Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin phục vụ lãnh đạo ngày 15/11/2022
1. Ai được tăng lương khi lương cơ sở tăng lên 1,8 triệu đồng/tháng?
2. Quốc hội thông qua Luật Thanh tra (sửa đổi) với tỷ lệ tán thành cao
3. Thủ tướng quyết định cơ chế điều hành hoạt động khai thác tận thu mỏ dầu khí
4. Công chức đã nghỉ việc vẫn lo sai sót trong hồ sơ đất đai từng xử lý
5. Báo Đức ca ngợi đường lối và chính sách hiệu quả của Việt Nam
6. Dự báo 15 nền kinh tế lớn nhất châu Á năm 2022: Việt Nam đứng thứ mấy?
7. Thiếu vốn, doanh nghiệp khó khăn chưa từng có
8. Nhiều quy định chồng chéo, xung đột… gây khó cho doanh nghiệp
9. 3 cảng biển Việt Nam lọt top 100 cảng lớn nhất thế giới
10. Doanh nghiệp đăng ký vay trả nợ nước ngoài rất lớn
11. Thủ tướng sắp chủ trì hội nghị “3 trong 1” đặc biệt phát triển Tây Nguyên
12. Vùng kinh tế nào dẫn đầu thu ngân sách Nhà nước trong 10 tháng đầu năm 2022?
13. Bình Dương chi ngân sách hỗ trợ học phí cho học sinh
14. Tạm giữ Phó Chánh án tỉnh Bạc Liêu về hành vi nhận hối lộ
15. Cách Singapore thu hút dự án khởi nghiệp công nghệ
16. Dân số thế giới đạt 8 tỉ người, Trung Quốc đối mặt tỉ lệ sinh giảm
Ai được tăng lương khi lương cơ sở tăng lên 1,8 triệu đồng/tháng?
Ngày 11/11 vừa qua, sau nhiều phiên thảo luận, Quốc hội đã biểu quyết thông qua việc điều chỉnh tiền lương đối với khu vực công. Quốc hội thống nhất chưa thực hiện cải cách tổng thể chính sách tiền lương trong năm 2023, thay vào đó sẽ tăng lương cơ sở cho cán bộ, công chức, viên chức lên 1,8 triệu đồng/tháng từ ngày 1/7/2023.
Nêu lý do chốt thời điểm tăng lương là 1/7/2023, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật giải thích, một số ý kiến đề nghị điều chỉnh lương sớm, từ đầu năm nhưng 1/1/2023 là thời điểm đúng Tết Dương lịch, cận Tết Âm lịch. Đây là thời điểm nhạy cảm bởi nhu cầu mua sắm và sử dụng hàng hóa, dịch vụ của người dân, doanh nghiệp tăng mạnh, tạo sức ép lên điều hành giá và tâm lý tăng lương kèm với tăng giá sẽ ảnh hưởng đến đời sống của người dân.
Cân nhắc nhiều lý do, Quốc hội chốt thời điểm, mức tăng là 310.000 đồng/tháng so với mức lương cơ sở hiện hành (1,49 triệu đồng/tháng).
Hiện nay, trong thị trường lao động có hai nhóm chính là cán bộ, công chức, viên chức đang hưởng lương từ ngân sách Nhà nước theo vị trí việc làm, chức danh, chức vụ và người lao động trong khu vực doanh nghiệp hưởng chế độ tiền lương từ thỏa thuận của người lao động và người sử dụng lao động.
Căn cứ Nghị quyết của Quốc hội, cải cách tiền lương theo tinh thần của Nghị quyết 27 năm 2018 của Bộ Chính trị vẫn chưa được thực hiện mà chỉ thực hiện tăng lương cơ sở cho cán bộ, công chức, viên chức.
Do đó, khi lương cơ sở tăng lên 1,8 triệu đồng/tháng từ 1/7/2023, lương với cán bộ, công chức, viên chức được thay đổi đáng kể, căn cứ theo công thức tính lương đang áp dụng.
Lương = Hệ số x Mức lương cơ sở
Trong đó, hệ số vẫn đang được áp dụng theo các bảng phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP theo vị trí việc làm, chức danh, chức vụ và áp dụng với từng đối tượng cụ thể khác nhau. Mức lương cơ sở được đổi từ 1,49 thành 1,8 triệu đồng.
Với người lao động trong khu vực doanh nghiệp lương được tính theo thỏa thuận của các bên, không hề bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của lương cơ sở.
Tuy nhiên, dù lương không ảnh hưởng nhưng khi lương cơ sở tăng lên 1,8 triệu đồng/tháng thì vẫn sẽ có những thay đổi ảnh hưởng đến đời sống của người lao động, như:
- Tăng mức đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc, bảo hiểm y tế (BHYT) tối đa hoặc theo hộ gia đình; Tăng điều kiện hưởng 100% chi phí khám, chữa bệnh của người tham gia BHYT 5 năm liên tục.
- Tăng trợ cấp, phụ cấp: Tăng mức trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau; Tăng mức trợ cấp 1 lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 6 tháng tuổi; Tăng mức dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản; Tăng mức lương hưu thấp nhất; Tăng mức trợ cấp mai táng; Tăng mức trợ cấp tuất hàng tháng... (Tienphong.vn 14/11)Về đầu trang
Quốc hội thông qua Luật Thanh tra (sửa đổi) với tỷ lệ tán thành cao
Với 459/471 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (chiếm 92,17% tổng số đại biểu), Quốc hội đã thông qua Luật Thanh tra (sửa đổi).
Luật Thanh tra (sửa đổi) có 118 điều, quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra, hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2023.
Đáng chú ý, luật quy định việc thành lập Thanh tra Tổng cục, Cục. Theo Điều 18 quy định, Thanh tra Tổng cục, Cục là cơ quan của tổng cục, cục thuộc bộ thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành trong phạm vi quản lý Nhà nước mà tổng cục, cục được giao phụ trách; thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo quy định của pháp luật.
Thanh tra Tổng cục, Cục được thành lập trong 3 trường hợp: theo quy định của luật; theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; tại tổng cục, cục thuộc bộ có phạm vi đối tượng quản lý Nhà nước chuyên ngành, lĩnh vực lớn, phức tạp, quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội theo quy định của Chính phủ.
Trước khi Luật Thanh tra (sửa đổi) được bấm nút thông qua, trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Hoàng Thanh Tùng nhấn mạnh, về việc thành lập Thanh tra Tổng cục, Cục thuộc Bộ (Điều 18); thành lập cơ quan thanh tra tại các đơn vị ngành dọc thuộc Tổng cục ở địa phương, đa số ý kiến tán thành quy định thành lập Thanh tra Tổng cục, Cục thuộc Bộ.
Một số ý kiến đề nghị cân nhắc vì có thể làm phát sinh tổ chức bộ máy, biên chế, kinh phí, không phù hợp với Nghị quyết số 18-NQ/TW của Trung ương.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng: Theo quy định của Luật Thanh tra hiện hành thì tại các Tổng cục, Cục thuộc Bộ không thành lập cơ quan thanh tra chuyên ngành độc lập, nhưng để đáp ứng yêu cầu quản lý thì Luật Thanh tra cho phép Chính phủ xem xét giao một số cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành.
Trên thực tế, tại các cơ quan này đã thành lập các đơn vị có nhiệm vụ tham mưu và làm công tác thanh tra, với đội ngũ công chức vừa thực hiện nhiệm vụ thanh tra, vừa đồng thời đảm nhiệm các nhiệm vụ chuyên môn khác.
Qua tổng kết thi hành Luật cho thấy, ở một số nơi, tổ chức và hoạt động thanh tra chuyên ngành như trên đã bộc lộ bất cập, hạn chế. Bên cạnh đó, một số luật được ban hành sau Luật Thanh tra năm 2010 đã quy định thành lập Thanh tra Tổng cục, Cục thuộc Bộ.
Do đó, trong dự án Luật Thanh tra (sửa đổi), Chính phủ đã đề nghị thành lập Thanh tra Tổng cục, Cục thuộc Bộ để có cơ sở sắp xếp, kiện toàn một bước tổ chức bộ máy làm công tác thanh tra chuyên ngành theo hướng tăng cường tính chuyên nghiệp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động.
Quá trình xem xét, cho ý kiến về dự án Luật, các vị đại biểu Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội và cơ quan, tổ chức hữu quan đều cơ bản nhất trí hướng đổi mới này. Việc thành lập cơ quan thanh tra tại Tổng cục, Cục được thực hiện trên cơ sở sắp xếp lại các đơn vị và đội ngũ công chức hiện có đang làm nhiệm vụ thanh tra nên không làm phát sinh tăng tổng số đơn vị trực thuộc và biên chế của các Tổng cục, Cục, bảo đảm phù hợp với yêu cầu của Nghị quyết số 18-NQ/TW là "Việc sắp xếp lại tổ chức bộ máy không được tăng thêm đầu mối và biên chế".
Ông Hoàng Thanh Tùng đề nghị Quốc hội cho giữ quy định về các tiêu chí, điều kiện thành lập Thanh tra Tổng cục, Cục thuộc Bộ như tại khoản 2 Điều 18; đồng thời, tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, tại khoản này đã bổ sung quy định "Việc thành lập Thanh tra Tổng cục, Cục không được làm tăng số lượng đầu mối đơn vị trực thuộc và biên chế của Tổng cục, Cục thuộc Bộ" để bảo đảm chặt chẽ. Căn cứ quy định của Luật và yêu cầu thực tiễn, Chính phủ sẽ xem xét, quyết định việc thành lập cơ quan thanh tra tại các Tổng cục, Cục cụ thể. (VTV.vn 14/11)Về đầu trang
Thủ tướng quyết định cơ chế điều hành hoạt động khai thác tận thu mỏ dầu khí
Sáng 14/11, với 472/475 phiếu thuận, Quốc hội đã thông qua Luật Dầu khí (sửa đổi). Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2023.
Trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi), Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh cho biết, dự thảo đã bổ sung quy định về việc Thủ tướng Chính phủ quyết định cơ chế điều hành hoạt động khai thác tận thu mỏ, cụm mỏ, lô dầu khí.
Đây là chính sách mới với nhiều nội dung mang tính đột phá, là cơ sở pháp lý cần thiết để khai thác hiệu quả hơn tài nguyên dầu khí, góp phần tăng thu ngân sách nhà nước trong bối cảnh dự báo những năm tới có nhiều mỏ dầu khí ở giai đoạn cuối đời mỏ sẽ chuyển sang thời kỳ khai thác tận thu.
Để hoàn thiện căn cứ pháp lý đầy đủ cho hoạt động khai thác tận thu dầu khí, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Chính phủ tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, chỉ đạo các bộ, cơ quan ngang bộ và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tiếp tục hoàn thiện nội dung này tại dự thảo Nghị định và rà soát, ban hành các văn bản dưới luật khác có liên quan.
Cụ thể, chú trọng các quy định nhằm bảo đảm hiệu quả hoạt động khai thác tận thu và kiểm soát chặt chẽ chi phí hoạt động dầu khí.
Bộ Công Thương sớm xây dựng, ban hành, hướng dẫn về định mức chi phí, định mức kinh tế, kỹ thuật cho điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí. Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch & Đầu tư và các cơ quan, tổ chức hữu quan phối hợp chặt chẽ và chịu trách nhiệm theo thẩm quyền, xây dựng và ban hành các văn bản khác có liên quan.
Liên quan đến hợp đồng dầu khí, theo Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh, tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, Điều 31 dự thảo Luật đã được chỉnh sửa theo hướng quy định 2 khoản riêng (khoản 6 và khoản 7) về trách nhiệm của các chủ thể có liên quan đối việc quyết định thời gian tạm dừng thực hiện một số quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng dầu khí trong 02 trường hợp: Bất khả kháng và vì lý do quốc phòng an ninh, bảo đảm phù hợp, chặt chẽ.
Cụ thể, trong trường hợp bất khả kháng, các bên tham gia hợp đồng dầu khí thỏa thuận phương thức tạm dừng thực hiện một số quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng dầu khí, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam báo cáo Bộ Công Thương quyết định.
Trong trường hợp vì lý do quốc phòng, an ninh, thời gian tạm dừng thực hiện một số quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng dầu khí do Thủ tướng Chính phủ quyết định theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền.
Về chính sách ưu đãi trong hoạt động dầu khí, dự thảo đã chỉnh sửa về mặt kỹ thuật tại khoản 1 Điều 67 bảo đảm đúng kỹ thuật văn bản, không ảnh hưởng đến nội dung khác của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp khi thực hiện hợp nhất. Đối với chính sách ưu đãi đầu tư và ưu đãi đầu tư đặc biệt trong hoạt động dầu khí, xin được giữ quy định sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 10 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp như đã trình, không quy định trực tiếp chính sách ưu đãi đầu tư và ưu đãi đầu tư đặc biệt trong hoạt động dầu khí tại Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp vì gắn với đối tượng ưu đãi cụ thể quy định tại Điều 53 dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi). (VTV.vn 14/11)Về đầu trang
Công chức đã nghỉ việc vẫn lo sai sót trong hồ sơ đất đai từng xử lý
Tiếp tục chương trình làm việc, ngày 14/11, Quốc hội tiến hành thảo luận tại hội trường về dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).
Đại biểu Lê Đào An Xuân (đoàn Phú Yên) đề nghị sửa đổi Luật Đất đai phải giữ được đội ngũ được đội ngũ cán bộ, viên chức ngành Tài nguyên và Môi trường làm việc.
Theo nữ đại biểu, trong kỳ họp lần này, trên nghị trường Quốc hội, các đại biểu nhắc nhiều đến việc viên chức, công chức ngành y tế, giáo dục có sự dịch chuyển do các cơ chế, chính sách không phù hợp.
Nhưng theo đại biểu, có một hiện thực chưa được nhắc đến đó là nhiều công chức, viên chức ngành tài nguyên và môi trường cũng xin nghỉ việc, người chủ động xin chuyển công tác hoặc người xin chuyển vị trí.
"Kể cả người đã nghỉ để chuyển công tác hay những người còn lại cũng có một nỗi băn khoăn, lo lắng không biết hồ sơ mình đang xử lý có những sai sót gì không, hay vài năm nữa thì mới phát hiện sai sót. Đây là áp lực pháp lý rất lớn mà cán bộ, công chức, viên chức ngành tài nguyên môi trường đang phải gánh chịu", bà Xuân nói.
Cho rằng, ngoài doanh nghiệp, ngoài người sử dụng đất, phải nói là cán bộ, công chức, viên chức ngành tài nguyên rất mong Luật Đất đai được sớm sửa đổi theo hướng nhanh nhất và phù hợp với thực tiễn nhất, nữ đại biểu tỉnh Phú Yên nêu vấn đề theo kế hoạch sửa đổi sẽ phải trình qua 3 kỳ họp và nếu đúng tiến độ thì phải gần 2 năm nữa Luật Đất đai mới có hiệu lực.
Do đó, bà Xuân kiến nghị Chính phủ khẩn trương ban hành hoặc là tham mưu với cơ quan có thẩm quyền ban hành việc sửa đổi ngay các vướng mắc hiện nay trong trong 2 năm tới, đó là việc sửa đổi Luật Đất đai phải đảm bảo không kiềm chế sự phát triển kinh tế - xã hội cũng như không mất thêm cán bộ.
Ngoài nội dung trên, tranh luận làm rõ thêm thêm ý kiến về việc thực hiện thủ tục hành chính mà đại biểu Hoàng Minh Hiếu (đoàn Nghệ An) đã nêu trước đó, đại biểu Lê Đào An Xuân cho rằng, qua rà soát, nhiều thủ tục quản lý Nhà nước về đất đai (khoảng 18 thủ tục) có quy định thẩm quyền giải quyết thuộc UBND tỉnh, tức là thẩm quyền chung theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
Trong khi đó, bộ thủ tục hành chính lại quy định thời gian cụ thể cho từng cấp, từng ngành, phần lớn thì giải quyết trong thời gian 5 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ.
"Như vậy, nếu lãnh đạo UBND tỉnh ký để giải quyết các thủ tục hành chính thì có thể đảm bảo thời gian theo quy định và bộ thủ tục hành chính nhưng lại không đảm bảo thẩm quyền theo quy định", nữ đại biểu nói và nhấn mạnh, nếu chúng ta lấy ý kiến theo đúng thẩm quyền, tức là phải họp hội nghị UBND tỉnh hoặc lấy ý kiến của các thành viên thì không đảm bảo thời gian.
Do đó, đại biểu đề xuất trong lần sửa đổi luật lần này cùng với các văn bản hướng dẫn luật, cần quan tâm đến việc phân định rõ thẩm quyền, những nội dung, những vấn đề lớn thì giao thẩm quyền của UBND tỉnh.
Về quy định, hiểu và áp dụng luật, đại biểu Lê Đào An Xuân phân tích, một số quy định hiện nay có thể hiểu và áp dụng theo nhiều nghĩa khác nhau, mỗi địa phương hoặc với từng hồ sơ có thể có nhiều cách áp dụng với cùng một điều luật.
Điều này dẫn đến tình trạng người sử dụng sẽ thực hiện theo cách có lợi hoặc an toàn cho mình nhất, gây ảnh hưởng xấu đến lợi ích của Nhà nước, quyền lợi của nhà đầu tư và người sử dụng đất.
Đại biểu Lê Đào An Xuân đề nghị trong lần sửa đổi lần này, ban soạn thảo cần quan tâm đến các câu từ nội dung của từng điều luật để tránh hiểu theo đa nghĩa, hạn chế sai sót trong quá trình thi hành pháp luật. (Nguoiduatin.vn 14/11, Nguyễn Thu Huyền)Về đầu trang
Báo Đức ca ngợi đường lối và chính sách hiệu quả của Việt Nam
Báo Thế giới (die Welt) của Đức mới đây đã đăng bài viết ca ngợi các chính sách hiệu quả của Việt Nam trong những năm qua - nguyên nhân đã mang lại cho quốc gia Đông Nam Á này một môi trường đầu tư năng động, hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài.
Bài báo đặt câu hỏi làm thế nào để chống lại đói nghèo một cách hiệu quả? Nhiều người tin vào viện trợ phát triển, nhưng điều đó hầu như không có thay đổi cơ bản ở châu Phi trong 50 năm qua. Điều này cho thấy rõ hiệu quả ở nhiều nước là sự ra đời của nền kinh tế thị trường và khu vực tư nhân phát triển.
Theo bài báo, Việt Nam là ví dụ điển hình về những gì mà việc áp dụng sở hữu tư nhân và cải cách nền kinh tế thị trường có thể đạt được. Thực tế là Việt Nam đã xóa bỏ được tình trạng nghèo đói cùng cực.
Việt Nam ngày nay là một trong những quốc gia năng động nhất trên thế giới, với nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp và những người làm việc chăm chỉ. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam đã tăng gấp 6 lần kể từ khi bắt đầu cải cách. Từ một đất nước trước đây không thể sản xuất đủ gạo cho người dân, Việt Nam ngày nay đã trở thành một trong những nhà xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, và còn là một trong những nhà xuất hàng khẩu điện tử quan trọng.
Theo bài báo, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI vào tháng 12/1986 đã thông qua đường lối đổi mới và là cơ sở cho tất cả những thay đổi tích cực ở Việt Nam kể từ thời điểm này. Về cơ bản, những cải cách được quyết định tại Đại hội VI và được phát triển hơn những năm sau đó là việc thúc đẩy thị trường, trong đó các thành phần nhà nước, hợp tác xã và tư nhân cùng tồn tại bình đẳng.
Năm 1987, luật đầu tư được thông qua đã đưa ra tín hiệu rõ ràng, đó là Việt Nam muốn mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài, cho phép đầu tư 100% vốn nước ngoài và Việt Nam cũng đảm bảo an toàn cho vốn và tài sản của nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. (TTXVN/VietnamPlus.vn 14/11)Về đầu trang
Dự báo 15 nền kinh tế lớn nhất châu Á năm 2022: Việt Nam đứng thứ mấy?
Theo dự báo mới nhất của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), năm 2022, Trung Quốc là quốc gia có GDP lớn nhất ở châu Á, tiếp theo là Nhật Bản, Ấn Độ, Iran và Hàn Quốc. Bên cạnh đó, Việt Nam được dự báo có GDP đạt khoảng 413,81 tỷ USD, xếp thứ 5/11 trong khu vực Đông Nam Á.
Theo dự báo của IMF, năm 2022, 5 quốc gia có quy mô GDP nhất gồm có Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Iran và Hàn Quốc, chiếm hơn 94% GDP của châu Á. Trong khi đó, Đông Timor là quốc gia được dự báo có quy mô GDP nhỏ nhất châu Á, đạt 2,46 tỷ USD.
Bên cạnh đó, châu Á có 7 quốc gia được dự báo có quy mô GDP trên 1.000 tỷ USD và 14 quốc gia được dự báo có quy mô GDP trên 100 tỷ USD.
Trong các nước thuộc khu vực Đông Nam Á, Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Việt Nam và Philippines được dự báo lọt top 15 quốc gia có quy mô GDP lớn nhất châu Á năm 2022.
Trong đó, Indonesia là quốc gia có xếp hạng cao nhất, được dự báo xếp thứ 6 trong các quốc gia có quy mô GDP lớn nhất châu Á năm 2022.
Theo sau là Thái Lan, Malaysia, Singapore, Việt Nam và Philippines với thứ hạng quy mô GDP lần lượt là 8, 12, 13, 14 và 15 trong top 15 quốc gia được dự báo có quy mô GDP lớn nhất châu Á năm 2022.
Xét riêng các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, Indonesia được dự báo có quy mô GDP dẫn đầu, đạt khoảng 1.289,43 tỷ USD vào năm 2022. Cùng với đó, Thái Lan xếp ở vị trí thứ 2 với dự báo quy mô GDP đạt khoảng 534,758 tỷ USD.
Cùng với đó, Malaysia, Singapore, Việt Nam, Philippines, Myanmar, Campuchia, Campuchia, Brunei, Lào và Đông Timor được dự báo quy mô GDP đạt lần lượt là 434,06 tỷ USD; 423,63 tỷ USD; 413,81 tỷ USD; 401,66 tỷ USD; 59,53 tỷ USD; 28,33 tỷ USD; 18,5 tỷ USD; 16,25 tỷ USD và 2,5 tỷ USD.
Như vậy, quy mô GDP Việt Nam năm 2022 được IMF dự báo xếp thứ 5 trong khu vực Đông Nam Á và thứ 14 trong khu vực châu Á.
Theo dự báo của IMF, so với năm 2021, quy mô GDP của Việt Nam tăng 47,61 tỷ USD. Indonesia và Malaysia là nước có mức tăng cao hơn Việt Nam khi quy mô GDP tăng lần lượt là 102,11 tỷ USD và 61.02 tỷ USD.
Trong khi đó, các quốc gia khác có sự cải thiện nhưng chậm hơn như: Thái Lan (tăng 28,86 tỷ USD), Singapore (tăng 26,64 tỷ USD), Philippines (tăng 7,58 tỷ USD), Brunei (tăng 4,5 tỷ USD), Campuchia (tăng 2,02 tỷ USD) và Đông Timor (tăng 142 triệu USD). (Cafef.vn 14/11, Minh Tiến)Về đầu trang
Thiếu vốn, doanh nghiệp khó khăn chưa từng có
Gửi tới Thủ tướng Chính phủ những thách thức lớn nhất của doanh nghiệp các tháng cuối năm 2022 và đầu năm 2023, Ban IV kiến nghị tính tới các giải pháp đặc biệt để giải nguy cho doanh nghiệp.
Khó khăn về dòng tiền, bao gồm vốn lưu động và vốn đầu tư trung, dài hạn đang đặt doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp tư nhân Việt Nam, vào những tình thế hết sức cấp bách, khó khăn.
Báo cáo của Ban IV (Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân - Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính) do Trưởng ban Trương Gia Bình, Chủ tịch Tập đoàn FPT ký gửi Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ngày 12/11. Báo cáo viết: Khó khăn này đang ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của nhiều ngành, lĩnh vực và nội tại nền kinh tế trong nước.
Trong đó, theo Ban IV, thách thức về việc tiếp cận nguồn vốn để duy trì sản xuất, kinh doanh là thách thức lớn nhất, đặc biệt với khu vực doanh nghiệp tư nhân. Vấn đề càng trở nên nghiêm trọng do dòng tiền của các doanh nghiệp đã cạn kiệt sau hơn 2 năm dịch bệnh.
Trong báo cáo gửi Thủ tướng, Ban IV đã liệt kê những ngành mà doanh nghiệp đang phản ánh là khó khăn chưa từng có trong hoạt động sản xuất kinh doanh do thiếu vốn.
Một là, doanh nghiệp ngành thép đối diện với “khủng hoảng lớn” khi cung vượt mạnh cầu, trong khi đơn hàng xuất khẩu lẫn đơn hàng trong nước đồng loạt giảm mạnh. Nhiều doanh nghiệp phải bán sản phẩm thấp hơn giá vốn 30-40% để có dòng tiền hoạt động với chi phí lãi vay rất cao, trong lúc chờ đợt phân bổ chỉ tiêu tín dụng tiếp theo;
Hai là, doanh nghiệp các ngành công nghiệp hỗ trợ trước đây có thể sử dụng hợp đồng đã ký kết hoặc thế chấp bất động sản để vay vốn nhưng hiện nay các ngân hàng không giải ngân do áp lực về room tín dụng nên doanh nghiệp cũng không thể tiếp nhận và ký kết hợp đồng mới.
Mặt khác, đối với một số thị trường khó tính, do những cải tiến về quy mô, cam kết môi trường và chất lượng sản phẩm, khách hàng đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải đầu tư máy móc, công nghệ mới nhưng do thiếu vốn, doanh nghiệp cũng không thể đáp ứng yêu cầu này, dẫn tới nguy cơ không thể duy trì vị trí trong chuỗi.
Ba là, doanh nghiệp nông nghiệp phản ánh về việc thiếu vốn để thu mua nguyên liệu trong khi một số nông sản (đặc biệt các loại hạt nguyên liệu) lại có kì thu mua tập trung ở các tháng cuối năm và đầu năm 2023. Thời gian thu mua gấp, lượng vốn cần lớn nhưng doanh nghiệp Việt Nam lại không thể tiếp cận tín dụng nên dự báo rất khó cạnh tranh được với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).
Bốn là, doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng bị dừng hầu hết hợp đồng cung ứng vật liệu cho các công trình; các hợp đồng đã hoàn tất lại không thể thanh toán do chủ đầu tư cũng không có dòng tiền, không vay được ngân hàng để trả cho doanh nghiệp cung ứng vật liệu. Bên cạnh đó, việc xây dựng bằng vốn đầu tư công cũng đang đình trệ, khiến nhóm doanh nghiệp này thực sự khủng hoảng.
Cùng với đó, thách thức về duy trì các kênh huy động vốn trung và dài hạn để mở rộng đầu tư, phục hồi doanh nghiệp cũng đang là vấn đề lớn với các doanh nghiệp.
Hiệu ứng sụt giảm niềm tin từ thị trường đối với các doanh nghiệp bất động sản đã lan rộng tới mọi loại hình doanh nghiệp khác, khiến kênh huy động trái phiếu không thể giúp doanh nghiệp thu hút được các nhà đầu tư trong ngắn hạn để giải quyết các bài toán cấp bách.
Thị trường chứng khoán theo đó cũng chịu ảnh hưởng mạnh, làm khó khăn về vốn của doanh nghiệp thêm trầm trọng. Nhiều doanh nghiệp lớn phải bố trí nguồn vốn để mua lại trái phiếu trước hạn. Trong bối cảnh niềm tin thị trường xuống thấp, cạn vốn lưu động, cạn dòng đầu tư, các tài sản của doanh nghiệp có nguy cơ bị bán tháo; thậm chí thông tin từ doanh nghiệp, hiệp hội cho thấy, có thể xuất hiện làn sóng bán các nhà máy/cơ sở sản xuất của doanh nghiệp Việt cho nhà đầu tư nước ngoài (điển hình như doanh nghiệp Thái Lan đang tiến hành nhiều thương vụ đàm phán mua bán các nhà máy dệt may và sản xuất lĩnh vực khác).
"Đây là thách thức không chỉ với doanh nghiệp Việt Nam mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế vĩ mô", Ban IV gửi Thủ tướng Chính phủ. (Baodautu.vn 14/11)Về đầu trang
Nhiều quy định chồng chéo, xung đột… gây khó cho doanh nghiệp
“Nhiều thông tư vẫn chưa phù hợp với thực tế gây khó khăn cho doanh nghiệp, có quy định mâu thuẫn, chồng chéo hoặc chưa thống nhất giữa các thông tư với nhau…”.
Đây là những phản ảnh của doanh nghiệp tại Hội thảo "Chất lượng của quy định và sự thuận lợi của môi trường kinh doanh" do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) tổ chức ngày 11/11.
Tại hội thảo, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký, Trưởng Ban Pháp chế VCCI cho biết, dù đã có nhiều động thái thúc đẩy cải cách nhưng trên thực tế doanh nghiệp vẫn phản ánh tình trạng vướng mắc, bất cập khi thực hiện các hoạt động kinh doanh. Điều này một phần xuất phát từ việc chất lượng của các văn bản pháp luật chưa thực sự tốt, đặc biệt là các văn bản hướng dẫn thực thi.
Báo cáo "Chất lượng của Thông tư, công văn với hiệu quả của cải cách thể chế" có nêu thực trạng thông tư vẫn còn quy định về điều kiện kinh doanh - điều bị cấm trong Luật Đầu tư 2020; các quy định tại thông tư vẫn còn chưa đảm bảo tính thống nhất, minh bạch, khả thi, gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp.
Theo bà Nguyễn Thị Diệu Hồng, Ban Pháp chế (VCCI), thực tế, thông tư, công văn là cầu nối, truyền tải các chính sách trong các quy định tại luật, pháp lệnh, nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ vào cuộc sống.
Thậm chí, trong nhiều lĩnh vực, doanh nghiệp lệ thuộc vào thông tư, theo nghĩa là đợi thông tư để thực thi hơn là trực tiếp tuân thủ các quy định luật, nghị định.
"Tuy nhiên, doanh nghiệp ít có cơ hội đóng góp ý kiến đối với phiên bản dự thảo cuối cùng của thông tư trước khi được ban hành, nên đã từng có thông tư vừa được ban hành đã phải tạm ngừng", bà Nguyễn Thị Diệu Hồng lo ngại.
Lấy ví dụ cụ thể, bà Nguyễn Thị Diệu Hồng cho biết, Thông tư 15/2019/TT-BKHCN về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thép không gỉ bị ngưng hiệu lực sau 8 tháng phát sinh hiệu lực. Sau khi được ban hành, các doanh nghiệp chịu tác động liên quan mới ngã ngửa vì không biết, không có cơ hội tham gia ý kiến trước.
"Hệ quả là cả doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước phải mất nhiều chi phí, thời gian để "làm lại từ đầu" trước khi quyết định tạm hoãn hiệu lực của văn bản này", bà Nguyễn Thị Diệu Hồng thông tin.
Đây không phải là trường hợp duy nhất. Ông Nguyễn Văn Đệ, Chủ tịch Hiệp hội Bệnh viện tư nhân Việt Nam sau khi liệt kê một loạt thông tư đang làm khổ doanh nghiệp đã buộc phải thẳng thắn là thông tư vẫn to hơn nghị định.
"Thông tư còn nguy hiểm hơn tham nhũng, vì thông tư chất lượng kém khiến doanh nghiệp không làm được, cản trở doanh nghiệp thì người dân không có việc làm, thì nhà nước làm sao thu được ngân sách. Đáng ra thông tư là thúc đẩy doanh nghiệp làm theo luật, phanh trước doanh nghiệp những vùng cấm", ông Đệ thẳng thắn.
Đáng lo ngại hơn, ông Nguyễn Quốc Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội Nhà thầu xây dựng Việt Nam (VACC), trong lĩnh vực bất động sản có 12 luật liên quan, mà không luật nào theo luật nào, nên doanh nghiệp như trong một mớ bòng bong, nhiều cuộc gặp tháo gỡ vẫn chưa xong.
Đơn cử, Luật Nhà ở quy định bảo hành là của chủ đầu tư là 60 tháng với nhà chung cư, Luật Xây dựng quy định thời hạn bảo hành tối đa đối với công trình cấp đặc biệt và cấp 1 cũng chỉ tối đa là 24 tháng.
"Hai văn bản luật này đều do Bộ Xây dựng được giao chủ trì soạn thảo, nhưng do 2 cục của Bộ chắp bút thôi mà đã ra hai quy định khác nhau về cùng 1 vấn đề. Tôi đã chất vấn Bộ Xây dựng nhưng không ai trả lợi được. Doanh nghiệp làm thực hiện thế nào, nên có doanh nghiệp nói với tôi họ không dám đầu tư nữa", ông Hiệp chia sẻ thực tế.
Bà Trần Ngọc Ánh, đại diện Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN cũng kể thực tế các doanh nghiệp tham gia góp ý nhiều văn bản, nhưng cũng không biết được tiếp thu thế nào, nhưng khi văn bản ra thì lại không thấy tiếp thu, không thực hiện được, đến mức có trường hợp cơ quan quản lý phải ra công văn để xử lý.
"Ở hình thức công văn, nhiều khi doanh nghiệp nhận được mà không biết vận dụng ra sao, vì cách trả lời "liệt kê các quy định hiện có" trong khi doanh nghiệp cần là làm theo quy định nào thì không rõ. Còn có nỗi khổ từ các quy định không tương thích với các quốc gia khác, nên nhiều doanh nghiệp bị phạt, không cho thông quan", bà Trần Ngọc Ánh quan ngại. (Bizlive.vn 14/11, Nguyễn Ngọc)Về đầu trang
3 cảng biển Việt Nam lọt top 100 cảng lớn nhất thế giới
3 cảng biển Việt Nam vừa lọt top 100 cảng container hàng hóa lớn nhất thế giới, đó là Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh và Cái Mép.
Bảng xếp hạng do Tạp chí hàng hải Lloyd's List của Anh vừa công bố. Cảng biển TP Hồ Chí Minh xếp thứ 22 trong danh sách. với sản lượng thông qua là 7,9 triệu Teus trong năm 2021 và tốc độ tăng trưởng đạt khoảng 1,3% so với năm 2020. Đây là cảng giữ vững vị thế trong bối cảnh kinh tế cả nước tăng trưởng còn chậm sau đại dịch.
Theo tạp chí này, Việt Nam có thể phát triển để nằm trong một chuỗi cung ứng chiến lược với cảng biển này. Tương lai của cảng biển TP Hồ Chí Minh có thể mở rộng hơn nữa và khu vực này cũng đang có những thay đổi quan trọng. Dự án Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ gần cảng biển TP Hồ Chí Minh với trị giá đầu tư dự kiến 6 tỷ USD nếu được phê duyệt có thể là cảng trung chuyển lớn nhất cả nước và có tác dụng giao thương đáng kể với các nước trong khu vực.
Trong khi đó, cảng biển Hải Phòng giữ vị trí thứ 38, có sản lượng hàng năm 2021 đạt 5,69 triệu Teus, tăng trưởng khoảng 10,8% so với năm đại dịch 2020. Lloyd’s List đánh giá tốc độ tăng trưởng về sản lượng hàng hóa của cảng biển Hải Phòng năm 2021 đã tăng gấp đôi so với năm 2012.
Nhiều tuyến tàu container kết nối trực tiếp từ Hải Phòng đi các nước châu Á và Mỹ đã được hình thành, cũng như phát triển nhiều tuyến dịch vụ mới xuất phát từ cảng biển Hải Phòng trong thời gian qua như tuyến từ Việt Nam đến bờ Tây nước Mỹ, từ Việt Nam tới Tây Ấn Độ...
Các cảng biển tại đây cũng được đánh giá có sự tăng trưởng về lưu lượng hàng hóa. Trong đó, cảng Tân Vũ tại Lạch Huyện đạt sản lượng tốt nhất khi có hơn 1 triệu Teus thông qua trong năm 2021.
Tăng ấn tượng nhất là cảng Cái Mép khi vươn 10 bậc lên vị trí 32 trong bảng xếp hạng. Cảng biển Cái Mép có lượng hàng thông qua đạt 5,32 triệu Teus vào năm 2021. Cảng Cái Mép được nhận định là điểm sáng tại khu vực Đông Nam Á với tốc độ tăng trưởng sau đại dịch khoảng 22%.
Sự tăng trưởng ấn tượng này được đánh giá là có được sau khi Cái Mép có thêm cảng Gemalink (với 25% cổ phần của hãng tàu lớn thế giới CMA-CGM) đi vào hoạt động. Cảng này được kỳ vọng sẽ đón được khoảng 1,4 triệu Teus thông qua trong năm 2022. (VTV.vn 14/11)Về đầu trang
Doanh nghiệp đăng ký vay trả nợ nước ngoài rất lớn
Ngày 15/11 tới, Thông tư 12 về quản lý ngoại hối đối với việc vay trả nợ nước ngoài của DN sẽ bắt đầu có hiệu lực. Thông tư 12 với các quy định cụ thể về nội dung chuyển tiếp và hiệu lực thi hành, thay thế Thông tư 03 và các thông tư liên quan, sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư 03.
Theo ông Nguyễn Đức Lệnh - Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh TPHCM, TPHCM là trung tâm kinh tế lớn, hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh phát triển. Vì vậy, nhu cầu vay trả nợ nước ngoài của DN cao và ngày càng tăng. Số lượng hồ sơ xin xác nhận đăng ký vay trả nợ nước ngoài rất lớn. Do đó, để Thông tư 12 đi vào thực tiễn cuộc sống có hiệu quả, DN ngoài việc tuân thủ nghiêm các quy định về hoạt động quản lý ngoại hối đối với việc vay trả nợ nước ngoài, cần thực hiện trách nhiệm, nhiệm vụ của mỗi bên.
Trong đó, DN vay vốn cần phải sử dụng trang điện tử của NHNN, không chỉ để thực hiện chế độ báo cáo hàng tháng, trực tuyến mà còn để sử dụng phổ biến hơn trong việc khai báo thông tin đăng ký, đăng ký thay đổi khoản vay, nhằm khai thác tối đa lợi ích từ cải cách thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công từ NHNN, cũng như thuận lợi trong trao đổi, nắm bắt thông tin, nắm bắt quy định để thực hiện tốt trách nhiệm của DN vay, hạn chế sai phạm phát sinh trong lĩnh vực này.
Các tổ chức tín dụng (TCTD) và DN phối hợp làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền về thông tư. Đặc biệt, những điểm mới và những quy định về trách nhiệm, nhiệm vụ các bên; quy trình, thủ tục hồ sơ; thời hạn nộp hồ sơ; các quy định về giao dịch với TCTD được phép; cũng như về sử dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả…
Theo ông Nguyễn Đức Lệnh, giải pháp này có ý nghĩa hỗ trợ, song hiệu quả và thiết thực, bởi lẽ nếu DN và kể cả TCTD nắm bắt thông tin đầy đủ, nắm chắc nhiệm vụ và trách nhiệm, sẽ hạn chế sai phạm phát sinh có liên quan, đồng thời góp phần thực hiện hiệu quả chính sách quản lý ngoại hối đối với việc vay trả nợ nước ngoài của DN, phát huy hiệu quả dòng vốn ngoại tệ phục vụ tăng trưởng và phát triển sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Về cơ bản, Thông tư 12 quy định về hoạt động vay trả nợ nước ngoài của DN không có nhiều thay đổi, đều nhằm quản lý ngoại hối đối với việc vay trả nợ nước ngoài của DN hiệu quả, thu hút và tập trung nguồn lực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước, kiểm soát tốt dòng vốn ngoại tệ và hoạt động vay trả nợ nước ngoài của DN đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
Những điểm mới của thông tư, tập trung vào những điều chỉnh, bổ sung và sửa đổi về thủ tục hành chính; về chế độ báo cáo; về trách nhiệm của các bên có liên quan... nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho DN; công khai minh bạch hơn, song vẫn đảm bảo hiệu quả công tác quản lý; hiệu quả tổ chức tín dụng được phép cung ứng dịch vụ tài khoản, cũng như trách nhiệm của chính DN trong vay và trả nợ nước ngoài, đảm bảo tuân thủ quy định và sử dụng vốn vay hiệu quả - ông Lệnh cho biết. (Tienphong.vn 14/11, Uyên Phương)Về đầu trang
Thủ tướng sắp chủ trì hội nghị “3 trong 1” đặc biệt phát triển Tây Nguyên
Với chủ đề “Phát triển xanh - Hài hòa - Bền vững”, Hội nghị sẽ được tổ chức tại TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, dưới sự chủ trì của Thủ tướng Phạm Minh Chính, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh và lãnh đạo các bộ ngành, địa phương, các hiệp hội doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Dự kiến, 500 đại biểu sẽ tham dự hội nghị.
Đây là thông tin được Thứ trưởng tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) Trần Duy Đông đưa ra tại họp báo sáng 14/11 về Hội nghị công bố Chương trình hành động của Chính phủ (thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 06/10/2022 của Bộ Chính trị) về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Thứ trưởng Trần Duy Đông cho biết, đây là hội nghị “3 trong 1”, được tổ chức không chỉ với mục đích công bố Chương trình hành động của Chính phủ, mà còn xúc tiến đầu tư, kêu gọi sự quan tâm của các nhà đầu tư tới vùng Tây Nguyên.
Dự kiến, tại hội nghị sẽ diễn ra lễ trao thỏa thuận hợp tác về phát triển bền vững vùng Tây Nguyên giữa Bộ KH&ĐT với các đối tác phát triển, các biên bản ghi nhớ, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Thứ trưởng Trần Duy Đông cho biết, các lĩnh vực còn tiềm năng lớn tại Tây Nguyên, được quan tâm đầu tư là: Nông nghiệp quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao; năng lượng tái tạo mặt trời, gió; chế biến nhôm chất lượng cao, gắn với khai thác bền vững bô xít; khai thác dược liệu…
Tại hội nghị, 3 dự án sẽ được trao chủ trương đầu tư, trong các lĩnh vực: chế biến nông sản, gỗ, bất động sản. Quy mô 1.250 tỷ đồng.
Thứ trưởng Trần Duy Đông cho biết, đến nay, quy mô kinh tế của vùng Tây Nguyên đã tăng nhanh, năm 2020 gấp hơn 14 lần năm 2002. Tây Nguyên trở thành vùng sản xuất một số sản phẩm nông sản chủ lực quy mô lớn, chiếm tỉ trọng cao, nhất là cây công nghiệp, cây ăn quả. Hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là hạ tầng giao thông, được quan tâm đầu tư, giúp cải thiện đáng kể sự kết nối giữa các tỉnh trong vùng, và giữa vùng với cả nước. Một số địa phương đã có sự phát triển bứt phá, tạo nên những điểm sáng trong vùng và cả nước.
Tuy nhiên, việc phát triển kinh tế - xã hội của vùng còn những hạn chế, bất cập và gặp nhiều khó khăn, thách thức. Tốc độ tăng trưởng kinh tế thiếu bền vững, có xu hướng chậm lại. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân đầu người vẫn ở mức thấp nhất trong 6 vùng kinh tế - xã hội.
Những hạn chế, bất cập này nếu được khắc phục kết hợp với những tiềm năng, lợi thế và nguồn lực còn chưa được khai được hiệu quả, bên cạnh các cơ hội mới sẽ là “dư địa”, cơ hội để Tây Nguyên phát triển mạnh trong thời gian tới.
Hiện Bộ KH&ĐT đã trình Chính phủ dự thảo Chương trình hành động của Chính phủ theo nguyên tắc bám sát quan điểm, mục tiêu, đồng thời cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp đã nêu trong Nghị quyết số 23-NQ/TW, trong đó xác định rõ các nhiệm vụ chủ yếu, các giải pháp cụ thể gắn với kế hoạch tổ chức theo lộ trình phù hợp nhằm đạt được các mục tiêu của Nghị quyết.
Chương trình đề ra 23 nhiệm vụ cụ thể và 9 dự án đầu tư và hạ tầng giao thông kết nối và phân công cho các Bộ, ngành triển khai thực hiện, có lộ trình thời gian cụ thể. (Tienphong.vn 14/11, Việt Linh)Về đầu trang
Vùng kinh tế nào dẫn đầu thu ngân sách Nhà nước trong 10 tháng đầu năm 2022?
Báo cáo từ Bộ Tài chính cho biết, thu ngân sách Nhà nước tháng 10 ước đạt 130.300 tỷ đồng. Lũy kế 10 tháng thu ngân sách ước đạt hơn 1,46 triệu tỷ đồng, bằng 103,7% dự toán. Thu ngân sách 10 tháng đầu năm 2022 vượt đến 16,2% so với cùng kỳ năm 2021.
Theo Bộ Tài chính, thu ngân sách Nhà nước 10 tháng vượt dự toán chủ yếu do nền kinh tế duy trì được đà phục hồi và tăng trưởng khả quan (GDP 9 tháng tăng 8,83%, là mức tăng cao nhất từ năm 2011 đến nay; chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP), kim ngạch xuất khẩu, giá trị xuất siêu đều tăng…).
Trong 6 vùng kinh tế của Việt Nam, Đông Nam Bộ là vùng thu ngân sách 10 tháng đầu năm nhiều nhất cả nước. Cụ thể, lũy kế 10 tháng đầu năm 2022, số thu NSNN ước đạt hơn 619.794 tỷ đồng, chiếm khoảng 42,4% cả nước.
Trong đó, theo Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh, tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố lũy kế 10 tháng năm 2022 ước thực hiện 392.791 tỷ đồng . Với kết quả này, thu ngân sách Nhà nước của TP. HCM đã về đích sớm, vượt 1,6% dự toán và tăng 22,3% so với cùng kỳ.
Trong đó, thu nội địa ước thực hiện 254.059 tỷ đồng, đạt 97,9% dự toán, chiếm 64,7% tổng thu cân đối và tăng 19,3% so với cùng kỳ.
Xếp sau về thu NSNN là tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, theo Cục Thống kê tỉnh, tổng thu NSNN trên địa bàn thực hiện tháng 10 năm 2022 là 9.883 tỷ đồng, lũy kế tháng 10 ước khoảng 94.026 tỷ đồng . Số tiền này đạt 131,4% dự toán và tăng 31,72% so với cùng kỳ năm trước.
UBND tỉnh Đồng Nai cho biết, trong 10 tháng của năm 2022, tuy tình hình kinh tế khó khăn nhưng đa số các lĩnh vực đều giữ được mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt gần 20,8 tỷ USD, tăng gần 19%; thu ngân sách Nhà nước gần 56.000 tỷ đồng , đạt 101% dự toán.
Trong tháng 10 năm 2022, ước thu mới ngân sách trên địa bàn tỉnh Bình Dương đạt 6.900 tỷ đồng; lũy kế 10 tháng thu đạt 55.200 tỷ đồng , bằng 99% so với cùng kỳ, đạt 92% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh.
Cục Thống kê tỉnh Bình Phước cho biết, tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tháng 10/2022 ước thực hiện được 617 tỷ đồng, lũy kế 10 tháng ước thu 11.960 tỷ đồng đạt 83,94% kế hoạch dự toán HĐND tỉnh điều chỉnh. Trong đó: thu từ khu vực kinh tế quốc doanh là 75 tỷ đồng; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh 80 tỷ đồng; thu tiền sử dụng đất là 165 tỷ đồng.
Theo Cục Thống kê tỉnh Tây Ninh, tổng thu ngân sách trên địa bàn tháng 10 ước đạt 940 tỷ đồng, lũy kế 10 tháng 9.817 tỷ đồng , đạt 97,98% dự toán, tăng 15,63% so cùng kỳ. Trong đó, thu nội địa 8.442 tỷ đồng, đạt 96,52% dự toán, tăng 15,78% cùng kỳ năm trước. (Nhipsongkinhte.toquoc.vn 14/11)Về đầu trang
Bình Dương chi ngân sách hỗ trợ học phí cho học sinh
Ngày 14/11, Sở Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) tỉnh Bình Dương thông tin, mức thu học phí năm học 2022-2023 của tỉnh sẽ áp dụng bằng mức sàn (mức thấp nhất) khung học phí mới theo quy định. Mức học phí mới sẽ cao hơn 3 lần so với học phí năm học 2021-2022.
Cùng với đó, Sở GD-ĐT Bình Dương cũng đã tham mưu UBND tỉnh về thu học phí năm học 2022-2023. Trong đó, học phí học sinh phải nộp bằng mức học phí của năm học 2021-2022. Ngân sách địa phương sẽ thực hiện việc cấp bù phần chênh lệch giữa mức thu theo quy định mới và mức thu thực tế học sinh phải nộp.
UBND tỉnh tỉnh Bình Dương đã thống nhất với đề xuất của Sở GD-ĐT về áp dụng mức thu học phí năm học 2022-2023 bằng mức thu học phí năm học 2021-2022.
Cụ thể, năm học 2021-2022, học phí với cấp mầm non là 180.000 đồng/tháng đối với trường chuẩn; 90.000 đồng/tháng với các trường học chưa đạt chuẩn.
Đối với bậc trung học cơ sở, mức học phí là 60.000 đồng/tháng, trung học phổ thông là 80.000 đồng/tháng.
Tại tỉnh Bình Dương, con em người lao động ngoại tỉnh chiếm số đông. Trước tình trạng giá cả hàng hóa leo thang, trong khi doanh nghiệp đang chật vật vì thiếu đơn hàng phải cắt giảm giờ làm nên đã khiến đời sống người lao động trở nên khó khăn hơn.
Việc Bình Dương dùng ngân sách bù vào phần chênh lệch học phí không chỉ hỗ trợ cho người dân mà còn giảm bớt gánh nặng cho ngành giáo dục địa phương. (Tienphong.vn 14/11, Hương Chi)Về đầu trang
Tạm giữ Phó Chánh án tỉnh Bạc Liêu về hành vi nhận hối lộ
Sáng 14/11, tại TAND tỉnh Bạc Liêu, cơ quan điều tra VKSND Tối cao thông báo về việc bắt người phạm tội quả tang đối với ông Châu Văn Mỹ (52 tuổi), Phó Chánh án TAND tỉnh Bạc Liêu.
Ông Mỹ bị bắt quả tang về hành vi "Nhận hối lộ", phạm vào Điều 354, Bộ Luật hình sự. Ông Mỹ đang bị tạm giữ tại một trại tạm giam ở TPHCM.
Cơ quan chức năng cũng đã khám xét nơi làm việc của ông Mỹ, dưới sự chứng kiến của đại diện tòa án tỉnh Bạc Liêu.
"Những thông tin liên quan đến ông Mỹ vẫn đang điều tra nên chưa thể cung cấp thông tin gì thêm", nguồn tin của Dân trí cho hay.
Trước đó, tối 11/11, tại một khách sạn ở phường 1, TP Bạc Liêu, khi ông Châu Văn Mỹ đang có hành vi nhận hối lộ từ bà D.H.T. (45 tuổi, ngụ huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu) thì bị bắt quả tang. Bà T. là bị cáo trong một vụ án "Trộm cắp tài sản". (Dantri.com.vn 14/11, Huỳnh Hải)Về đầu trang
Cách Singapore thu hút dự án khởi nghiệp công nghệ
Theo các chuyên gia, với diện tích nhỏ và dân số hơn 5,4 triệu người, Singapore không phải thị trường chính để các startup nhắm đến. Thay vào đó, họ coi đây là cửa ngõ để tiếp cận thị trường Đông Nam Á nói riêng và châu Á nói chung.
Ông Yong đánh giá, khi trở thành "trung tâm", Singapore có lợi thế về khả năng kết nối, trở thành nơi các quỹ tìm đến khi muốn đầu tư và các nhà khởi nghiệp chọn khi cần tìm nguồn hỗ trợ tài chính, từ đó thu hút được startup.
Để làm được điều đó, hệ thống giáo dục đã liên tục nâng cấp để thu hút và đào tạo ra người có chuyên môn cao về công nghệ. Trong khi đó, môi trường sống an toàn, thoải mái giúp giữ chân nhân tài. Nguồn tài chính cho đổi mới sáng tạo cùng cơ chế quản lý linh hoạt đã thúc đẩy những ý tưởng khởi nghiệp mới mẻ. Nước này cam kết hỗ trợ 19 tỷ USD trong giai đoạn 2020-2025 cho nghiên cứu, đổi mới và phát triển doanh nghiệp.
Theo ông Yong, thu hút người tài không chỉ là vấn đề thu nhập hay môi trường kinh doanh, mà cần tạo điều kiện để họ phát huy tối đa tiềm năng. "Nếu họ đến Singapore và thấy có nhiều điều không thể làm được, họ sẽ rời đi", ông nói và cho rằng, tính linh hoạt là điều quan trọng nhất trong quản lý.
Ví dụ với lĩnh vực mới như công nghệ y tế, fintech, đặc biệt là blockchain, ông cho biết sẽ không thể ra luật mà không biết mô hình kinh doanh tương lai sẽ như thế nào. Nhưng cũng không thể thả cho doanh nghiệp làm mọi điều họ muốn, bởi nhiều công nghệ mới có thể ảnh hưởng đến cuộc sống, thậm chí tính mạng con người.
Giải pháp được đưa ra là cơ chế SandBox, cho phép các dự án thử nghiệm hoạt động trong khuôn khổ pháp lý nhất định, sau đó linh hoạt điều chỉnh dựa trên sự phát triển của dự án đó. Đây cũng là điểm thu hút nhiều nhà sáng lập Việt Nam, như Việt Dũng, chọn Singapore làm nơi khởi nghiệp dự án về blockchain, Web3 của mình.
"Các nhà sáng lập Việt không khai thác thị trường tương đối nhỏ ở Singapore, mà họ khai thác nguồn nhân tài, sự hỗ trợ về tài chính và các quy định để có thể tự do thử nghiệm", James Tan, Chủ tịch cộng đồng doanh nghiệp ACE tại Singapore, đánh giá.
Theo James, Việt Nam có nhiều nhân tài trong lĩnh vực Web3 và luôn là quốc gia được nghĩ tới đầu tiên khi nhắc đến vấn đề nhân lực trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, Singapore, với khung quy định rõ ràng và tự định vị mình là trung tâm Web3 của châu Á, vẫn thu hút đầu tư Web3 tốt nhất. (Vnexpress.net 14/11, Lưu Quý)Về đầu trang
Dân số thế giới đạt 8 tỉ người, Trung Quốc đối mặt tỉ lệ sinh giảm
Trung Quốc đang chứng kiến tỉ lệ sinh giảm mạnh do nhiều người trẻ tuổi có xu hướng kết hôn muộn hoặc không kết hôn.
Theo dự kiến của Liên Hợp Quốc, dân số thế giới sẽ đạt 8 tỉ người vào thứ Ba, ngày 15.11.2022. Tuy vậy, Trung Quốc, đất nước tỉ dân hiện đang phải chứng kiến tỉ lệ sinh giảm mạnh, Reuters đưa tin.
Trong nhiều thập kỷ, Trung Quốc đã đề phòng viễn cảnh dân số tăng nhanh và áp đặt chính sách một con nghiêm ngặt từ năm 1980 đến năm 2015 để kiểm soát dân số. Nhưng bây giờ, Liên Hợp Quốc dự kiến dân số Trung Quốc sẽ bắt đầu giảm từ năm tới, và Ấn Độ có thể sẽ thay thế nước này, trở thành quốc gia đông dân nhất thế giới.
Tỉ lệ sinh 1,16 của Trung Quốc vào năm 2021 thấp hơn mức 2,1 tiêu chuẩn của một nước có dân số ổn định và thuộc nhóm thấp nhất trên thế giới, theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OCED.
Các nhà nhân khẩu học cho biết ảnh hưởng của COVID-19 và các biện pháp nghiêm ngặt của Trung Quốc để đối phó đại dịch cũng có thể tác động sâu sắc đến mong muốn có con của nhiều người. Số ca sinh mới ở Trung Quốc sẽ giảm xuống mức thấp kỷ lục trong năm nay, xuống dưới 10 triệu so với 10,6 triệu của năm ngoái - thấp hơn 11,5% so với năm 2020.
Năm ngoái, Bắc Kinh đã bắt đầu cho phép các cặp vợ chồng sinh tối đa 3 con và chính phủ Trung Quốc cho biết họ đang nỗ lực để đạt được tỷ lệ sinh "phù hợp".
Việc dân số ngày càng giảm đặt ra một loạt vấn đề hoàn toàn mới cho Trung Quốc. "Chúng tôi dự đoán dân số già sẽ tăng rất nhanh. Đây là một tình huống rất quan trọng mà Trung Quốc phải đối mặt, khác với 20 năm trước" - Shen Jianfa, giáo sư tại Đại học Trung Quốc Hong Kong, cho biết. (Laodong.vn 14/11, Anh Vũ)Về đầu trang./.
Trung tâm Tin học - Công báo
- Bản tin phục vụ lãnh đạo ngày 14/11/2022 (15/11/2022)
- Bản tin phục vụ lãnh đạo ngày 11/11/2022 (11/11/2022)
- Bản tin phục vụ lãnh đạo ngày 10/11/2022 (11/11/2022)
- Bản tin phục vụ lãnh đạo ngày 09/11/2022 (09/11/2022)
- Bản tin phục vụ lãnh đạo ngày 08/11/2022 (09/11/2022)
- Bản tin phục vụ lãnh đạo ngày 07/11/2022 (07/11/2022)
- Bản tin phục vụ lãnh đạo ngày 04/11/2022 (04/11/2022)
- Bản tin phục vụ lãnh đạo ngày 03/11/2022 (04/11/2022)
- Bản tin phục vụ lãnh đạo ngày 02/11/2022 (03/11/2022)
- Bản tin phục vụ lãnh đạo ngày 01/11/2022 (03/11/2022)

