Vật báu bên bờ Biển Đông

Font size : A- A A+
Nguồn: Doanh Nhân Sài Gòn - Cập nhật: Thứ Năm, 19/04/2012 14:21 (GMT+7)
Tác giả: Hàn Thư

Nghĩa Nương là tên cổ của làng Thanh Bình nằm trên doi cát bên bờ Biển Đông (Quảng Xuân, Quảng Trạch). Chiết tự chữ Hán nói tên làng rất có ý nghĩa với người làng, nó được giải nôm là người con gái hiếu nghĩa. Và quả thực người làng hết sức “hiếu đễ” với tự nhiên để rồi mấy trăm năm một lòng bảo vệ vật báu làng là cả trăm héc ta rừng trâm bầu trên rú cát.

Trăm năm một đội tiền nhân

Về làng nghe kể, năm xưa, khi ông tổ Dương Phúc Thái cùng 11 vị khai canh khác chọn mạch địa lý định đất theo hướng Bắc - Nam, lấy mạch nước từ rừng trâm bầu cổ làm nguồn sinh sống, xây dựng các lân nóc (xóm).

Thấy thế đất có rừng trâm bầu, trước mặt làng là cánh đồng thuận trồng lúa nước, hợp trồng ngũ cốc, tiền nhân đã đặt định danh tính, chịu sự quản lý của quan phủ trong vùng, dân làng cùng nhau lao động, khai hoang, mở đất, quần tụ sinh sống, cắt đặt lề lối, giữ gìn gia phong, nếp sống để dựng làng ngày một trù mật.

Biết làng mình không thể vững chải với cát trắng, hàng trăm năm nay, người làng cần mẫn góp lúa nuôi đội giữ rừng trâm bầu. Làng vì thế mà mạnh mẽ bên bờ Biển Đông, cường tráng trước sóng to gió lớn, vững vàng đối đầu với mưa bão liên miên. Đó như một định chế giữ làng được tu dưỡng từ xa xưa.

Trưởng thôn Đậu Thanh Minh nói: “Bốn trăm sáu mươi năm trước đây, những ông tổ khai canh lập làng từ Bắc vào đã thấy rừng trâm bầu sừng sững. Họ chọn thế dựng làng, lưng tựa vào động cát phủ đầy trâm bầu, mặt hướng ra cánh đồng pha cát, thuận lợi cho ruộng làm lúa nước cũng như trồng khoai, cấy ngô”.

Theo trưởng thôn Minh, sở dĩ làng còn rừng trâm bầu bát ngát xanh tươi là do từ ngày khẩn hoang đến giờ, chưa một ngày người làng ngơi công việc bảo vệ. Từ xưa, các bậc cao niên truyền đạt, lý trưởng làng cắt đặt đội cai rừng với mười một người, ai bẻ cành, chặt cây bị phạt vạ giữa đình, bắt trồng cây mới, lao động một vụ mùa rồi nộp thóc để sung vào quỹ coi “thần hộ mệnh” cho dân các họ.

Năm 1959, làng bắt đầu thành lập hợp tác xã, đội giữ rừng từ đó có tên trong sổ sách, đến nay tròn 52 năm. Mười một lực điền khỏe mạnh sung lệnh giữ rừng, có nhiều thế hệ lần lượt vào đội trong mưa bom, bão đạn để vun đắp ngàn vạn cây nhằm tránh cho làng khỏi tai ương bão tố của trời đất, biển cả.

Thời thế có nhiều biến thiên, nhưng số thành viên giữ rừng của làng không đổi, từ xưa đến nay vẫn cử ra mười một trai đinh lực lưỡng.

Giữ rừng dân nuôi

Từ xưa, đội giữ rừng được dân làng trả công bằng lúa thì nay, người làng vẫn giữ lệ góp lúa mỗi vụ. Bởi với họ, rừng trâm bầu còn thì mạch sống của làng còn, rừng trâm bầu mất, đất làng sẽ cằn cỗi, sức làng xiêu tán.

Họ ý thức thế nên đến vụ mùa thu hoạch lúa, người làng chọn ra từng mớ chắc nịch đem nộp cho thôn để nuôi các thành viên giữ rừng của làng.

Ông Phạm Xuân Việt, Bí thư Đảng bộ Bộ phận, nói: “Làng chưa giàu, nhưng mỗi người có trách nhiệm cùng nhau giữ rừng, giữ được rừng là giữ được làng, giữ được làng thì con cháu sum vầy, thế hệ này đến thế hệ khác nương tựa vào đất làng mưu sinh.

Cái ơn của người giữ rừng với làng, của tổ tiên với hậu sinh là thế, không thể phai mờ, cứ nhìn lên rú cát không trắng ngắt là yên tâm đất làng, người làng được bảo bọc, chở che”.

Đi sâu vào làng, nghe kể, từ xưa đã có hội thề giữ rừng trâm bầu. Câu chuyện hội thề ấy hiện không còn văn tự, nhưng được truyền ngôn giữa mạch sống dân cư qua nhiều thế hệ. Hội thề giản đơn, từ lý trưởng đến phú hộ rồi con dân, ai cũng một lời thề giữ rừng như giữ cơi lửa trong nhà.

Mỗi năm họp giữa đình làng, chủ làng nói: “Ta cùng các nóc nhà cùng trên trang cát. Tổ tiên đã chọn thì không bỏ. Phải biết thương yêu nhau mới vượt qua khó khăn vạn đời lập làng. Việc cốt trọng nhất là giữ bằng được rừng cổ. Rừng đó giữ được thì nhà ta giữ được, các lân nóc cũng giữ được thì mồ mả tổ tiên giữ được, mồ mả tổ tiên giữ được thì cội nguồn không phai mà tương lai lại nối đời. Thế mới biết con cháu không trách đời trước, mà ta có nhắm mắt thì cũng yên tâm có người nối giữ mệnh làng”.

Trưởng thôn Minh khẳng định: “Rừng trâm bầu chiếm hơn 100ha, trải dài từ đầu thôn đến cuối làng, lan sang cả thôn Xuân Kiều kế bên nữa”. Chưa ai đoán định rõ rừng trâm bầu ở đây bao nhiêu tuổi, người làng chỉ biết rõ nó nhiều hơn số tuổi của làng lập ra cách đây bốn trăm sáu mươi năm.

Một buổi tuần ca trưa của một số thành viên giữ rừng dân nuôi

Trâm bầu ken dày trên cát. Những gốc cây to khỏe, chắc mập găm sâu xuống cát. Để giữ rừng, lệ làng đặt ra nghiêm khắc, ai bị phát hiện bẻ cành sẽ bị phạt 50.000 đồng, ai chặt cây sẽ bị phạt từ năm trăm đến một triệu đồng. Người làng chỉ được phép quét lá trâm bầu đem về nấu bếp, vào rừng tuyệt đối không mang theo dao, rựa.

Các bậc cao niên của làng nhớ lại, tháng năm kháng Pháp, rừng trâm bầu là nơi ẩn náu của du kích; rồi thời gian chống Mỹ, bao ụ pháo ngụy trang dưới tán trâm bầu, khạc lửa đối đầu với tàu chiến.

Không bỏ nước giếng

Ngày nay, trong khi nhiều mảnh làng phải chuyển qua dùng nước cung cấp từ dự án nước, bởi hầu hết giếng làng bị ô nhiễm thì người làng Thanh Bình lại không bỏ nước giếng. Toàn bộ làng có gần 700 cái giếng trên cát, nước đều sạch, trong và mát lạnh vô cùng.

Mùa Hè, nhiều mảnh làng láng giềng của Thanh Bình nước nôi khô kiệt thì nước ở rừng trâm bầu vẫn chắt lọc vô biên vào từng ngôi nhà nhỏ của cái giếng khơi từ ụ cát, và họ trở thành người hào hiệp tặng nguồn nước mát lành ấy cho bạn bè quanh vùng.

Trò chuyện cùng dân làng, thấy họ có trách nhiệm với rừng từ xưa mới nghĩ, mảnh làng nhỏ đã chuẩn bị tinh thần cho một cuộc đối đầu với biến đổi khí hậu khắc nghiệt của thế kỷ XXI. Từ giữ rừng mà dân làng giữ tốt sự đoàn kết, liên hệ mật thiết với nhau; từ giữ rừng mà họ nuôi con, dạy cháu trân trọng tự nhiên, không sân si tàn sát mầm xanh trên cát

Dân làng từ người lớn đến trẻ nhỏ, vào rừng không chặt phá cây, mà lấy lá về đun bếp

Trong khu rừng trâm bầu, không chỉ cô độc một màu xanh cây lá mà dưới tán của nó có nhiều loài chim như chào mào, vành khuyên, cu gáy..., nhông cát và nhiều loài bò sát, lưỡng cư khác cùng sinh sống. Nói như một nhà sinh học, đó là sự đa dạng sinh thái truyền thống làng hiếm gặp cho đến ngày nay. Cộng sinh với trâm bầu là cây mà ca, lộc vừng, rồi có cả quần thể sâm Mã Lai có tác dụng chữa bệnh rất tốt.

Khi tham vấn về rừng trâm bầu trên cát có thể nói là độc nhất vô nhị này, ông Nguyễn Văn Lương, chuyên gia của Tổ chức Bảo tồn Động vật và Thực vật Quốc tế FFI, nói: “Trâm bầu có hệ thống rễ cực tốt cho lọc nước, loại bỏ các chất độc, lọc mặn, khử phèn, hóa giải độ chua. Nó đưa lại một hệ sinh thái trong khu vực sự ưu việt về mảng xanh và không khí trong lành. Đây là khu rừng hiếm thấy trên cát, cần bảo tồn không chỉ cho một làng, mà nó có tác dụng lớn đối với cả vùng”.

Người làng kể, một dự án đường nối từ quốc lộ 1A chạy thẳng ra bãi biển nhằm tạo đà du lịch được khởi động. Con đường xuyên qua rừng trâm bầu, phải chặt bỏ vài héc ta. Đảng bộ Bộ phận thôn Thanh Bình nhất tề họp lại, kiến nghị không chặt trâm bầu để làm đường. Làng nhất quyết bảo vệ, con đường không được thực hiện và trâm bầu được cứu.

Người làng đã cần mẫn bảo vệ qua bao biến thiên dâu bể, nhưng khu rừng này cần một đảm bảo tốt hơn về mặt chính quyền xã, huyện hoặc tỉnh. Bởi phạm vi ảnh hưởng của nó không chỉ vì lợi ích của làng Thanh Bình, mà nó có ích cho cộng đồng dân cư trong vùng tránh khỏi nạn cát bay, cát nhảy và thoát cảnh thiếu thốn nước về mùa hạn.

Hơn lúc nào hết, trong hoàn cảnh biến đổi khí hậu toàn thế giới, huyện và tỉnh cần rốt ráo đưa ra công cụ bảo vệ hữu hiệu nhất để cùng dân làng giữ gìn và phát triển khu rừng trâm bầu hiếm thấy này. Ở Thanh Bình, nó có tác dụng giữ làng đã gần năm trăm năm bền chặt.

Cần hiểu khu rừng đó như một kiểu rừng phòng hộ trước biển lớn trong hoàn cảnh biến đổi khí hậu thì mới có thể nâng niu bằng những định chế chặt chẽ hơn là sự quyết tâm của dân làng cát.

Chia tay mảnh làng nhỏ bên bờ biển lớn mới thấy làng cường tráng thêm bên chân sóng, chắc chắn, vững vàng hơn nhờ rừng trâm bầu xanh tốt.

Sưu tầm: Thu Hà 

(Ghi chú: Tin bài trên được sưu tầm và đăng tin trên trang web nội bộ VP UBND tỉnh nhằm mục đích phục vụ thông tin nội bộ cơ quan)

More

 

Lượt truy cập: 12.188.855 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này