Bản tin cải cách hành chính ngày 27/11/2019

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. Buộc thôi việc với cán bộ, công chức không hoàn thành nhiệm vụ 2 năm liên tiếp

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

2. Lâm Đồng: Quy định tiêu chuẩn, chức danh lãnh đạo cấp phòng, ban, chi cục

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

3. Bộ TN&MT cho phép các đơn vị tự đánh giá ứng dụng CNTT trên phần mềm

4. Dịch vụ công trực tuyến Kho bạc Nhà nước: Hoạt động thông suốt, bảo đảm an toàn

5. Thuế và Hải quan cải cách mạnh mẽ, doanh nghiệp an tâm

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

6. Bỏ khái niệm 'người tài' trong Luật Cán bộ, công chức

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

7. Bỏ “viên chức suốt đời”: Cú sốc với công chức cắp ô?

TIN THẾ GIỚI

8. Cựu quan chức Bộ Nông nghiệp Fiji đối mặt cáo buộc tham nhũng

         

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Buộc thôi việc với cán bộ, công chức không hoàn thành nhiệm vụ 2 năm liên tiếp

Chiều 25/11, Quốc hội (QH) đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức. Trong số những quy định đáng chú ý của Luật có quy định về việc xử lý cán bộ, công chức có 2 năm liên tiếp được xếp loại chất lượng ở mức không hoàn thành nhiệm vụ.

Luật quy định, căn cứ vào kết quả đánh giá, cán bộ được xếp loại chất lượng theo các mức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; hoàn thành tốt nhiệm vụ; hoàn thành nhiệm vụ và không hoàn thành nhiệm vụ.

Kết quả xếp loại chất lượng cán bộ được lưu vào hồ sơ cán bộ, thông báo đến cán bộ được đánh giá và công khai trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi cán bộ công tác.

Đặc biệt, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền miễn nhiệm, cho thôi làm nhiệm vụ đối với cán bộ có 2 năm liên tiếp được xếp loại chất lượng ở mức không hoàn thành nhiệm vụ.

Về xếp loại chất lượng công chức, các mức xếp loại cũng bao gồm 4 mức tương tự như với cán bộ.

Kết quả xếp loại chất lượng công chức được lưu vào hồ sơ công chức, thông báo đến công chức được đánh giá và được thông báo công khai trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi công chức công tác.

Về việc xử lý công chức không hoàn thành nhiệm vụ, theo quy định của Luật, cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền cho thôi việc đối với công chức có 2 năm liên tiếp được xếp loại chất lượng ở mức không hoàn thành nhiệm vụ.

Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có 2 năm không liên tiếp trong thời hạn bổ nhiệm được xếp loại chất lượng ở mức không hoàn thành nhiệm vụ thì bố trí công tác khác hoặc không bổ nhiệm lại.

Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong 3 năm có 2 năm không liên tiếp được xếp loại chất lượng ở mức không hoàn thành nhiệm vụ ở vị trí việc làm đang đảm nhận thì bố trí vào vị trí việc làm có yêu cầu thấp hơn. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2020.

Trình bày Báo cáo Giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật trước khi QH biểu quyết thông qua Luật, Tổng thư ký QH, Chủ nhiệm Văn phòng QH Nguyễn Hạnh Phúc cho biết, về đánh giá công chức được quy định tại khoản 11 và khoản 12 Điều 1 của dự thảo Luật, một số ý kiến đề nghị quy định chặt chẽ, khả thi hơn để có thể đưa được người không đủ năng lực, trình độ ra khỏi bộ máy.

Có ý kiến đề nghị quy định việc đánh giá công chức theo kết quả, hiệu quả công việc cụ thể; bổ sung nội dung đánh giá; thay cụm từ “phân loại đánh giá” bằng cụm từ “xếp loại chất lượng” để phù hợp, đồng bộ với Quy định số 132-QĐ/TW ngày 8/3/2018 của Bộ Chính trị.

Tiếp thu ý kiến của đại biểu QH, Điều 56 của Luật Cán bộ, công chức hiện hành đã được sửa đổi, bổ sung làm rõ hơn nội dung đánh giá công chức để tăng cường tính khả thi và thống nhất với các văn bản của Đảng (khoản 11 Điều 1 của dự thảo Luật).

Cụ thể, dự thảo Luật bổ sung nội dung đánh giá chấp hành quy định của cơ quan, tổ chức, đơn vị; đánh giá về kết quả thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, theo kế hoạch đề ra hoặc theo công việc cụ thể được giao; tiến độ và chất lượng thực hiện nhiệm vụ bảo đảm việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phải gắn với vị trí việc làm, thể hiện thông qua công việc, sản phẩm cụ thể…; thay thế cụm từ “phân loại đánh giá” bằng cụm từ “xếp loại chất lượng” cán bộ, công chức, viên chức để chỉnh lý tại các điều tương ứng của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức. (Baophapluat.vn 26/11, Hà Dung) Về đầu trang 

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Lâm Đồng: Quy định tiêu chuẩn, chức danh lãnh đạo cấp phòng, ban, chi cục

UBND tỉnh Lâm Đồng vừa ban hành Quy định số lượng, tiêu chuẩn chức danh Trưởng, Phó phòng, ban, chi cục và tương đương trở xuống thuộc các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố trực thuộc tỉnh.

Quy định này áp dụng đối với người được xem xét bổ nhiệm, bổ nhiệm lại các chức danh, làm cơ sở để cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thực hiện quy hoạch, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại theo quy định phân cấp hiện hành.

Theo bản Quy định kèm theo Quyết định số 50/2019/QĐ-UBND của UBND tỉnh Lâm Đồng: Đối với các chi cục thuộc sở, ban, ngành, chi cục có 3 phòng trở xuống được bố trí 1 Phó Chi cục trưởng, trên 3 phòng bố trí không quá 2 Phó Chi cục trưởng. Đối với các phòng chuyên môn nghiệp vụ thuộc sở và UBND cấp huyện, phòng có từ 5-7 biên chế bố trí 1 Phó trưởng phòng, phòng có từ 8-14 biên chế bố chí không quá 2 Phó trưởng phòng, phòng có từ 15 biên chế trở lên bố trí không quá 3 Phó trưởng phòng. Đối với các phòng, khoa, đội, trạm thuộc chi cục hoặc đơn vị thuộc sở, UBND cấp huyện: Phòng có từ 5-7 biên chế bố trí 1 cấp phó, từ 8 biên chế bố trí không quá 2 cấp phó. Đối với các trường công lập, thực hiện theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Khung tiêu chuẩn bổ nhiệm các chức danh trên cũng được quy định chặt chẽ về chính trị tư tưởng, đạo đức lối sống, ý thức kỷ luật. Trình độ của người được bổ nhiệm tốt nghiệp đại học trở lên theo chuyên ngành, chuyên môn phù hợp với lĩnh vực công tác, trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên đối với vị trí là Trưởng, Phó các phòng, ban, các chi cục, đơn vị thuộc sở; Trưởng, Phó các phòng, ban, cơ quan đơn vị trực thuộc thuộc UBND cấp huyện.

Ngoài ra, người được bổ nhiệm đã hoàn thành chương trình bồi dưỡng lãnh đạo, quản lý cấp phòng và tương đương; được bổ nhiệm ngạch chuyên viên hoặc tương đương trở lên; có chứng chỉ ngoại ngữ tương đương bậc 2 hoặc chứng chỉ tiếng dân tộc thiểu số; có chứng chỉ tin học với trình độ đạt chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản…

Những người được bổ nhiệm vào các vị trí trên có tuổi bổ nhiệm lần đầu đủ công tác trọn 1 nhiệm kỳ, ít nhất 60 tháng; có ít nhất 3 năm kinh nghiệm công tác về lĩnh vực chuyên môn được bổ nhiệm; được quy hoạch vào chức vụ bổ nhiệm. Công chức, viên chức bị kỷ luật từ hình thức khiển trách trở lên không được bổ nhiệm vào chức vụ cao hơn trong thời gian ít nhất 1 năm…

UBND tỉnh Lâm Đồng chỉ đạo Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện Quy định này. Thủ trưởng các sở, ban, ngành, UBND cấp huyện căn cứ triển khai, nhất là rà soát, sắp xếp số lượng cấp phó sau khi thực hiện một số đề án về cải cách hành chính, sắp xếp lại bộ máy nhân sự các cơ quan, đơn vị trong thời gian qua. (Baotintuc.vn 27/11, Chu Quốc Hùng) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Bộ TN&MT cho phép các đơn vị tự đánh giá ứng dụng CNTT trên phần mềm

Theo quy định của Bộ TN&MT, hằng năm các đơn vị thuộc Bộ này sẽ cập nhật trực tiếp số liệu đánh giá mức độ ứng dụng CNTT của đơn vị mình thông qua việc sử dụng tài khoản được cấp trên phần mềm MONRE ICT-Index (http://ictindex.monre.gov.vn).

Bộ TN&MT mới đây đã ra Quyết định 2899 ban hành quy định đánh giá, xếp hạng mức độ ứng dụng và phát triển CNTT ngành TN&MT, thay thế cho quy định cũ đã được ban hành từ năm 2016.

Hướng dẫn cụ thể việc đánh giá, xếp hạng mức độ ứng dụng và phát triển CNTT và chế độ báo cáo định kỳ tình hình ứng dụng CNTT của ngành TN&MT, bản quy định đánh giá, xếp hạng mức độ ứng dụng và phát triển CNTT ngành TN&MT mới ban hành được áp dụng với tất cả các đơn vị trực thuộc Bộ TN&MT, Sở TN&MT các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là đơn vị báo cáo).

Mục đích chính của quy định này là nhằm đánh giá thực trạng mức độ ứng dụng CNTT tại các đơn vị báo cáo để phục vụ công tác đánh giá kết quả thực hiện các chương trình, kế hoạch ứng dụng CNTT; hoạch định, xây dựng chính sách, chiến lược, chương trình ứng dụng CNTT trong hoạt động của ngành trong các giai đoạn tiếp theo.

Kết quả đánh giá, xếp hạng mức độ ứng dụng CNTT cũng giúp lãnh đạo Bộ TN&MT và lãnh đạo các đơn vị kịp thời chỉ đạo khắc phục những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý, chỉ đạo điều hành từ đó đưa ra các biện pháp phù hợp nhằm thúc đẩy ứng dụng ứng dụng và phát triển CNTT của đơn vị.

Theo quy định của Bộ TN&MT, các đơn vị báo cáo được tự đánh giá và đối chiếu kết quả đánh giá của Bộ qua việc công khai phương pháp đánh giá, cách tính điểm đối với từng nội dung đánh giá.

Các thông tin liên quan tới việc thu thập số liệu, đánh giá xếp hạng mức độ ứng dụng và phát triển CNTT ngành TN&MT được cập nhật trên phần mềm MONRE ICT- Index. Được cập nhật tại địa chỉ http://ictindex.monre.gov.vn, phần mềm MONRE ICT- Index thu thập các số liệu theo hệ thống chỉ tiêu đánh giá mức độ ứng dụng và phát triển CNTT của Bộ TN&MT.

Được cập nhật tại địa chỉ http://ictindex.monre.gov.vn, phần mềm MONRE ICT- Index thu thập các số liệu theo hệ thống chỉ tiêu đánh giá mức độ ứng dụng và phát triển CNTT của Bộ TN&MT.

So với quy định ban hành năm 2016, tại quy định mới của Bộ TN&MT, hệ thống chỉ tiêu đánh giá mức độ ứng dụng và phát triển CNTT ngành TN&MT được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình mới, với 20 tiêu chí theo 5 nhóm nội dung đánh giá gồm: Hạ tầng kỹ thuật CNTT; Ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan; Trang/Cổng thông tin điện tử; Cơ chế, chính sách và các quy định cho ứng dụng CNTT; Nhân lực cho ứng dụng CNTT.

Các đơn vị quản lý nhà nước trực thuộc Bộ TN&MT có cung cấp dịch vụ công trực tuyến và các Sở TN&MT tỉnh, thành phố trưc thuộc trung ương còn có thêm phần đánh giá, xếp hạng về dịch vụ công trực tuyến, với 5 chỉ tiêu đánh giá: Cung cấp đầy đủ dịch vụ công trực tuyến; Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3; Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4; Xử lý hồ sơ điện tử; Cơ chế, chính sách và công bố kết quả giải quyết dịch vụ công.

Phần mềm thu thập số liệu về ứng dụng và phát triển CNTT của Bộ TN&MT MONRE ICT-Index do Cục CNTT và Dữ liệu tài nguyên môi trường thuộc Bộ này quản lý và vận hành. Mỗi đơn vị báo cáo được cấp 2 tài khoản sử dụng phần mềm này để nhập số liệu và xem các thông tin liên quan đến công tác thu thập số liệu, đánh giá xếp hạng mức độ ứng dụng và phát triển ngành TN&MT.

Bộ TN&MT cũng quy định, hằng năm các đơn vị cập nhật trực tiếp số liệu đánh giá mức độ ứng dụng CNTT của đơn vị mình thông qua việc sử dụng tài khoản được cấp trên phần mềm MONRE ICT-Index. Đồng thời, xác nhận tính pháp lý của số liệu bằng cách kết xuất file định dạng *.pdf, có xác nhận bằng dấu và chữ ký số của lãnh đạo đơn vị, đính kèm phần mềm khi có yêu cầu của Bộ.

Bộ TN&MT nêu rõ không nhận báo cáo số liệu bằng bản giấy, và không tổng hợp xếp hạng với các đơn vị báo cáo muộn hoặc không có xác nhận tính pháp lý của số liệu báo cáo. Đây là một điểm mới đáng chú ý trong quy định đánh giá, xếp hạng mức độ ứng dụng và phát triển CNTT ngành TN&MT mới được ban hành.

Trên cơ sở số liệu báo cáo và kết quả tự đánh giá của các đơn vị báo cáo, Hội đồng thẩm định sẽ tiến hành thẩm định, đánh giá và trình Bộ trưởng Bộ TN&MT phê duyệt kết quả đánh giá, xếp hạng trước ngày 31/12 hằng năm. Cục CNTT và Dữ liệu tài nguyên và môi trường là cơ quan được giao trách nhiệm tham mưu, trình Bộ trưởng Bộ TN&MT thành lập Hội đồng thẩm định số liệu báo cáo và đánh giá mức độ ứng dụng và phát triển CNTT của các đơn vị báo cáo.

Kết quả đánh giá mức độ ứng dụng và phát triển CNTT của các đơn vị báo cáo sẽ được Cục CNTT và Dữ liệu tài nguyên và môi trường phối hợp với Văn phòng Bộ công bố trên Cổng thông tin điện tử của Bộ TN&MT, đồng thời gửi kết quả đánh giá đến các cơ quan, đơn vị. (Icttnews.vn 26/11, M.T) Về đầu trang

Dịch vụ công trực tuyến Kho bạc Nhà nước: Hoạt động thông suốt, bảo đảm an toàn

Sau một thời gian dịch vụ công trực tuyến được triển khai tích cực đến nay, các đơn vị Kho bạc Nhà nước (KBNN) tỉnh, thành phố đã thu được kết quả nhất định.   

Theo thống kê mới nhất của KBNN, tính đến hết tháng 10/2019, đã có 48.267 đơn vị tham gia dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) với 123.006 tài khoản sử dụng đang hoạt động. Trong đó, đã có hơn 95,5 nghìn tài khoản thực hiện giao dịch qua hệ thống DVCTT với hơn 16 nghìn hồ sơ phát sinh trung bình hàng ngày. Ngày cao điểm có thể lên tới hơn 29 nghìn hồ sơ. Cũng theo KBNN, tính đến ngày 31/10/2019, đã có 21.737 đơn vị đăng ký sử dụng DVCTT, đạt 73% kế hoạch (kế hoạch năm 2019 là 29.646 đơn vị).

Hiện nay, tại nhiều KBNN tỉnh, thành phố, hệ thống DVCTT đã hoạt động thông suốt, bảo đảm an toàn, quy định chi tiết cho từng dịch vụ, dễ dàng cho các đơn vị tham gia sử dụng. Đơn cử như tại KBNN Sơn La, tính đến ngày 31/10, trên địa bàn tỉnh có 251/260 đơn vị sử dụng ngân sách kết nối thành công với DVCTT của Kho bạc, hoàn thành được 97% kế hoạch. Trong đó, có tới 195 đơn vị thực hiện chuyển tiền qua DVCTT. Theo ông Nguyễn Thế Chất, Giám đốc KBNN Sơn La, 3% hiện chưa tham gia DVCTT hầu hết là những đơn vị có thay đổi bộ máy (giải thể, sáp nhập) nên chờ kiện toàn chức danh chủ tài khoản, do vậy còn chậm tham gia dịch vụ công.

“Nhờ tuyên truyền, vận động, đến nay, phần lớn các đơn vị đều đồng thuận trong triển khai, tích cực phối hợp và chuẩn bị các điều kiện để tham gia DVCTT KBNN. Qua sử dụng, các đơn vị này cũng đều nhiệt tình tham gia, thấy được tiện ích trong việc chuyển chứng từ thanh toán qua dịch vụ công là tiết kiệm thời gian, không phải đến trụ sở KBNN, có thể chuyển chứng từ ngoài giờ, luôn thấy được trạng thái chứng từ mình chuyển, tự in được chứng từ báo nợ”, ông Nguyễn Thế Chất chia sẻ.

Tại KBNN Thái Bình, đơn vị này đã triển khai tốt Đề án Giao dịch điện tử trên hệ thống DVCTT của KBNN với các đơn vị sử dụng ngân sách trên địa bàn. Theo chia sẻ của bà Nguyễn Thị Hải, Phó Giám đốc KBNN Thái Bình, hiện tổng số đơn vị giao dịch thường xuyên với KBNN Thái Bình là 1.442 đơn vị. Tính đến 31/10/2019, toàn tỉnh đã có 766 đơn vị đăng kí thành công DVCTT. Trong đó đã có 641 đơn vị tham gia giao dịch qua DVCTT với 23.989 chứng từ giao dịch thành công. KBNN Thái Bình phấn đấu, đến hết tháng 12/2019, sẽ có 100% đơn vị đăng kí thành công DVCTT tại KBNN tỉnh và 70% đơn vị tại KBNN huyện.

Bên cạnh những địa phương có tỷ lệ đơn vị sử dụng DVCTT đạt khá cao, vẫn có một số đơn vị còn gặp một số khó khăn nhất định. Đơn cử như tại KBNN Lai Châu, hiện tại chỉ có 60/190 đơn vị sử dụng ngân sách có giao dịch với KBNN cấp tỉnh đăng ký tham gia DVCTT (chiếm 32% các đơn vị sử dụng ngân sách có giao dịch với KBNN cấp tỉnh). Theo chia sẻ của ông Nguyễn Ngọc Phong, Giám đốc KBNN Lai Châu, hiện tại, số đơn vị sử dụng ngân sách tại Lai Châu đăng ký sử dụng DVCTT còn thấp là do trong quá trình triển khai còn có những khó khăn nhất định.

"Những nguyên nhân như: Việc thay đổi thói quen làm việc, phê duyệt chứng từ thông qua bản giấy, ký chữ ký tay cũng gặp khó khăn do các chủ tài khoản chưa quen với việc duyệt chứng từ trên máy tính, ký bằng chữ ký số, đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình triển khai thực hiện. Hơn nữa, các kế toán, chủ tài khoản của các đơn vị sử dụng ngân sách chưa quen với thao tác chuyển file dữ liệu, mã hóa điện tử... Do đó, mặc dù đã được tuyên truyền về các lợi ích của DVCTT mang lại nhưng nhiều đơn vị sử dụng ngân sách vẫn thích giao dịch trực tiếp hơn", ông Phong nói.

Theo KBNN Lai Châu, trong thời gian tới, KBNN Lai Châu tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền và hướng dẫn cách sử dụng DVCTT đến người sử dụng tại các đơn vị sử dụng ngân sách. Đồng thời, KBNN Lai Châu sẽ thường xuyên tuyên truyền để nâng cao được nhận thức, hiểu biết về vai trò và lợi ích của hệ thống DVCTT, tạo động lực thúc đẩy các đơn vị sử dụng ngân sách, chủ đầu tư tham gia sử dụng ngày càng nhiều các DVCTT của KBNN.

Theo kế hoạch của KBNN Trung ương, trong năm 2019, KBNN các địa phương phải hoàn thành "phủ sóng" DVCTT tại tất cả các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước có giao dịch với KBNN cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Đến thời điểm hiện tại, hầu hết KBNN địa phương đang tiếp tục đôn đốc, hỗ trợ các đơn vị sử dụng ngân sách còn lại trên địa bàn để đạt 100% kế hoạch.

Còn tại KBNN quận, thị xã thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, bước sang năm 2020 sẽ là thời điểm các đơn vị chính thức triển khai dịch vụ này. Hiện tại, nhiều đơn vị đã thu được kết quả nhất định. Đáng chú ý nhất là tại KBNN Hưng Yên, đây là một trong số ít đơn vị trong toàn hệ thống KBNN đã hoàn thành “phủ sóng” DVCTT đến toàn bộ đơn vị sử dụng ngân sách trên địa bàn. Hiện đơn vị này đã tiếp tục vận hành, khai thác hiệu quả hệ thống DVCTT, tăng cường tiếp nhận hồ sơ, xử lý hồ sơ để giải quyết công việc kịp thời cho các đơn vị giao dịch. Theo đó, phân công, bố trí cán bộ nghiệp vụ, tin học phối hợp chặt chẽ với KBNN để hướng dẫn, hỗ trợ kịp thời các đơn vị sử dụng DVCTT. Trên cơ sở đó nắm bắt khó khăn, vướng mắc của các đơn vị sử dụng DVCTT. KBNN Hưng Yên cũng thường xuyên cập nhật nhanh chóng các chỉ đạo, thông báo, hướng dẫn của KBNN trên cổng thông tin điện tử, trang chủ DVCTT để kịp thời triển khai đạt hiệu quả.

Tại tỉnh miền núi khó khăn như Sơn La, hiện KBNN đã bước đầu làm việc với các đơn vị sử dụng ngân sách tuyến huyện, xã. Với những đơn vị này, Giám đốc KBNN Sơn La Nguyễn Thế Chất nhận định, nhìn chung, khó khăn vướng mắc sẽ nhiều hơn các đơn vị đi trước như cơ sở vật chất, vị trí địa lý. Khó khăn nhất là năng lực của cán bộ kế toán cấp xã (đặc biệt là những xã 30A, vùng sâu, vùng xa…). Tại những xã này, cán bộ kế toán thường có trình độ chuyên môn không cao. Hơn nữa, tại những xã đặc biệt khó khăn thường xuyên có tình trạng "thay người" khiến cán bộ KBNN liên tục phải hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn.

Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn, hiện điều kiện để những đơn vị sử dụng ngân sách này tham gia DVCTT đã thuận lợi hơn nhiều. Tại huyện Nậm Nhùn (tỉnh Lai Châu), dù là một huyện mới với khó khăn như địa bàn xa xôi, dàn trải, đặc biệt nghèo, nhưng đến thời điểm hiện tại, do được mua sắm tập trung theo chương trình của tỉnh, 11 xã thuộc huyện này đã được trang bị đầy đủ máy tính, máy in và máy scan. Giám đốc KBNN Nậm Nhùn Điêu Chính Duy khẳng định, các đơn vị ngân sách cấp xã thuộc địa bàn huyện đều đã sẵn sàng để sử dụng DVCTT của KBNN.

Có thể nói, một trong những tiện ích của DVCTT đó chính là giảm thời gian, công sức đi lại cho cán bộ kế toán của đơn vị sử dụng ngân sách. Với những đơn vị trực thuộc tỉnh, thành phố, tiện ích này tưởng như không đáng kể bởi đặc điểm vị trí địa lý dễ dàng cho việc di chuyển nhưng với những địa bàn xa xôi, nhất là tuyến xã thuộc các huyện miền núi (có những nơi phải mất nửa ngày đường để di chuyển tới trung tâm huyện - nơi đặt trụ sở KBNN), ý nghĩa mà dịch vụ này mang lại rõ ràng hơn bao giờ hết.

“Với DVCTT, tôi tin rằng khi những đơn vị này kết nối thành công thì tiện ích mà dịch vụ này mang lại cho họ sẽ rất nhiều, nhất là tiết kiệm được thời gian và công sức đi lại do quãng đường xa xôi, cách trở. Đó là ý nghĩa lớn nhất là DVCTT KBNN mang lại”, ông Nguyễn Thế Chất khẳng định. (Haiquanonline.com.vn 26/11, Thùy Linh) Về đầu trang

Thuế và Hải quan cải cách mạnh mẽ, doanh nghiệp an tâm

Hôm 26/11, cuộc đối thoại thường niên lần thứ 14 với doanh nghiệp về chính sách và thủ tục hành chính thuế - hải quan do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cùng Bộ Tài chính tổ chức đã ghi nhận không khí hài lòng trước sự cải cách mạnh mẽ của hai ngành này.

Phát biểu mở đầu Hội nghị, ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI đã có lời cảm ơn toàn thể cán bộ nhân viên ngành Thuế và Hải quan đã phối hợp và đồng hành cùng các doanh nghiệp, giúp đỡ doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và hội nhập kinh tế quốc tế.

“Chúng ta vui mừng ghi nhận sự cải cách mạnh mẽ của cả 2 ngành trong thời gian qua từ sự đánh giá tích cực của doanh nghiệp. Hai ngành đã đồng hành, cảm thông và chia sẻ với doanh nghiệp. Nhiều vấn đề doanh nghiệp phản ánh đã được lắng nghe, trao đổi và có hướng xử lý giải quyết mang lại sự an tâm cho cộng đồng doanh nghiệp”, ông Phòng cho biết.

Những nỗ lực cải cách của 2 ngành này đã góp phần quan trọng đưa điểm số của Việt Nam trong Doing Business liên tục tăng trong mấy năm qua và sự hài lòng của doanh nghiệp trong nước cũng ngày một tăng.

Về thể chế chính sách, Bộ Tài chính và 2 Tổng cục Thuế và Hải quan đã có nhiều chương trình và các hoạt động cụ thể nhằm cải cách chính sách, pháp luật và các thủ tục hành chính. Hai ngành này cũng đã tích cực triển khai công nghệ thông tin trong quản lý và thực hiện thông suốt cơ chế một cửa, một cửa liên thông, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, cho người dân.

99,87% doanh nghiệp kê khai thuế điện tử, 99,53% doanh nghiệp nộp thuế điện tử, 93,61% doanh nghiệp hoàn thuế điện tử, có 133/304 dịch vụ công trực uyến cấp độ 3 và 4. Đến cuối năm sẽ có 188 dịch vụ công trực tuyến. 100% các đơn vị hải quan đã triển khai hải quan điện tử.

Bộ Tài chính đã chỉ đạo Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan tiếp tục sắp xếp, tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Đã hợp nhất 401 chi cục thuế thành 190 chi cục thuế khu vực (giảm 211 chi cục thuế), đã giảm từ 174 chi cục hải quan xuống còn 162 chi cục.

Cơ quan thuế, cơ quan hải quan đã tăng cường thanh kiểm tra, giám sát việc thực hiện công vụ; tuyên truyền, hỗ trợ, giải đáp, tháo gỡ kịp thời các khó khăn vướng mắc cho người nộp thuế; phát triển hệ thống đại lý thuế...

Theo VCCI, hơn 80% thắc mắc, câu hỏi, vấn đề liên quan đến vướng mắc, khó khăn cộng đồng doanh nghiệp gặp phải trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh liên quan đến thuế, hải quan chuyển tới Bộ Tài chính đã được tiếp nhận và trả lời, tuy nhiên không phải mọi việc đã được như ý.

Một doanh nghiệp sản xuất dụng cụ y tế cho biết đã hoạt động 24 năm và luôn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước, chưa một lần nợ thuế, chưa có bất cứ sai phạm gì về thuế hay thủ tục hải quan nhưng đang khổ vì vấn đề hoàn thuế vì từ năm 2015 đến nay còn đọng 22 tỷ đồng tiền hoàn thuế VAT mà chưa được hoàn.

“Số tiền này như cục máu đông đọng đó”, đại diện doanh nghiệp phản ánh. “Để hoạt động tiếp chúng tôi phải vay ngân hàng chịu lãi suất. Cứ bỏ tiền đầu tư nhập khẩu máy và thiết bị mới là bị đọng tiền hoàn thuế như thế, nhà đầu tư của chúng tôi không muốn đầu tư nữa”.

Tình trạng tiền hoàn thuế VAT bị đọng đấy chưa được hoàn là tình trạng của nhiều doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cũng mong sớm được giải quyết. Nhưng, câu trả lời từ đại diện Vụ Chính sách Thuế của Tổng cục Thuế lại nối dài thêm sự chờ đợi “chưa biết bao giờ xong”. Bởi, quy định về hoàn thuế VAT được quy định trong Luật, mà để điều chỉnh và sửa Luật thì phải chờ Quốc hội…

Doanh nghiệp cũng phản ánh các vướng mắc khác bắt nguồn từ một số thay đổi trong các văn bản pháp luật. Đơn cử như Thông tư 130/2016 liên quan đến việc bỏ quy định hoàn thuế với số thuế VAT còn được khấu trừ trong tháng… hay vướng mắc liên quan đến Nghị định 119. Bên cạnh đó là các vướng mắc liên quan đến việc xác định tính năng của hàng hóa, mục đích sử dụng của hàng hóa khi nhập khẩu và thực tiễn sử dụng sau này…

Nhân cơ hội đối thoại này, nhiều ý kiến của doanh nghiệp thắc mắc về việc sử dụng hóa đơn điện tử, thời gian áp dụng và cách thức lưu trữ hóa đơn điện tử… được nêu lên và đã được đại diện Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế và Tổng cục Hải quan đã giải đáp cặn kẽ... (Thoibaonganhang.vn 26/11, Tri Nhân) Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Bỏ khái niệm 'người tài' trong Luật Cán bộ, công chức

Quốc hội vừa biểu quyết thông qua Dự thảo Luật sửa đổi bổ sung Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức. Luật vừa được thông qua không đề cập đến định nghĩa về người có tài năng cũng như người có tài năng trong hoạt động công vụ .

Luật có bố cục gồm 3 Điều. Điều 1 quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức; Điều 2 quy định về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Viên chức; Điều 3 quy định về hiệu lực thi hành.

Tại Điều 1, về chính sách đối với người có tài năng trong hoạt động công vụ, Luật quy định Nhà nước có chính sách phát hiện, thu hút, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với người có tài năng; Chính phủ quy định khung chính sách trọng dụng và đãi ngộ đối với người có tài năng trong hoạt động công vụ. Đồng thời, căn cứ vào quy định của Chính phủ, người đứng đầu cơ quan quy định tại các điểm a, b, c và đ khoản 1 Điều 39 của Luật này quyết định chế độ trọng dụng và đãi ngộ đối với người có tài năng trong hoạt động công vụ trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý; Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định chính sách trọng dụng và đãi ngộ đối với người có tài năng trong hoạt động công vụ trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do tỉnh quản lý.

Theo báo cáo giải trình của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, thực tiễn cho thấy khái niệm “người có tài năng” là rất rộng; tương ứng với mỗi ngành, lĩnh vực thì các tiêu chí và yêu cầu đối với người có tài năng là không giống nhau. Từ thực tế đó, việc xây dựng một khái niệm chung về người có tài năng là khó khả thi.

Hơn nữa phạm vi của Luật Cán bộ, công chức chỉ quy định về quản lý, sử dụng, chế độ, chính sách đối với “cán bộ, công chức”, nếu quy định về người có tài năng nói chung là không phù hợp.

Vì những lý do đó, kết hợp với việc tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội không đưa định nghĩa về người có tài năng cũng như người có tài năng trong hoạt động công vụ vào dự thảo Luật.  (Baophapluat.vn 26/11, Nhật Thanh) Về đầu trang 

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Bỏ “viên chức suốt đời”: Cú sốc với công chức cắp ô?

(Người Việt) - Quốc hội vừa thông qua quy định “không giữ hợp đồng “không xác định thời hạn” kể từ 1.7.2020” sẽ là dấu chấm hết cho dạng “công chức cắp ô”.

Mới đây, Quốc hội đã chính thức thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức với 426/454 đại biểu bấm nút tán thành (chiếm 88,20%). Một trong những điểm mới của luật là sẽ không giữ hợp đồng “không xác định thời hạn” kể từ 1/7/2020.

Điều này có nghĩa sau thời điểm 1/7/2020, khi các cơ quan đơn vị ký hợp đồng lao động với người lao động, sẽ không còn kiểu hợp đồng “không xác định thời hạn” nữa. Trước nay, chỉ cần ký được cái hợp đồng Viên chức “không xác định thời hạn” này thì cán bộ viên chức có thể xem như mình sẽ nghiễm nhiên có được cái danh xưng “viên chức suốt đời”, không ai đụng đến nữa dù chất lượng công việc, thái độ làm việc có tệ đến đâu.

Nếu bộ máy công quyền mà có rất nhiều những ông bà “viên chức suốt đời” đó thì cũng đủ hiểu, người dân sẽ phải mệt mỏi thế nào. Bởi hầu như không ai động đến họ, họ giống như một con ốc đã được gắn vào cỗ máy, không thể bị vứt bỏ đi, chỉ bởi cái danh xưng “viên chức suốt đời”. Họ sẽ là những “công chức cắp ô” sáng cắp ô đi tối cắp về, đến quán cà phê trước khi đến cơ quan, thiên hạ vội chứ mình đâu có vội.

Lại nói đến một con số rất đáng lo hiện nay, đó là số lượng người hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách khoảng 11 triệu người, bao gồm cả các đối tượng chính sách. Đó là con số chính thức được cung cấp tại Hội nghị "Chính phủ và Chính quyền địa phương" do Bộ Nội vụ tổ chức ngày 28/8/2018 (cập nhật đến tháng 3/2018).

Trên tổng dân số hơn 90 triệu dân mà có đến 11 triệu người đang hưởng lương từ ngân sách cũng đủ cho thấy một số lượng lớn tiền ngân sách đang được rót vào để nuôi lực lượng này. Trong khi đó, hiệu quả công việc của nhiều bộ phận hành chính nhà nước thì vẫn chưa được cải thiện nhiều, người dân vẫn còn phải kêu ca, phàn nàn khi đến làm việc với các bộ phận hành chính này.

Cá biệt, lại có những ông bà “viên chức suốt đời” còn lên mặt hành dân, nói năng cộc lốc, thô lỗ, đùa cợt, thái độ thiếu nghiêm túc, thiếu thiện chí mà báo chí đã phản ánh nhiều lần. Cũng có thể, họ tưởng rằng hành dân là một “đặc quyền, đặc lợi” của cái danh hiệu “viên chức suốt đời” chăng?

Theo báo cáo của Bộ Nội vụ ngày 24/12/2018 về tình hình thực hiện công tác cải cách hành chính năm 2018 cho thấy: Kết quả tinh giản biên chế, tính từ năm 2015 đến ngày 15/10/2018, tổng số biên chế cả nước đã được tinh giản là 40.500 người. Trong số đó, chiếm phần lớn vẫn là người hưởng chính sách về hưu trước tuổi với 34.948 người (chiếm gần 86,3%). Như vậy là công cuộc tinh giản biên chế, sắp xếp lại bộ máy vẫn còn nhiều gian nan.

Hy vọng từ sau thời điểm 1/7/2020, số lượng các “công chức cắp ô” sẽ giảm đáng kể và tiến đến không còn tồn tại. Một xã hội văn minh không thể chấp nhận những công chức tồn tại vật vờ như người thừa, được các vị “ông, cha” gửi gắm vào bộ máy công quyền để lĩnh lương hàng tháng và nghĩ cách hành dân. (Baodatviet.vn 27/11, Mi An) Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

Cựu quan chức Bộ Nông nghiệp Fiji đối mặt cáo buộc tham nhũng

Ivamere Buituni, cựu trợ lý Bộ Nông nghiệp Fiji (quốc đảo tại châu Đại Dương) đang phải đối mặt với các cáo buộc tham nhũng. Tòa sơ thẩm Nadi là nơi thụ lý, xét xử vụ việc.

Theo Ủy ban Độc lập Chống tham nhũng Fiji (FICAC), Ivamere Buituni bị cáo buộc 2 tội danh về thiếu trung thực để đem lại lợi ích cá nhân.

Theo cáo trạng, năm 2016, Ivamere Buituni được tuyển dụng vào làm việc tại Bộ Nông nghiệp, khu vực Nadi. Buituni đã nhận 1.800USD từ một cá nhân sau khi tuyên bố có thể sắp xếp việc lắp bơm giếng khoan và cung cấp phân bón gia cầm cho trang trại cá nhân.

Luật sư Adrian Sharma (FICAC) đã thông tin cho tòa án rằng, những kết quả điều tra giai đoạn đầu đã được cung cấp và yêu cầu các điều kiện bảo lãnh phải được thực hiện một cách nghiêm ngặt.

Buituni được tại ngoại và phải trình diện Văn phòng FICAC Lautoka vào mỗi tuần cuối cùng của tháng, không được tái phạm và không được thay đổi nơi cư trú.

Một lệnh cấm xuất cảnh cũng được thực hiện. Phiên xét xử được hoãn tới ngày 17/12 tới. (Thanhtra.com.vn 27/11, Ngọc Anh) Về đầu trang./.

 

     Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.033.650 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này