Khắc khoải A Rem

Font size : A- A A+
Nguồn: Doanh Nhân Sài Gòn - Cập nhật: Thứ Bảy, 17/12/2011 09:02 (GMT+7)
Tác giả: Hàn Thư 

Xa tít giữa trùng điệp núi đá vôi Phong Nha - Kẻ Bàng là xã Tân Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình. Nơi ấy, chỉ người A Rem sinh sống. Ông Đinh Lầu, Chủ tịch xã, bắt tay chúng tôi nói: “Vất vả lắm! Cán bộ lên với đồng bào A Rem mới thấy cả một hành trình đầy gian nan. Khổ vì con đường, khổ vì nghèo đói... nên cái chữ cũng nặng khổ theo”.

Đời bản A Rem

Bản của người A Rem do TP.HCM xây tặng

Bản của người A Rem nằm dưới dãy núi đá vôi cạnh hang Sơn Đoòng lớn nhất thế giới một ngày đường. Nay nhiều người có thể không biết A Rem nhưng nói về Sơn Đoòng người ta hoàn toàn biết ở đâu trên bản đồ hang động thế giới.

Trở về quá khứ năm 1956, trong một chuyến tuần tra, bộ đội biên phòng phát hiện ra tộc người A Rem sống trong những hang đá giữa núi rừng Phong Nha - Kẻ Bàng. Năm đó, tộc người này chỉ vẻn vẹn được 18 người.

Năm 1992, đồng bào vẫn cứ ở trong hang đá, sống hồn nhiên với núi rừng, lúc này số nhân khẩu tăng lên 98 người. Cũng như người Rục anh em của mình hiện tại định cư ở xã Thượng Hóa, huyện Minh Hóa, hiện cuộc sống đồng bào A Rem đang dần dần đổi thay dù sự thay đổi đó khó nhìn thấy được trong ngày một ngày hai.

Dân số toàn xã hiện tại gồm 75 hộ, 333 nhân khẩu trong đó có 6 hộ ở bản Đoòng, cách trung tâm xã chừng 20 cây số đường rừng.

Năm 2004, cảm thông với những khó khăn của đồng bào A Rem, nhân dân thành phố Hồ Chí Minh vận động quyên góp xây tặng 42 căn nhà kiên cố giúp đồng bào.

Đường lên A Rem giữa rừng

Cùng đó là đầu tư trường học, trạm xá, trụ sở UBND xã, đường giao thông... từ đây tại Km 39 đã thành hình hài của một bản dân tộc kiểu mẫu. Đời bản A Rem xã Tân Trạch lật sang một trang mới.

“Nhưng bà con còn vất vả nhiều lắm, hành trình đổi đời gian nan, làm gì để cái bụng không đói còn gian nan hơn. Tất cả đều trông chờ vào sự bao cấp của nhà nước”, ông Đinh Lầu tâm sự. Định cư ngay giữa vùng lỏi di sản, thiếu đất sản xuất, thiếu nước tưới tiêu, sinh hoạt hàng ngày.

Tập quán canh tác dựa hoàn toàn vào rừng nhưng giờ rừng đã là của di sản. Đồng bào biết rằng phá rừng sẽ vi phạm pháp luật nhưng nếu không bám vào rừng, cái bụng lại bị đói dài ngày. Nhiều hộ dân đi xa cả ngày rừng phát rẫy trồng sắn, trồng ngô. Cây ngô, cây sắn cũng nhờ trời... mùa được, mùa mất. Được mùa thì vẫn cứ lo khỉ kéo đàn, kéo lũ về phá.

Đinh Rầu, em trai Chủ tịch xã Đinh Lầu, đang là Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam xã Tân Trạch, người từng bị lũ khỉ rừng tấn công phải nhập viện, cho biết thêm: “Mấy năm nay, bản A Rem nhận chăm sóc và bảo vệ rừng được trên 1.000ha. mỗi quý, toàn bản nhận 25 triệu đồng, xã dùng nguồn này mua gạo hỗ trợ cho dân bản.

Cán bộ hỏi xã Tân Trạch này tỷ lệ hộ nghèo là bao nhiêu à? Một trăm phần trăm... vì có ai được mức sống trung bình mô, gia cảnh lúc nào cũng đói kém cả”.

Tôi gặp Đinh Ve đang lên xã nhận gạo và thực phẩm, hỏi: “Vợ chồng được mấy đứa con?”. Đinh Ve đưa bàn tay xòe ra năm ngón. “Năm con?”. Gật đầu, Đinh Ve kể: “Hai vợ chồng có làm một vuông rẫy cách nhà hơn tiếng đồng hồ đi bộ. Một mùa rẫy thu được chừng một đến một tạ rưỡi ngô, đưa về cất trên chái bếp phòng khi hết gạo”.

Tôi còn gặp rất nhiều người: Y Han, Y Nót, Y Chà... địu con dại trước ngực, điếu thuốc lá to bằng ngón tay cháy ngút khói trên môi, người khét cháy mùi rừng núi... đi nhận hàng cứu trợ. Hỏi: “Năm nay bao nhiêu tuổi rồi?”. Mọi câu trả lời đều giống nhau: “Không biết mô!”.

Người A Rem quá phụ thuộc vào rượu

Hai “cố tật” người A Rem cũng như các tộc người thiểu số khác ở miền tây Quảng Bình là nghiện thuốc và nghiện rượu. Tôi nghe kể lại ở xã Tân Trạch có người uống rượu quanh năm suốt tháng, uống rượu thay cơm. Nhiều lúc gạo cứu trợ về chẳng cần nổi lửa, đem gạo đổi rượu uống cho đã cơn thèm.

“Tân Trạch chưa bao giờ thỏa được cơn khát”, Hồ Trọng Hiển, kế toán UBND xã Tân Trạch bảo với tôi như vậy. Hiển lên công tác ở xã năm nay nữa là tròn 6 năm, chừng ấy năm anh từng chứng kiến sự khô khát mà cán bộ và nhân dân trong xã đối mặt.

Công trình nước tự chảy được đầu tư dẫn nước từ xã Thượng Trạch ra, sử dụng đâu chừng hai tháng thì bị hư hỏng hoàn toàn. Nguồn nước sinh hoạt hằng ngày nhờ vào những vũng nước tù đọng và nước mưa. Nước mưa ở đây quý hơn cả cơm gạo, phải chắt chiu, phân bổ từng giọt... Nước trở thành niềm mơ ước của mọi người dân.

“Tao không học về nhà đây”

Mặc dù rời hang đá đã lâu nhưng ám ảnh khổ cực vẫn hằn sâu vào thế hệ tương lai A Rem

Ngày tôi lên bản, có dịp ghé thăm Trường Tiểu học (TH) và Trung học cơ sở (THCS) xã Tân Trạch. Ngôi trường mọc lên từ ngày hình thành nên bản mới với một ước mơ thật giản dị của những người tâm huyết đến sự đổi thay cho đồng bào A Rem.

Khối lớp 9, tôi thấy một buổi học khá kỳ lạ, duy nhất một thầy, một trò. Hỏi thầy: “Sao lớp vắng nhiều thế?”. Thầy trầm tư: “Đầu giờ các em vẫn đến lớp đầy đủ đó chứ, nhưng ra chơi, học sinh tranh thủ về nhà kiếm cái ăn cho chắc bụng, ăn xong thầy chưa kịp đến gọi thì chúng đã lên rừng theo bố mẹ mất rồi!”.

Cô học trò A Rem thấy khách lạ nói chuyện với thầy giáo, ngó trước, nhìn sau không thấy ai để ý, vơ vội mấy cuốn vở chạy vụt ra cửa. Thầy giáo gọi với theo: “Đi đâu đó?”. Cô học trò trả lời: “Tao không học nữa, về nhà đây”. Thầy và khách đứng nhìn theo lắc đầu với nụ cười buồn.

Ở bản A Rem, không có chuyện người lớn quan tâm đến việc học hành của con cái mình. Những đứa trẻ sinh ra, lớn lên, đủ tuổi đến trường, bố mẹ giao hoàn toàn cho thầy cô. Ngay như vợ chồng Đinh Ve và Y Han có đến 5 đứa con, tuổi chồng, tuổi vợ, tuổi con đều không nhớ nổi; đứa nào đi học mẫu giáo, học TH, THCS cũng bất biết.

Trường TH và THCS Tân Trạch có 25 cán bộ, giáo viên, phần lớn ở dưới xuôi lên. Một tuần thay nhau về nhà một lần. Tổng số học sinh gồm 43 em TH, 29 em THCS. Điểm trường bản Đoòng cách trường trung tâm 20 cây số, chỉ có 5 học sinh nhưng thầy giáo Phó hiệu trưởng Trần Hải Nam cùng thầy Hoàng Văn Sáu về bám bản, bám dân để dạy học.

Thầy Lê Văn Trương, Hiệu trưởng nhà trường, cho biết: “Các giáo viên nam cứ thay nhau về cắm bản ở Đoòng, luân chuyển hai năm một lần. Tại cụm trung tâm, cuộc sống, điều kiện dạy học đã rất khó khăn, về bản Đoòng càng khó khăn hơn. Chúng tôi phải cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt với dân, mượn nhà dân làm nơi dạy học.

Vất vả trong sự nghiệp trồng người là thế nhưng chế độ đãi ngộ lại thấp hơn giáo viên đang công tác trong xã Thượng Trạch vì Tân Trạch không thuộc xã biên giới”.

Giáo viên lên với bản A Rem có người như Hoàng Văn Sáu đã tròn 11 năm, thầy Nguyễn Xuân Vũ 8 năm, Nguyễn Văn Đạt và Nguyễn Thành Phương 6 năm... Trường có 8 giáo viên nữ, 1/3 trong số họ là giáo viên trẻ.

Chuyện dạy và học ở Trường TH và THCS Tân Trạch cũng rất lạ so với nhiều bản làng khác mà tôi đã đặt chân đến. Nghe mà nao lòng. Vốn thời gian biểu được chia ra: khối THCS học buổi sáng, khối TH học buổi chiều. Rạch ròi thế nhưng học sinh lại hay quên... ngồi nhầm lớp là chuyện thường.

Không đâu như ở Tân Trạch, muốn học sinh đến trường đảm bảo sĩ số, đầu buổi học phải huy động tất cả giáo viên, cán bộ xã đến từng nhà gọi. Phụ huynh đầu hôm say với men rượu chưa kịp tỉnh, con cái có đến trường hay không mặc kệ...

Duy trì sĩ số đầu giờ học, đến giờ ra chơi, lũ trẻ chạy về nhà tranh thủ kiếm cái gì đó cho vào bụng. Ăn xong không còn nhớ mình đang đi học, chúng khoác gùi lên vai, vơ lấy con dao... hồn nhiên theo bố mẹ lên rừng, lên rẫy.

Có chút quà nhỏ, cả người mẹ A Rem và mấy đứa con của mình vui tít mắt

Bởi thế, giáo viên chủ nhiệm đón khoảng thời gian học trò của mình ăn xong là lập tức đến ngay giục trở lại lớp. Để có một ngày đến trường của trẻ em A Rem như thế, thầy cô của Trường TH và THCS phải mất bốn lần đi kêu cửa!

Gánh chữ nặng trĩu vai người thầy, cuộc sống, sinh hoạt văn hóa tinh thần thiếu thốn trăm bề cũng là nỗi lo thường nhật của họ. Thầy Lê Văn Trương kể rằng:

“Những lúc bị lũ lụt cô lập đường vào Tân, Thượng Trạch dài ngày, chúng tôi chỉ còn cơm trắng với mì tôm dự phòng. Nhiều người về nhà gặp lụt giữa đường, cố gắng ra cho được Hang Tám Cô rồi xin ở nhờ với cán bộ ngoài đó, chờ nước rút. Mùa mưa lũ thì như vậy, mùa khô khát lại lo thiếu nước để dùng.

Nước mưa hết, giáo viên phải đi chở nước tại Km 44, cách trường hơn 5 cây số. Toàn trường chỉ có 5 phòng nội trú, trung bình 5 người ở chung một phòng. Điện thắp sáng bằng năng lượng mặt trời, ưu tiên công việc chuyên môn còn lại phục vụ cho sinh hoạt, tiết kiệm lắm cũng duy trì thắp sáng khoảng 3 giờ đồng hồ mỗi đêm”.

Tạm biệt đồng bào A Rem xã Tân Trạch, trở về lại trên con đường gập ghềnh đầy ổ voi, ổ gà. Người anh em A Rem vẫn chưa thể đả thông được tư duy, và cuộc sống của họ vẫn thấy khắc khoải lạ kỳ.

Sưu tầm: Thu Hà

(Ghi chú: Tin bài trên được sưu tầm và đăng tin trên trang web nội bộ VP UBND tỉnh nhằm mục đích phục vụ thông tin nội bộ cơ quan)

More

 

Lượt truy cập: 12.199.204 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này