trong tỉnh quyết tâm phấn đấu xây dựng cuộc sống ngày càng hạnh phúc hơn.

Bên cạnh đó, hàng năm, Tỉnh ủy đều ban hành Kế hoạch, theo tinh thần “giao chỉ tiêu, khoán sản phẩm” và “đặt hàng”, phân công cụ thể cho từng ngành, từng địa phương, cơ quan, đơn vị của tỉnh trong thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, cũng như nâng cao "chỉ số hạnh phúc” cho người dân. Qua đó, từng ngành, từng địa phương phải xác định được các giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài; có kết quả, sản phẩm cụ thể thể hiện đặc trưng của mỗi ngành, mỗi địa phương.

Tại huyện Trạm Tấu, ông Giàng A Thào, Bí thư Huyện ủy cho biết, để nâng cao sự hài lòng của người dân về cuộc sống, huyện xác định trước hết phải nâng cao các điều kiện kinh tế, vật chất. Từ quan điểm này, huyện đã quyết liệt triển khai nhiều giải pháp để thay đổi tư duy của bà con từ “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp”; cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn, chuyển dịch mạnh từ sản xuất lấy số lượng, sản lượng làm mục tiêu sang tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng của sản phẩm… Từ tư duy và cách làm này, đến nay huyện đã xây dựng được các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, như hơn 610 ha các giống lúa nương đặc sản, hơn 400 ha khoai sọ nương, gần 740 ha cây chè Shan tuyết, hơn  4.600 ha cây sơn tra…

"Từ Ban Thường vụ, Ban Chấp hành, thủ trưởng các cơ quan, đặc biệt là ở các xã triển khai trực tiếp cho người dân để phát triển kinh tế. Nếu cán bộ tốt, cán bộ làm mạnh, cán bộ giỏi, cán bộ tuyên truyền sâu rộng để người dân hiểu và làm theo thì chắc chắn sẽ thành công", Bí thư Huyện ủy Trạm Tấu khẳng định.

Trong việc nâng cao sự hài lòng của người dân về đời sống xã hội - tinh thần, ngoài quan tâm phát triển, gắn kết hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa - xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, đảm bảo an sinh...., Yên Bái cũng nỗ lực nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động và phục vụ của các cơ quan hành chính nhà nước để đáp ứng sự hài lòng của người dân, tổ chức. Nhờ đó, năm 2022, chỉ số cải cách hành chính của tỉnh đã xếp thứ 14/63 tỉnh, thành phố trong cả nước, tăng 10 bậc so với năm trước; Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước cũng tăng 5 bậc...

Ở các tiêu chí “Nâng cao sự hài lòng của người dân về môi trường sống” và "Thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng công tác y tế, chăm sóc sức khỏe, nâng cao tuổi thọ trung bình của người dân", Yên Bái đã tăng cường việc quản lý tài nguyên khoáng sản, xử lý nước thải, chất thải; quan tâm sửa chữa, nâng cấp, hoàn thiện các công trình cấp nước sạch tập trung theo hướng hiện đại, đồng bộ; quan tâm ưu tiên nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, phát triển nguồn nhân lực ngành y tế; bảo đảm mọi người dân được bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tham gia bảo hiểm y tế và thụ hưởng các dịch vụ y tế...

Theo ông Đỗ Đức Duy, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Yên Bái, để tiếp tục nâng cao "Chỉ số hạnh phúc" cho người dân, không có nhiệm vụ, giải pháp nào nằm ngoài các nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Trong đó, tỉnh sẽ luôn chú ý phát huy tinh thần gương mẫu, tích cực của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nâng cao chỉ số hạnh phúc cho người dân và các phong trào được phát động tại cơ quan, đơn vị, khu dân cư, để từ đó xây dựng gia đình, khu dân cư, trường học, cơ quan hạnh phúc. (VOV.vn 01/11, Nhóm PV)Về đầu trang 

Sở Xây dựng Thái Nguyên: Sẽ cấp phép xây dựng online từ cuối năm 2023

Cụ thể hóa thực hiện nhiệm vụ chuyển đổi số theo chủ trương được phê duyệt, Sở Xây dựng Thái Nguyên đang gấp rút triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu về cấp phép xây dựng, phấn đấu hoàn thiện và khai thác vào cuối năm 2023.

Phó Giám đốc Sở Xây dựng Thái Nguyên Bùi Quang Hưng cho biết: Ngành xác định công nghệ thông tin ngày càng đóng vai trò quan trọng cho quá trình cải cách hành chính trong công tác quản lý, điều hành của cơ quan quản lý Nhà nước, đặc biệt là công tác chuyển đổi số.

Trên cơ sở đó, Sở Xây dựng Thái Nguyên đã thực hiện nhiệm vụ chuyển đổi số theo chủ trương được phê duyệt, xây dựng, ban hành hàng năm các kế hoạch về phát triển chính quyền số, đảm bảo an toàn thông tin mạng và thành lập Tổ công tác chuyển đổi số của đơn vị. Duy trì và thực hiện tốt việc triển khai ứng dụng phần mềm quản lý và điều hành văn bản, một cửa điện tử, quản lý cán bộ công chức viên chức, triển khai và ký số trên văn bản điện tử, số hóa và ký số hồ sơ một cửa điện tử… Đồng thời, thường xuyên triển khai thực hiện các văn bản chỉ đạo của Bộ Xây dựng, UBND tỉnh, hướng dẫn của các Sở, ban, ngành về công tác chuyển đổi số, đảm bảo an toàn thông tin.

Đến nay, Sở Xây dựng Thái Nguyên đã cơ bản nâng cấp hạ tầng và trang thiết bị đáp ứng an toàn thông tin và công tác chuyển đổi số: Mạng lan, các thiết bị phục vụ cho việc lưu trữ được kiểm định, bảo mật an toàn dữ liệu thông tin như: Bộ tích điện, USB, máy scan, phần mềm virut có bản quyền… Thực hiện và có biện pháp sao lưu, đảm bảo an toàn dữ liệu thông tin. Đảm bảo an toàn hệ thống tin mạng lan cấp độ 2 đã được phê duyệt: Cài đặt thiết bị tường lửa, virus… Xây dựng Kế hoạch chuyển đổi IPv6 cho hệ thống mạng, dịch vụ công nghệ thông tin.

Sở đã chủ động bố trí cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin. Tham gia các khóa bồi dưỡng, tập huấn do Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Khoa học và Công nghệ, Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức như: Tập huấn hệ thống quản lý văn bản, hệ thống dịch vụ công trực tuyến, tập huấn đảm bảo an toàn thông tin, tập huấn blockchain trong quản lý… Nhờ vậy, Sở Xây dựng Thái Nguyên đã triển khai rà soát và tham mưu công bố sửa đổi 10 thủ tục hành chính thay đổi mẫu đơn do liên quan đến cư trú; 5 thủ tục hành chính do bỏ thành phần hồ sơ về xuất trình sổ hộ khẩu giấy.

Sở cũng sử dụng hiệu quả các ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý Nhà nước và chuyên môn gồm: Hệ thống phản ánh kiến nghị, hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ; hệ thống báo cáo của Bộ Xây dựng; hệ thống cơ sở dữ liệu về cải cách hành chính của tỉnh; hệ thống thông tin phản ánh hiện trường của tỉnh; hệ thống tổ chức bộ máy, biên chế và cán bộ công chức, viên chức; phần mềm kế toán Misa; phần mềm quản lý tài sản; phần mềm dự toán F1; phần mềm sát hạch chứng chỉ hành nghề…

Đến nay, 100% cán bộ công chức thuộc Sở cài đặt và tạo tài khoản ứng dụng VneID, tài khoản dịch vụ công quốc gia. Toàn bộ thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền được công khai thông tin trên cổng dịch vụ công quốc gia, cổng dịch vụ công của tỉnh và trên trang thông tin điện tử của Sở. Kết quả: Tỷ lệ hồ sơ thực hiện giải quyết thủ tục hành chính theo dịch vụ công toàn tỉnh đạt chỉ tiêu theo quy định, đạt trên 70%. (Baoxaydung.com.vn 01/11, Nguyễn Thành)Về đầu trang

Thái Nguyên: Nỗ lực cải thiện chỉ số tiếp cận đất đai

Thời gian qua, ngành Tài nguyên và Môi trường (TNMT) tỉnh Thái Nguyên đã tăng cường các giải pháp để cải thiện, nâng cao chỉ số tiếp cận đất đai, góp phần nâng cao Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Đây cũng là giải pháp góp phần đẩy mạnh thu hút đầu tư của tỉnh trong thời gian tới.

Trong 10 chỉ số thành phần của PCI, chỉ số về tiếp cận đất đai là chỉ số quan trọng để cạnh tranh và thu hút đầu tư, phản ánh hai khía cạnh mà doanh nghiệp quan tâm, đó là việc tiếp cận đất đai có dễ dàng hay không và sự bảo đảm về tính ổn định trong quá trình sử dụng đất. Nỗ lực nâng cao chỉ số tiếp cận đất đai và các chỉ số thành phần khác thể hiện rất rõ quyết tâm của Thái Nguyên từng bước trở thành trung tâm thu hút vốn FDI số 1 của miền Bắc.

Theo số liệu PCI đã công bố trong những năm gần đây của tỉnh cho thấy, chỉ số tiếp cận đất đai tỉnh Thái Nguyên liên tục tăng điểm (năm 2019 là 6,07 điểm; năm 2020 là 6,68 điểm; năm 2021 và 2022 đều đạt 7,27 điểm), xếp thứ 2 của cả nước. Để đạt được kết quả này là nỗ lực cố gắng rất lớn của cả tỉnh nói chung, ngành TNMT nói riêng. Nhiều năm liền, ngành TNMT không ngừng nâng cao kết quả, chất lượng công việc, xem việc cải thiện chỉ số tiếp cận đất đai là nội dung quan trọng trong nhiệm vụ cải cách hành chính.

Theo đó, Sở TNMT đã tích cực, chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng, địa phương trong tỉnh rút ngắn thời gian cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho các tổ chức, cá nhân từ 30 ngày xuống còn 24 ngày. Theo đại diện Sở TNMT, hàng năm, Sở tiếp nhận, giải quyết hàng nghìn hồ sơ thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực đất đai của các tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp.

Do khối lượng công việc lớn nên để giải quyết được nội dung này, Sở TNMT luôn chú trọng công khai, minh bạch các thủ tục hành chính ở bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trên Website của đơn vị, kịp thời triển khai các văn bản pháp lý để người dân, doanh nghiệp nắm rõ, chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, tránh việc phải đi lại nhiều. Đồng thời, quán triệt đến tất cả các cán bộ về đạo đức, thái độ ứng xử, nhất là những người trực tiếp tiếp nhận, giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính.

Xác định lĩnh vực đất đai thường phát sinh những vấn đề phức tạp, dễ xảy ra tranh chấp nên đòi hỏi các cán bộ làm nhiệm vụ trong lĩnh vực này phải có trình độ chuyên môn, năng lực, không chỉ giải quyết công việc nhanh chóng mà còn phải chính xác. Vì vậy, hàng năm, Sở TNMT cũng bố trí, cử cán bộ đi đào tạo, tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

Theo đại diện lãnh đạo Sở TNMT, mặc dù chỉ số PCI của tỉnh những năm gần đây đều đứng trong top khá toàn quốc, song vẫn chưa đạt so với mục tiêu của tỉnh đề ra. Do đó, tỉnh đang tiếp tục có những giải pháp để cải thiện tốt hơn chỉ số tiếp cận đất đai nói riêng và các chỉ số thành phần còn lại nói chung.

Trong đó, Sở TNMT đã và đang tiếp tục tham mưu với UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan chức năng cùng phối hợp thực hiện để giải quyết các vấn đề liên quan để doanh nghiệp không phải đi lại nhiều nơi. Còn đối với các đơn vị trực thộc Sở, căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, cũng đang xây dựng kế hoạch, đề ra giải pháp cụ thể để cải thiện, nâng cao các chỉ số thành phần có liên quan, gắn trách nhiệm với các phòng chuyên môn, các đơn vị trực thuộc và coi đây là một trong những tiêu chí để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ công tác trong năm.

Ngoài ra, Sở TNMT cũng đang tập trung tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng; giải quyết các thủ tục giao đất, thuê đất đảm bảo thời gian theo quy định, góp phần đưa các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp sớm có hiệu quả. Riêng trong năm 2023, Sở đã thực hiện rà soát các dự án chưa hoàn thành các thủ tục về đất đai nhằm hỗ trợ doanh nghiệp đẩy nhanh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hàng chục tổ chức, đơn vị doanh nghiệp.

Đồng thời, các thủ tục hành chính được thực hiện liên thông, kết nối điện tử, gắn với các biện pháp kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ phận một cửa; nghiên cứu, công khai các quy trình, thủ tục về tiếp cận đất đai tới doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân để đầu tư, sản xuất kinh doanh; nâng cao chất lượng dịch vụ kỹ thuật về đất đai hỗ trợ doanh nghiệp...

Với những giải pháp thiết thực, cụ thể, tin rằng chỉ số tiếp cận đất đai sẽ tiếp tục "ghi điểm" trong thời gian tới, trở thành một trong những "đòn bẩy" thúc đẩy cải thiện năng lực cạnh tranh của tỉnh, đưa kinh tế phát triển. (Baothainguyen.vn 01/11, Dương Hưng) Về đầu trang

Điện Biên: Ðẩy mạnh sử dụng dịch vụ công trực tuyến

Cung cấp dịch vụ công trực tuyến, nhất là mức độ 3, mức độ 4 là nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số; nâng cao hiệu lực, hiệu quả, công khai minh bạch hoạt động của cơ quan Nhà nước đồng thời làm giảm thời gian, chi phí cho tổ chức, cá nhân khi thực hiện các thủ tục hành chính. Những năm qua UBND tỉnh đã chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp, nhất là về xây dựng hạ tầng kỹ thuật và đẩy mạnh công tác tuyên truyền thay đổi nhận thức, thói quen của người dân.

Việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến của các cơ quan Nhà nước trên địa bàn tỉnh hiện nay đã đạt được một số kết quả bước đầu. Về cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin cơ bản được đầu tư xây dựng đáp ứng yêu cầu. Ðiện Biên là 1 trong 9 tỉnh đầu tiên kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đồng thời cơ bản hoàn thành kết nối với các bộ, ngành Trung ương.

Tỷ lệ máy tính trong cơ quan Nhà nước các cấp đạt 100%; tất cả ứng dụng có dữ liệu dùng chung của tỉnh được kết nối, sử dụng thông qua nền tảng tích hợp và chia sẻ dữ liệu cấp tỉnh; trên 70% số dịch vụ dữ liệu có trên nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia được tỉnh đưa vào sử dụng chính thức. Ðiện Biên đã xây dựng Trung tâm giám sát, điều hành an toàn, an ninh mạng thực hiện đảm bảo an toàn thông tin theo mô hình 4 lớp, đồng thời kết nối, chia sẻ thông tin giám sát an toàn thông tin với Trung tâm giám sát an toàn không gian mạng quốc gia.

Kết quả đánh giá chỉ số phục vụ người dân, doanh nghiệp trong thực hiện thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công trên Cổng dịch vụ công quốc gia, tỉnh Ðiện Biên hiện xếp thứ 11/63 tỉnh, thành phố cả nước. Hiện nay tỉnh Ðiện Biên đang cung cấp 1.789 thủ tục hành chính được đồng bộ dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu quốc gia, trong đó 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện được cung cấp dưới dạng dịch vụ công trực tuyến toàn trình trên hệ thống của tỉnh. 100% hồ sơ thủ tục hành chính do các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, UBND cấp huyện, UBND xã tiếp nhận, giải quyết được thực hiện qua hệ thống.

Nhờ đó, những tháng đầu năm 2023, tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến phát sinh hồ sơ đạt 93%; tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt trên 70%; tỷ lệ thủ tục hành chính có phát sinh giao dịch thanh toán trực tuyến đạt 59,35%; tỷ lệ hồ sơ thanh toán trực tuyến đạt 20,87%; hồ sơ được số hóa, kết quả giải quyết thủ tục hành chính đạt 80,38%; hồ sơ cấp kết quả điện tử đạt 28,63%. Qua đó góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan Nhà nước theo hướng công khai, minh bạch, đảm bảo phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn.

Tuy đạt những kết quả tích cực nhưng hiệu quả cung cấp dịch vụ công trực tuyến tại một số địa bàn chưa cao do hiện nay còn 7% số hộ dân chưa được tiếp cận điện lưới quốc gia, một số bản thuộc địa bàn “lõm” sóng điện thoại, nhiều người dân chưa có điện thoại thông minh. Vì vậy, người dân không thực hiện được các dịch vụ công trực tuyến và việc tuyên truyền sử dụng dịch vụ công trực tuyến hiệu quả còn hạn chế. Trang thiết bị, cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính, nhất là tại cấp xã của một số huyện còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu. Dịch vụ công trực tuyến là lĩnh vực còn tương đối mới nên đa số người dân vẫn có thói quen làm các thủ tục trực tiếp, ngại tiếp xúc với công nghệ. Một số quy trình, thủ tục thực hiện dịch vụ công trực tuyến còn rắc rối, nhiều thao tác phức tạp khiến người dân gặp khó khăn.

Ðể nâng cao hiệu quả thực hiện dịch vụ công trực tuyến, vừa qua tại hội thảo “Giải pháp tăng cường tiếp cận dịch vụ công trực tuyến tại các tỉnh Ðiện Biên, Bình Phước và Ninh Thuận”, tỉnh Ðiện Biên đã đề xuất một số giải pháp cơ bản. Trước hết là tranh thủ mọi nguồn lực để đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật. Trong đó, nhiệm vụ quan trọng là đưa điện lưới quốc gia đến các địa bàn vùng cao, vùng xa; xóa các điểm lõm về internet, khả năng phủ sóng 3G/4G trên toàn tỉnh. Ðầu tư nâng cấp các trang thiết bị phục vụ chuyển đổi số và thực hiện dịch vụ công trực tuyến trên toàn tỉnh.

Xác định việc triển khai dịch vụ công trực tuyến là một quá trình có tính đặc thù của từng địa phương, do đó tỉnh Ðiện Biên lựa chọn các vấn đề là thế mạnh để tập trung đầu tư, phát triển trước với việc xác định rõ lộ trình, mục tiêu, bước đi cụ thể trong chuyển đổi số, cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Trong tổ chức thực hiện cần nghiên cứu thực tế tiếp cận, sử dụng của người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, người dân vùng sâu, vùng xa, người có trình độ học vấn thấp, người khuyết tật, người chưa thông thạo tiếng Việt... Từ đó có cách thức triển khai linh hoạt, chủ động, sáng tạo trong quá trình thực hiện chuyển đổi số, cung cấp dịch vụ công trực tuyến. (Baodienbienphu.com.vn 01/11)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Nâng cấp dịch vụ công trực tuyến, số hóa văn bản cho “kho bạc 3 không"

Với việc gia tăng các tiện ích trên dịch vụ công trực tuyến, Kho bạc Nhà nước đã trở thành kho bạc điện tử khi mọi giao dịch được thực hiện cơ bản trên môi trường mạng. Tuy nhiên, để trở thành “kho bạc 3 không” với không khách hàng, không tiền mặt và không hồ sơ giấy, Kho bạc Nhà nước đang tiếp tục nâng cấp dịch vụ công trực tuyến, đẩy nhanh việc số hóa các hồ sơ, văn bản trong giao dịch.

Với việc triển khai dịch vụ công trực tuyển (DVCTT), Kho bạc Nhà nước (KBNN) đã mở ra kênh giao dịch điện tử của KBNN, đưa KBNN đến gần hơn nữa với khách hàng và xã hội qua mạng internet.

Từ DVCTT, KBNN đã triển khai quy trình liên thông giữa các chương trình ứng dụng DVCTT, Tabmis (Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc) và thanh toán song phương điện tử giúp tự động hóa tối đa các bước xử lý trên chương trình, nâng cao năng suất, chất lượng lao động cho đội ngũ công chức KBNN, chuẩn hóa dữ liệu của ĐVSDNS khi lập và kiểm soát hồ sơ, chứng từ trên DVCTT.

KBNN cũng đã hoàn thành việc tích hợp DVCTT lên Cổng Dịch vụ công quốc gia và phối hợp với Văn phòng Chính phủ, các bộ, ngành liên quan triển khai mở rộng các dịch vụ thu phạt vi phạm hành chính.

Trong năm 2021, KBNN đã hiện đại hóa quy trình nghiệp vụ trên nền tảng số theo hướng liên thông. Theo đó người dùng KBNN chỉ thực hiện trên hệ thống DVCTT (phân hệ dành cho đơn vị kho bạc) và tự động hạch toán kế toán, thanh toán trên Tabmis, thanh toán điện tử với ngân hàng.

Ngày 4/3/2022, KBNN đã ban hành Quyết định số 935/ QĐ-KBNN về Quy định chuẩn kết nối và tích hợp phần mềm ứng dụng của các cơ quan, tổ chức vào hệ thống DVCTT KBNN. Đây là cơ sở để các cơ quan, ĐVSDNS có thể kết nối, tích hợp dữ liệu trực tiếp từ phần mềm ứng dụng của đơn vị vào hệ thống DVCTT, giúp giảm thiểu việc nhập, xử lý dữ liệu trùng lặp nhiều lần. Qua đó tăng cường trải nghiệm của người dùng, góp phần nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ của KBNN, đồng thời giảm tải cho hệ thống DVCTT KBNN...

Với sự nỗ lực gia tăng các tiện ích trên DVCTT cùng việc phối hợp thu ngân sách nhà nước và ủy nhiệm chi với các hệ thống ngân hàng thương mại trong thời gian gần đây, KBNN đã hoàn thành được “2 không” (không khách hàng giao dịch, không giao dịch bằng tiền mặt) trong mục tiêu “3 không” đã đặt ra.

Hiện nay, tại KBNN vẫn còn tình trạng ĐVSDNS gửi hồ sơ giấy. Lý giải cho tình trạng này, bà Trần Thị Huệ - Phó Tổng Giám đốc KBNN cho biết, do đây là hồ sơ mật hoặc hồ sơ là hợp đồng bị quá dung lượng nên ĐVSDNS không thể scan để gửi trên DVCTT, do đó bắt buộc phải mang trực tiếp đến kho bạc.

Để giải quyết tình trạng này và để KBNN thực sự trở thành “kho bạc 3 không”, theo bà Huệ, rất cần sự vào cuộc đồng bộ của các bên bao gồm KBNN, các ĐVSDNS cùng các bộ, ngành, địa phương. Theo đó, các ĐVSDNS cần thực hiện số hóa các giấy tờ, chứng từ thanh toán trong thu chi thường xuyên và chia sẻ, liên thông phần mềm kế hoạch với KBNN thông qua Cổng dịch vụ công.

Đối với các hồ sơ liên quan đến chi đầu tư, Phó Tổng Giám đốc KBNN cho biết, KBNN đã có báo cáo để xây dựng các quy định pháp lý xây dựng hợp đồng điện tử. Hiện nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng đang xây dựng dự thảo nghị định về nội dung này, dự kiến trình Chính phủ vào năm 2024.

Với những nỗ lực của KBNN, theo bà Huệ, kỳ vọng đến năm 2024, KBNN sẽ có đủ điều kiện kỹ thuật để chia sẻ dữ liệu với các ĐVSDNS về hợp đồng điện tử. Theo đó, khi các bên thực hiện được đồng bộ trên cổng dịch vụ công sẽ giảm chứng từ giấy, giúp KBNN nhanh chóng trở thành Kho bạc 3 không – nền tảng vững chắc cho Kho bạc số vào năm 2030. (Thoibaotaichinhvietnam.vn 01/11, Vân Hà) Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

“Tăng lương để giảm tham nhũng vặt”

Theo ĐBQH Nguyễn Tạo (Đoàn Lâm Đồng), những tiêu cực xã hội có nguyên nhân rất lớn là thu nhập không bảo đảm cho đời sống, dẫn đến những hành vi không chuẩn mực như tham nhũng vặt hay gây sách nhiễu.

Khi thực hiện cải cách tiền lương, khu vực công sẽ không tính lương theo hệ số nữa mà có bảng chức vụ, chức danh lãnh đạo trong hệ thống chính trị (bao gồm cả các đơn vị sự nghiệp công lập) từ Trung ương đến cấp xã; bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với công chức, viên chức không giữ chức danh lãnh đạo và bảng lương đối với lực lượng vũ trang.

Đại biểu Nguyễn Tạo, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng cho rằng, cải cách tiền lương từ ngày 1/7/2024 là điều mong mỏi nhất đối với đội ngũ công chức, viên chức. Đại biểu đặc biệt lưu ý, từ kinh nghiệm trước đây có thể thấy, những tiêu cực xã hội có nguyên nhân rất lớn là thu nhập không bảo đảm cho đời sống, dẫn đến những hành vi không chuẩn mực như tham nhũng vặt hay gây sách nhiễu.

“Khi tiến hành xử lý kỷ luật đã phát hiện một nguyên nhân lớn và hết sức quan trong liên quan đến thu nhập. Một sinh viên ra trường, với 6-7 năm của ngành y hay hơn 4 năm với một cử nhân các ngành bình thường ra, nhưng lương chỉ 3 triệu - 3,5 triệu đồng. Lương như vậy thì làm sao để sống tại các đô thị lớn như Hà Nội, TP.HCM...”, đại biểu Nguyễn Tạo nói.

Theo đại biểu đoàn Lâm Đồng, cải cách tiền lương hướng tới lương, mức độ thưởng, mức độ phân công công việc đảm bảo công bằng. Từ đó, tạo ra sự công bằng trong thu nhập của những lao động cùng nhóm. Điều này sẽ là một luồng chính sách tạo dựng sự an tâm rất lớn cho các cán bộ, công chức hiện nay. Đồng thời, các bộ máy Nhà nước sẽ tính đến việc tinh giản biên chế sao cho gọn nhẹ và phát huy từng cá nhân một. Từ đó, bảo đảm vị trí việc làm, đúng người đúng việc, đúng hưởng thụ.

Chính phủ đã có nguồn lực chuẩn bị cho cải cách tiền lương, khoảng 500.000 tỷ đồng, cho lộ trình từ nay đến năm 2030. Ngoài cải cách, điều này tạo ra một sân chơi rất công bằng để thu hút lực lượng lao động có trí tuệ.

Đề cập phụ cấp đặc thù, đại biểu Nguyễn Tạo nêu cụ thể, công chức, viên chức sẽ có 70% lương cứng, còn lại là 20% của chuyên trách chuyên ngành và 10% là khen thưởng.

“Chúng ta có ngành đặc thù và có phụ cấp. Ví dụ, chính tôi có phụ cấp của người làm nghị sĩ chuyên trách. Với những ngành đặc thù khác như bác sĩ y học hạt nhân, thì hàng ngày tiếp xúc như vậy phải có phụ cấp tương xứng với công việc. Hay những công việc phải thực hiện trong điều kiện khắc nghiệt thì những người đó phải có chế độ tương quan, phụ cấp độc hại... chứ không thể cào bằng phụ cấp. Như vậy mới có thể đảm bảo công bằng”, ông Nguyễn Tạo nói.

Trao đổi thêm bên hàng lang Quốc hội, đại biểu Phạm Trọng Nghĩa (Đoàn ĐBQH tỉnh Lạng Sơn) cho rằng, với mức lương tối thiểu vùng hiện nay vẫn chưa thể đáp ứng được điều kiện khó khăn trong đời sống của người lao động khu vực tư so với phần trượt giá hiện nay.

“Vì vậy, tôi rất mong muốn Hội đồng tiền lương quốc gia sớm thương lượng trình Chính phủ tăng mức lương tối thiểu vùng cho người lao động, tốt nhất là thực hiện đồng thời với cải cách tiền lương ở khu vực công vào ngày 1/7/2024”, ông Nghĩa đề nghị.

Đại biểu Phạm Trọng Nghĩa cũng cho rằng, lương của người lao động ở khu vực tư hiện nay không áp dụng hệ số, tổng thu nhập của họ cũng không phải là cao trong khi chi phí cuộc sống của họ bị tác động từ yếu tố lạm phát thời gian qua. Hơn nữa, khoảng thời gian từ lúc tăng lương tối thiểu vùng (2022) đến 1/7/2024 là khá dài. Trong khi trước đây lương tối thiểu vùng tăng đều hàng năm, chỉ trừ thời gian bị COVID-19.

Về giờ làm, ông Nghĩa cho hay, trong khu vực công từ năm 1999, Việt Nam đã cắt giờ làm nghỉ ngày thứ 7 còn 40 giờ, còn khu vực tư vẫn giữ nguyên 48 giờ. Theo thống kê của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trong 154 nước chỉ có 2 nước có số giờ làm việc trên 48 giờ một tuần; 1/3 nước áp dụng số giờ làm 48 giờ/tuần như Việt Nam; và 2/3 nước áp dụng dưới 48 giờ. “Thời gian làm thêm Việt Nam cũng tương đối cao so với mặt bằng chung. Không có lý do gì mà đất nước phát triển mà lao động lại làm theo giờ”, đại biểu nhấn mạnh. (VOV.vn 01/11, Lê Hoàng)Về đầu trang

Cần Thơ chi thu nhập bình quân tăng thêm cho cán bộ, công chức, viên chức khi đủ điều kiện

Cần Thơ sẽ thực hiện chính sách chi thu nhập bình quân tăng thêm cho cán bộ, công chức, viên chức của thành phố vào thời điểm thích hợp, đảm bảo phù hợp với nguồn lực, điều kiện cho việc thi hành.

Nghị quyết số 45/2022/QH15 ngày 11/1/2022 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Cần Thơ, tại Điều 6 đã quy định về “Thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức thuộc Thành phố quản lý”.

Cụ thể, TP. Cần Thơ thực hiện cơ chế tạo nguồn thực hiện cải cách tiền lương theo quy định. Sau khi ngân sách Thành phố bảo đảm đủ nguồn thực hiện cải cách tiền lương và các chính sách an sinh xã hội cho cả thời kỳ ổn định ngân sách theo quy định của cấp có thẩm quyền, HĐND Thành phố được quyết định sử dụng nguồn cải cách tiền lương còn dư của ngân sách Thành phố và cho phép ngân sách cấp dưới sử dụng nguồn cải cách tiền lương còn dư để chi thu nhập bình quân tăng thêm cho cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể do Thành phố quản lý theo hiệu quả công việc với mức không quá 0,8 lần mức lương ngạch bậc, chức vụ hoặc mức lương theo vị trí việc làm, chức danh, chức vụ lãnh đạo. Mức thu nhập cho các chuyên gia, nhà khoa học, những trí thức có trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ cao của Thành phố do HĐND Thành phố quy định.

Việc sử dụng nguồn cải cách tiền lương chi thu nhập tăng thêm theo quy định nêu trên chỉ được thực hiện khi Thành phố tự cân đối được ngân sách.

Thực hiện Nghị quyết số 45/2022/QH15 ngày 11/1/2022 của Quốc hội, UBND TP. Cần Thơ đã trình HĐND thành phố chủ trương xây dựng Nghị quyết Quy định chi thu nhập bình quân tăng thêm cho cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể do thành phố quản lý; Nghị quyết quy định mức thu nhập cho chuyên gia, nhà khoa học, trí thức có trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ cao hợp tác, làm việc tại TP. Cần Thơ, giai đoạn 2022 - 2027.

Tuy nhiên, để thực hiện chính sách này, Thành phố phải tự cân đối ngân sách và đáp ứng các điều kiện khác có liên quan. Qua đó, Ban Thường vụ Thành ủy và Thường trực HĐND TP.Cần Thơ đã thống nhất chủ trương chưa thực hiện chính sách “Chi thu nhập bình quân tăng thêm cho cán bộ, công chức, viên chức và mức thu nhập cho chuyên gia, nhà khoa học, trí thức có trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ cao của thành phố” tại thời điểm này, cho đến khi đủ điều kiện, yêu cầu cụ thể nêu trong Nghị quyết số 45/2022/QH15 của Quốc hội.

Thành phố sẽ triển khai thực hiện vào thời điểm thích hợp, đảm bảo phù hợp với nguồn lực, điều kiện cho việc thi hành.

Trong thời gian tới, TP. Cần Thơ sẽ duy trì tốt nguồn thu ngân sách thành phố đảm bảo tỷ lệ tăng trưởng nguồn thu hàng năm vào khoảng 9% - 10% so với năm trước. Tiếp tục cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước, ưu tiên chi đầu tư phát triển các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội quan trọng, thiết yếu, triển khai quyết liệt, có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp của Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế- xã hội, các Chương trình mục tiêu quốc gia; chính sách tiền lương và an sinh xã hội tại địa phương; không để phát sinh các nhiệm vụ chi quá lớn; góp phần đảm bảo khả năng tự cân đối ngân sách địa phương, tạo nguồn cải cách tiền lương đủ điều kiện triển khai thực hiện chính sách.

Được biết, từ năm 2022 trở về trước, TP. Cần Thơ là địa phương có điều tiết về ngân sách Trung ương nhưng từ năm 2023, do tình hình thu ngân sách khó khăn, Cần Thơ trở thành địa phương nhận bổ sung cân đối từ ngân sách Trung ương. (Baodautu.vn 01/11, Trúc Giang) Về đầu trang

THẾ GIỚI

Trung Quốc: Cơ hội từ chính sách “giữ chân người tài” ở Hong Kong

Sau giai đoạn “thu hút người tài” năm 2022, chính quyền Khu hành chính đặc biệt Hong Kong (Trung Quốc) bắt đầu chuyển sang “giữ chân người tài”, với một trong những biện pháp quan trọng là nới lỏng chính sách cấp thị thực làm việc.

Đây là cách giúp Hong Kong giải bài toán “khát nhân lực” phục vụ cho quá trình phục hồi kinh tế, tiếp tục nâng cao năng lực cạnh tranh của trung tâm tài chính quốc tế này. Những thay đổi này hứa hẹn mang thêm nhiều cơ hội việc làm tại Hong Kong cho người lao động Việt Nam.

Theo Bác sỹ Nguyễn Hoàng Long – Nghiên cứu sinh tại Đại học Trung Văn Hong Kong (CUHK), việc Hong Kong thay đổi chính sách cấp thị thực cho công dân Việt Nam là một tiến bộ tích cực trong quan hệ giữa hai bên, mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy giao lưu văn hóa, giáo dục và hợp tác kinh tế. Những chính sách mới này đã bước đầu loại bỏ những rào cản và tạo điều kiện thuận lợi cho một sự hợp tác toàn diện. Hong Kong không chỉ được biết đến là một trung tâm tài chính sôi động của châu Á, mà còn nổi tiếng với hệ thống giáo dục hàng đầu thế giới.

Bác sĩ Nguyễn Hoàng Long cho rằng những chính sách này sẽ mang lại nhiều lợi ích cho Hong Kong, khi có ngày càng nhiều nhân tài và lực lượng lao động chất lượng cao từ Việt Nam đến học tập và làm việc ở đây, góp phần vào sự phát triển của đặc khu này. Bên cạnh đó, việc mở rộng chính sách thị thực du lịch sẽ tạo động lực để thu hút nhiều du khách Việt Nam đến thăm quan và trải nghiệm Hong Kong trong tương lai.

Khảo sát do Phòng Thương mại Hong Kong (HKGC) thực hiện vào tháng 4/2023 cho thấy 74% số công ty được khảo sát đang phải đối mặt với tình trạng thiếu lao động tay nghề cao và hơn 80% trong số đó cho biết tình trạng này đã kéo dài hơn 1 năm. Công tác phòng chống dịch COVID-19 đã cản trở các tài năng đến Hong Kong, việc di cư cũng dẫn đến tình trạng chảy máu chất xám. Số liệu chính thức cho thấy dân số lao động của Hong Kong đã giảm hơn 100.000 người trong hai năm qua, từ 3,57 triệu trong quý 2/2020 xuống còn 3,46 triệu trong quý 4/2022. Hơn 70% số người rời đi là những nhân tài công nghệ cao có kinh nghiệm quản lý và chuyên môn.

Báo cáo chính sách điều hành do Trưởng đặc khu Lý Gia Siêu (John Lee) đọc trước Hội đồng Lập pháp ngày 25/10 cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thu hút nhân tài. Do đó, chính quyền Hong Kong sẽ tiếp tục thu hút, giữ chân người tài và bồi dưỡng các tài năng của bản địa. Các biện pháp được đưa ra vào năm 2022 nhằm thu hút đầu tư và nhân tài đã đạt được kết quả tốt. Tính đến cuối tháng 9, Hong Kong đã thu hút được khoảng 160.000 đơn đăng ký, trong đó hơn 100.000 đơn được phê duyệt và khoảng 60.000 người đã đến Hong Kong. Chính quyền Hong Kong cũng sẽ mở rộng danh sách các trường đại học theo “Chương trình nhân tài cao cấp”, theo đó bắt đầu từ tháng 11, danh sách các trường đại học đủ điều kiện sẽ tăng thêm 8 trường đại học hàng đầu trong và ngoài Hong Kong lên 184.

Sau 1 năm thực hiện và xem xét chính sách thu hút người tài, chính quyền Hong Kong đã chuyển từ giai đoạn thăm dò định hướng sang giai đoạn phản ứng chính xác, có sự điều chỉnh về các đối tượng và quốc gia thu hút người tài. Ngày 30/10, "Văn phòng dịch vụ nhân tài" đã chính thức thành lập để hỗ trợ những người tài đến Hong Kong và theo dõi sự phát triển cũng như nhu cầu của họ. Hiện tại mức lương sau khi ra trường của sinh viên tốt nghiệp đại học ở Hong Kong vào khoảng 20.000-30.000 HKD (khoảng 60-90 triệu đồng Việt Nam). (TTXVN/Baotintuc.vn 01/11, Mạc Luyện)Về đầu trang./.

Các tin khác

Lượt truy cập: 11.965.920 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này