Quảng Bình : Làng khát giữa bốn bề sông nước

Font size : A- A A+
Tiền phong Online - Thứ Sáu, 19/09/2008, 11:43

Một nửa xã Quảng Minh (Quảng Trạch, Quảng Bình) nằm giữa bốn bề sông nước. Vậy mà họ vẫn khát. Mỗi hộ phải có một lao động chủ lực hàng ngày đi lấy nước cách xa hàng chục kilômét.

Một dự án cấp nước sạch cho người dân, trong đó có đảo thiếu nước ngọt này, nhưng mãi đến năm... 2013 - 2018 mới được thực hiện.

Những chiếc lu to được cấp để hứng nước mưa

“Làng rỗng”

Xã Quảng Minh bị sông Gianh chia cắt thành 2 phần. Một nửa là các cồn nổi như những ốc đảo giữa bốn bề sông nuớc. Nửa còn lại là đất liền. Trung tâm của xã đóng trên nửa còn lại này. Có lẽ vì thế chăng nên sự điều hành của chính quyền xã đối với vùng cồn nổi “cách đò trở giang” vốn đã khó lại càng khó hơn.

Hơn 8.000 dân của xã thì ngụ trên những cồn nổi này đã có đến 4.000. Nếu chỉ có ngồi trên thuyền chầm chậm đi vòng quanh các cồn nổi này thì khó có thể nghĩ rằng những ốc đảo với những tháp nhà thờ vút cao và lô nhô nhà xây, mái ngói kia đang phải đối mặt với những khó khăn chồng chất.

Tiến, cậu thanh niên choai choai lái đò đưa chúng tôi vào làng, tỏ ra am tường vùng đất này, bảo: “Các chú nhìn thì thấy thế thôi, chứ đi vào làng mới thấy làng rỗng.

“Làng rỗng”. Khái niệm này chúng tôi mới được nghe lần đầu. Tiến cười giải thích: “Có gì mà không rỗng. Được bao nhiêu tiền đi khai thác gỗ lậu họ ném vào xây nhà, xây cửa cả. Khi gỗ huê (sưa) đang được giá, có “ nậu” ở đây ôm hàng chục tỷ. Gỗ mất giá, sạt nghiệp, bỏ của chạy trốn nợ.

Tứ tung, tứ tác cả. Nhiều ngôi nhà xây lên xong, không kịp vào nhà mới vội vàng đóng cửa, dạt tứ phương kiếm sống. Giờ trên làng nổi này điểm mặt có còn được mấy thanh niên. Họ vào Nam, lên Tây Nguyên dật dờ làm thuê, làm mướn. “Xác” làng còn đó nhưng “ruột” làng có còn được là bao?”.

Chiếc đò máy giảm ga, ghé vào bến sông ngay dưới chân một nhà thờ quy mô đang xây dựng. Đây là nhà thờ thứ tư của vùng làng nổi gồm 4 thôn này. Cứ men theo con đường bê tông bé tí đầy ổ gà dọc bờ sông chúng tôi tìm đến nhà ông trưởng làng Nguyễn Khắc Tâm.

Ngôi nhà nhỏ ẩn trong um tùm cây xanh. Ông Tâm tuổi ngoài 70, là đảng viên có uy tín nhất vùng công giáo toàn tòng này. Ông kể chuyện làng với nỗi niềm đau đáu và đầy trách nhiệm của mình.

Bốn cồn nổi nối liền nhau giữa sông Gianh này, trước đây người ta gọi nó bằng một tên chung là làng Nội Hà (giữa sông). Làng này có 4 thôn Cồn Nâm, Tân Định, Đông Thành và Minh Hà trên 4 cồn nổi ấy.

Theo sử sách còn lưu lại được cho đến bây giờ, thì lịch sử làng đã 300 năm trước. Ngày đó, những ốc đảo này là những bãi lau sậy ngút ngàn. Khi triều đình chinh phạt xong quân Chiêm Thành, có một vị tướng tên là Nguyễn Phu Quân (quê ở Nam Trực, Nam Định) xin vua vào trấn thủ ở đất Ô Châu (Quảng Bình ngày đó).

Các lãnh đạo thôn bàn chuyện chống khát

Con cháu họ tộc theo ông vào định cư dọc suốt bờ sông Gianh này. Người khai khẩn vùng cồn nổi Nội Hà là ông Nguyễn Hữu Đạt. Ông đã cùng với con cháu trong mấy trăm năm qua kiên cường bám trụ giữa dòng Gianh, bền bỉ chống chọi với thiên tai địch họa để giữ được nếp làng cho đến bây giờ... Ông Tâm cứ thế kể về lịch sử của làng, về những đóng góp của người dân nơi đây với cách mạng.

Về chi bộ đảng đầu tiên được thành lập nơi đây năm 1938... Trở lại với hiện tại, nén tiếng thở dài, ông Tâm bảo: “Mấy năm lại đây đêm nằm cứ nghĩ đến chuyện làng là lo ngay ngáy. Đời sống dân sinh có lên thật nhưng tiềm ẩn quá nhiều nguy cơ. Nó cứ có điều gì đó, không vững bền.

Lớp trẻ nhiều người chạy theo đồng tiền bằng bất cứ giá nào kể cả vi phạm pháp luật. Gỗ lậu cứ tuồn về ùn ùn. Có tiền thì ném vào rượu chè, cờ bạc. Hết tiền thì kéo băng, kéo nhóm đâm chém, sát phạt nhau. Đến khi không trụ nổi trên đất làng vì miếng cơm manh áo nữa là rủ nhau bỏ làng biệt xứ. Làng đang vỡ, không còn là làng nữa rồi...”.

Ông Nguyễn Văn Sơn, trưởng thôn Cồn Nâm cho biết, thôn Cồn Nâm có gần 500 nhân khẩu nhưng diện tích canh tác chỉ được 18 ha. Lúa làm một vụ nhờ trời. Người ta đổ xô vào rừng khai thác gỗ. Gỗ kiệt, hết đường làm ăn đành bỏ đi tha hương cầu thực.

Hơn 50% dân số của cả 4 thôn đã rời làng đi làm thuê. Như nhà ông Nguyễn Hữu Tịnh có 11 người con thì đã có 7 người vào Nam kiếm sống. Nhà ông Trọng, ông Tuệ cũng đã đóng cửa đi miền Nam mấy tháng nay. Làng vắng hẳn. Chỉ người già và trẻ con bám trụ lại làng. Nhiều nhà con cái cứ đến tuổi là theo nhau bỏ học dắt díu đi kiếm ăn cả...

Khát giữa bốn bề nước mặn

Ông Nguyễn Cương Quyết, Bí thư chi bộ thôn Đông Thành và ông Nguyễn Thái Mãn, Trưởng thôn Minh Hà đưa chúng tôi ra vùng đồng trước mặt. Đất bạc xác xơ hoang trắng bãi. Ông Quyết giải thích: “Dân vùng cồn cũng chịu khó làm ăn lắm. Nhưng ngặt nỗi không có nước ngọt thì đành chịu nhìn đất phơi ra đó mà thèm”.

Mỗi năm  người dân nơi đây chỉ canh tác được một vụ nhờ trời. Mưa thuận gió hòa thì đỡ, còn không có làm mà chẳng có ăn. Cứ như thế mãi rồi người dân đâm nản. Người ta táo tác tìm kế sinh nhai mới. Lên rừng, xuống sông kiếm cái ăn đắp đổi qua ngày.

Chỉ tay vào chiếc thuyền nằm ngay mé nước đang vắt chỏng chơ một dụng cụ tận diệt thủy sản bằng xung điện, ông Mãn chua chát: Hàng chục phương tiện như thế này ngày đêm quần thảo quanh làng. Người ta bắt bằng hết các loài thủy sản tồn tại trên sông. Không biết nay mai, quanh làng cồn nổi sẽ còn lại gì”.

Gần 4.000 con người sống trên vùng cồn bãi này nhờ nguồn nước ngọt ít ỏi từ hai con hói cạn giữa làng. Lúc này đây, dù trời vừa mới mưa to cách một vài hôm, nhưng nước trong lòng hói đã cạn trơ đáy. Hai con hói này là nguồn cung cấp nước chủ yếu tưới cho trên 50 ha ruộng và màu của cả vùng cồn nổi.

Giờ trong làng chỉ còn người già và trẻ con, đi lấy nước cũng không đủ sức. Mấy năm nay người ta có dịch vụ bán nước ngọt. Vài ba chiếc thuyền máy trong làng làm dịch vụ này. Cứ một mét khối nước phải mua với giá 50.000 - 60.000 đồng.

Ông Hoàng Công Sự, Tổ trưởng Hội đồng vùng cồn 4 thôn bức xúc về tình trạng nguồn nước ngọt càng ngày càng kiệt, không biết nay mai người dân cồn bãi ở đây sẽ sống như thế nào. Bao đời nay, hộ dân nào cũng cố gắng đào cho mình một giếng khơi. Có nước đấy nhưng dày đặc phèn và chỉ là nước lợ nên không thể dùng để ăn uống được.

Dùng tắm thì tóc cứng như rễ tre. Dùng giặt thì áo quần cứng như vải bạt. Vì thế, cũng bao đời nay rồi, để có nước uống và nấu ăn, cứ một hộ phải mất một lao động chủ lực sáng chèo thuyền ngược dòng hơn 10 km lấy nước ngọt, chở được nước về cũng đã tầm chiều. Hai ba ngày lại làm một chuyến như vậy...

Cách đây mấy năm, thấy dân vùng cồn bãi sống giữa bốn bề sông nước mà vẫn khát nước ngọt nên Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường của tỉnh ưu tiên đầu tư cho mỗi hộ một chiếc lu đựng nước to có sức chứa đến vài khối. Tưởng sẽ có công trình nước ngọt tự chảy vào lu.

Nhưng không phải thế, họ đầu tư lu này để hứng nước mưa. Còn khi trời không mưa đành chịu. Đến các lu nước này trong làng, gõ thử vào thành lu, nghe vọng lại tiếng kêu rỗng không. Duy chỉ có chiếc lu của một ngôi nhà vắng chủ, phải cúi sát vục gàu tận đáy mới chắt được đầy ca nước.

Nghe đâu huyện Quảng Trạch đã tranh thủ được một dự án đầu tư nước sạch sinh hoạt cho 22 xã khó khăn với tổng nguồn vốn lên đến 500 tỷ đồng. Danh sách các xã được hưởng lợi từ dự án này không thấy có Quảng Minh.

4 trưởng thôn vùng cồn bãi này đồng loạt viết tờ trình kiến nghị. Nhưng có một vị chức sắc của huyện trả lời rằng, Quảng Minh đã được bố trí một công trình hồ chứa nước ngọt Hói Đá, đảm bảo cho sản xuất và sinh hoạt rồi nên không bố trí chồng thêm vào dự án này nữa. Mở cuốn công báo của tỉnh in ngày 9/9/2008 thì thấy tỉnh này có kế hoạch bố trí công trình hồ chứa nước Hói Đá thật.

Và vốn cho công trình này lên đến 45 tỷ đồng từ vốn ngân sách. Thật mừng cho cư dân vùng bãi. Nhưng khi xem kỹ lại thì mới thấy, thời gian đầu tư cho công trình này đang dự kiến trong khoảng thời gian từ 2013-2018. Vậy là, 4.000 cư dân vùng cồn bãi Quảng Minh phải chờ 10 năm nữa và cứ tiếp tục chống chọi với những cơn khát.

Tiếp tục thắt lưng buộc bụng, com cóp tiền mua nước sinh hoạt với giá cao ngất ngưởng. Tiếp tục bỏ nhà ra đi tìm kế sinh nhai nơi xứ người, cho dù đồng đất quê hương cứ để hoang bạc chờ mưa xuống.

Minh Toản

More

 

Lượt truy cập: 12.271.221 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này