Bản tin phục vụ lãnh đạo ngày 12/11/2020

Font size : A- A A+

TIN TỨC – SỰ KIỆN

1. Bộ Tài chính, Thừa Thiên Huế dẫn đầu chỉ số mức độ ứng dụng công nghệ thông tin

2. 100% các bộ có nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu cấp bộ

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

3. Chính quyền đô thị tại TP.HCM: Giảm cấp, bậc chính quyền để tinh gọn bộ máy

4. Sơn La đảm bảo an toàn thông tin theo mô hình 4 lớp

5. Bắc Giang: Kiểm tra kỹ năng sử dụng chữ ký số, hệ thống quản lý văn bản và điều hành tác nghiệp

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

6. Cải cách tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

7. Gần 100% hàng kiểm dịch thực vật thực hiện qua một cửa quốc gia

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

8. Nên khoán nhà công vụ như xe công

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

9. Bộ Công an cấp giấy phép lái xe: Có bị “phình” biên chế?

TIN THẾ GIỚI

10. Ấn Độ: Bị kết án tham nhũng, 37 cán bộ vẫn không bị sa thải

         

TIN TỨC – SỰ KIỆN

Bộ Tài chính, Thừa Thiên Huế dẫn đầu chỉ số mức độ ứng dụng công nghệ thông tin

Chiều 11-11, tại Hà Nội, Bộ Thông tin và Truyền thông (TT-TT) và Hội Truyền thông số Việt Nam (VDCA) phối hợp tổ chức Hội thảo công bố kết quả đánh giá mức độ ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) của các bộ, ngành, địa phương năm 2019 và phổ biến Bộ chỉ số chuyển đổi số cấp bộ, cấp tỉnh.

Tại Hội thảo, ông Nguyễn Phú Tiến, Phó Cục trưởng Cục Tin học hóa, Bộ TT-TT cho biết, nhìn chung, chỉ số mức độ ứng dụng CNTT trung bình của khối bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (CQCP), tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong năm 2019 tăng so với năm trước. Trong đó, khối Bộ tăng nhiều nhất. Khối này đã đạt 0,82 điểm trong năm 2019 từ mức 0,69 điểm năm trước, tăng 0,13 điểm.

Khối CQCP và tỉnh, thành phố chỉ tăng lần lượt 0,05 và 0,07 điểm. Báo cáo cho biết, tất cả chỉ số thành phần trung bình của các Bộ, cơ quan ngang Bộ năm 2019 đều tăng so với năm 2018. Xếp hạng top đầu về chỉ số tổng thể mức độ ứng dụng CNTT của Bộ, cơ quan ngang Bộ năm 2019 không thay đổi so với năm ngoái, lần lượt là Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Bộ TT-TT.

Một số đơn vị có thay đổi về vị trí xếp hạng, lý do chính là có sự biến động về mức độ cung cấp dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) mức độ 3, 4, đặc biệt là DVCTT mức độ 4.

Về tổng thể mức độ ứng dụng CNTT của các cơ quan thuộc Chính phủ, Bảo hiểm xã hội Việt Nam tiếp tục giữ vị trí đầu bảng. Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ 2, kế đó là Thông tấn xã Việt Nam. Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ vị trí chót bảng vươn lên vị trí thứ 6.

Về tổng thể mức độ ứng dụng CNTT của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, như các năm trước, Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng tiếp tục “giằng co” vị trí đầu bảng. Hiện Thừa Thiên Huế đã vươn lên dẫn đầu khi xếp thứ nhất. Năm ngoái, vị trí này thuộc về Đà Nẵng.

Một số tỉnh có sự thay đổi tích cực về vị trí xếp hạng như An Giang (xếp thứ 7), Bắc Kạn (thứ 16), Bắc Ninh (thứ 17)... Nguyên nhân là các tỉnh đã triển khai tốt các hạng mục ứng dụng CNTT, đặc biệt là đẩy mạnh triển khai cung cấp DVCTT mức độ 3, 4.

Một số tỉnh có sự thay đổi tích cực về vị trí xếp hạng như An Giang (xếp thứ 7), các hạng mục ứng dụng CNTT, đặc biệt là đẩy mạnh triển khai cung cấp DVCTT.

Ngoài ra, số liệu cho thấy Hạ tầng kỹ thuật CNTT, Ứng dụng CNTT trong các tỉnh, thành phố và trang/cổng TTĐT năm 2019 tăng nhiều nhất. Điều này chứng tỏ rằng năm 2019, các địa phương đã chú trọng hơn trong việc đầu tư hạ tầng kỹ thuật và triển khai nhiều ứng dụng phục vụ phát triển chính phủ điện tử. (Nhandan.com.vn 11/11, Lâm Thảo)Về đầu trang

100% các bộ có nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu cấp bộ

Sự kiện Bộ Nội vụ đưa nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu cấp bộ (LGSP) vào hoạt động ngày 30/10 vừa qua đã đánh dấu một bước tiến đáng ghi nhận khi 100% cơ quan các bộ đã có nền tảng LGSP, sẵn sàng cho việc xây dựng chính phủ điện tử.

Chia sẻ thông tin đến các cơ quan báo chí ngày 11/11, đại diện Cục Tin học hóa (Bộ Thông tin và Truyền thông) cho biết, kinh nghiệm xây dựng chính phủ điện tử của các nước trên thế giới cho thấy vấn đề kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống thông tin là đặc biệt quan trọng.

Việc này giúp các cơ quan Chính phủ trao đổi và sử dụng thông tin một cách đồng bộ, nâng cao chất lượng dịch vụ công cung cấp cho người dân và doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý và điều hành trong nội bộ của Chính phủ, giúp hỗ trợ các quyết định dựa trên việc sử dụng thông tin, dữ liệu đầy đủ và nhất quán.

Theo Nghị quyết số 121/NQ-CP ngày 31/12/2019 của Chính phủ, Quyết định số 153/QĐ-TTg ngày 31/01/2018 của Thủ tướng Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ (Thông báo số 139/TB-VPCP ngày 3/4/2020 của Văn phòng Chính phủ), đến hết năm 2020, 100% các bộ, địa phương phải có nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu cấp bộ/cấp tỉnh (LGSP) và kết nối với nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia để khai thác các cơ sở dữ liệu quốc gia, hệ thống thông tin có quy mô, phạm vi từ trung ương đến địa phương. Đây là một mục tiêu quan trọng nhằm tạo lập nền tảng kết nối, chia sẻ dữ liệu thông suốt từ trung ương đến địa phương giai đoạn tới.

Việc các bộ, địa phương sớm hoàn thành LGSP, kết nối với nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia là rất cấp thiết và không thể trì hoãn thêm nữa, bởi lẽ đây là việc phù hợp với nhu cầu thiết yếu của thực tế, xu hướng phát triển trong và ngoài nước, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, thực tế không phải các bộ, địa phương đều có điều kiện để kịp đầu tư/thuê dịch vụ để đưa nền tảng quan trọng này vào sử dụng trong giai đoạn 2019-2020 (năm 2019 mới chỉ có 21 địa phương, 4 bộ, cơ quan ngang bộ có LGSP, tức đạt 27%). (Congthuong.vn 11/11, Quỳnh Nga)Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Chính quyền đô thị tại TP.HCM: Giảm cấp, bậc chính quyền để tinh gọn bộ máy

TP HCM là một đô thị đặc biệt, đầu tàu về kinh tế, có đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung của cả nước. Để thành phố thực sự phát triển tương xứng với tiềm năng, đề án chính quyền đô thị TPHCM được xây dựng. Trong đó có hai nội dung quan trọng là không tổ chức Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp quận, phường và tổ chức một đô thị trực thuộc TPHCM theo mô hình thành phố thuộc thành phố.

Việc không tổ chức HĐND cấp quận, phường đã được thí điểm tại TPHCM giai đoạn 2009 – 2016. Cụ thể, TPHCM là một trong 10 địa phương thực hiện thí điểm theo Nghị quyết 26 của Quốc hội khoá XII (thông qua vào tháng 11/2008 và có hiệu lực vào tháng 4/2009). Những nhiệm vụ trước đây của HĐND cấp quận, phường được chuyển giao cho HĐND thành phố hoặc UBND cấp thành phố, cấp quận thực hiện. Chức năng giám sát của người dân sau khi không tổ chức HĐND cấp quận, phường sẽ được tăng cường thông qua hoạt động của các cơ quan tổ chức Đảng, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể. Đặc biệt, người dân là đối tượng được hưởng lợi lớn từ việc thí điểm không tổ chức HĐND cấp quận, phường.

Bà Phan Thị Thu Thuỷ, ngụ Quận 10 đánh giá, nếu được triển khai chính thức mô hình tổ chức chính quyền đô thị thì sẽ đem lại thay đổi tích cực, có thể tháo gỡ nhiều điểm nghẽn trong hoạt động của chính quyền. Do đó, việc triển khai chính quyền đô thì không nên chần chừ: “TP HCM phát triển từng ngày, cho nên rất cần phải thực hiện ngay chính quyền đô thị để thành phố có thể chủ động được một số nội dung công việc, từ đó điều chỉnh và quản lý thành phố tốt hơn”

Mới đây, trong buổi làm việc với các bộ, ngành Trung ương góp ý về đề án mô chính quyền đô thị, Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Thành Phong cho biết việc không tổ chức HĐND cấp quận, phường đem lại nhiều lợi ích lớn trong hoạt động của chính quyền TP: “Thực tiễn cho thấy khi thực hiện không tổ chức HĐND cấp quận, phường, việc thực hiện quyền dân chủ của nhân dân vẫn được đảm bảo. Trong đó, điểm nhấn là đã tinh gọn được bộ máy, tiết kiệm được ngân sách, khắc phục sự trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, đảm bảo tính thống nhất, xuyên suốt, nâng cao hiệu lực hiệu quả. Đặc biệt, không ảnh hưởng đến kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng”.

Không chỉ công việc được trôi chảy, giảm thời gian chờ đợi, phiền hà cho người dân, việc không tổ chức HĐND cấp quận, phường còn giúp tiết kiệm được ngân sách khoảng 1.192 tỷ đồng mỗi nhiệm kỳ. Ngoài ra, bộ máy được tinh gọn với việc giảm 665 đại biểu HĐND cấp quận, giảm 6.159 đại biểu HĐND cấp phường. Đến năm 2016 khi hết thời gian thí điểm, TPHCM tổ chức lại HĐND cấp quận, phường thì biên chế lại tăng lên 8.300 người, kinh phí tăng 47 tỷ đồng. (VOV.vn 12/11, Duy Phương)Về đầu trang

Sơn La đảm bảo an toàn thông tin theo mô hình 4 lớp

UBND tỉnh Sơn La vừa ban hành kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước, phát triển Chính quyền số và bảo đảm an toàn thông tin (ATTT) mạng tỉnh Sơn La giai đoạn 2021 – 2025.

Kế hoạch ban hành với mục tiêu phát triển ứng dụng CNTT,  chính quyền số và bảo đảm ATTT mạng tỉnh Sơn La trong giai đoạn 2021 - 2025 để tiến tới chính quyền tương tác, minh bạch, sử dụng dữ liệu số nhằm tối ưu hoá hoạt động, chuyển đổi và cung cấp các dịch vụ số mới dựa trên nhu cầu của người dân, doanh nghiệp, tạo hệ sinh thái chuyển đổi số trong toàn tỉnh và quốc gia.

Theo đó, kế hoạch đặt ra nhiều mục tiêu cụ thể về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước và phục vụ người dân, doanh nghiệp, phát triển Chính quyền số và bảo đảm ATTT mạng của tỉnh giai đoạn 2021 – 2025.

Cụ thể, trong 5 năm tới, Sơn La phấn đấu đạt 100% các văn bản chỉ đạo, thông tin điều hành của cơ quan nhà nước được cập nhật, xử lý qua hệ thống quản lý văn bản và điều hành; 90% hồ sơ công việc tại cấp tỉnh, 80% hồ sơ công việc tại cấp huyện và 60% hồ sơ công việc tại cấp xã được xử lý trên môi trường mạng, trừ văn bản, hồ sơ công việc thuộc phạm vi bí mật nhà nước.

50% hoạt động kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước được thực hiện qua môi trường số và hệ thống thông tin của cơ quan quản lý; trên 70% báo cáo định kỳ, không bao gồm nội dung mật của các cơ quan hành chính nhà nước được gửi, nhận qua Hệ thống thông tin báo cáo của tỉnh; Rút ngắn từ 30% thời gian họp, giảm tối đa việc sử dụng tài liệu giấy thông qua Hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc, văn phòng điện tử; 100% cơ quan nhà nước thực hiện quản lý cán bộ, quản lý tài chính - kế toán qua môi trường số… (Ictnews.vietnamnet.vn 11/11)Về đầu trang

Bắc Giang: Kiểm tra kỹ năng sử dụng chữ ký số, hệ thống quản lý văn bản và điều hành tác nghiệp

Thực hiện chương trình cải cách hành chính năm 2020, ngày 11/11, Tổ kiểm tra số 1 của UBND huyện Việt Yên (tỉnh Bắc Giang) kiểm tra kỹ năng sử dụng chữ ký số, hệ thống quản lý văn bản và điều hành tác nghiệp đối với cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) của xã Nghĩa Trung.

Tại đây, tổ kiểm tra việc thực hành ký số và thao tác trên hệ thống quản lý văn bản và điều hành tác nghiệp đối với 2 lãnh đạo UBND cùng 11 công chức xã. Kết quả cho thấy 100% cán bộ đạt yêu cầu; kỹ năng sử dụng chữ ký số và phần mềm thành thục, thao tác nhanh. 

Ông Trần Đỗ Thảo, Trưởng phòng Nội vụ huyện, Tổ trưởng Tổ kiểm tra cho biết: Đợt này huyện kiểm tra 383 CBCCVC là lãnh đạo, cán bộ của 34 cơ quan, đơn vị thuộc UBND huyện và các xã, thị trấn. Nội dung kiểm tra được phân loại theo hai nhóm đối tượng với thang điểm 10. Cụ thể, trong thời gian quy định (5 phút), lãnh đạo phải thực hiện xong việc ký số văn bản, thuần thục thao tác tìm kiếm và giao văn bản cho CBCCVC trên hệ thống quản lý văn bản và điều hành tác nghiệp; CBCCVC phải tìm kiếm và tạo được 1 hồ sơ công việc trên hệ thống.

Qua đây này nhằm nâng cao trình độ, kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành, giải quyết công việc của CBCCVC các cơ quan, đơn vị, từng bước đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá nền hành chính, nhất là việc chứng thực bản sao điện tử từ bản chính trên Cổng dịch vụ công quốc gia. Kết quả kiểm tra là một trong những cơ sở đánh giá, xếp loại công tác cải cách hành chính cấp huyện năm 2020.

Được biết, huyện Việt Yên là một trong hai địa phương dẫn đầu tỉnh về tỷ lệ ký số. Cụ thể, tỷ lệ ký số của lãnh đạo UBND huyện đạt 98,03%; tỷ lệ ký số của các phòng, đơn vị, Chủ tịch UBND các xã, thị trấn đạt 78,01%. (Baobacgiang.com.vn 11/11, Khôi Nguyên)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Cải cách tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Ngày 11/11, TAND Tối cao tổ chức hội nghị lấy ý kiến đối với Dự thảo các Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Phát biểu khai mạc, Chánh án Nguyễn Hòa Bình nhấn mạnh trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến công cuộc cải cách tư pháp. Năm 2002, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp thời gian tới, trong đó chọn một số nhiệm vụ trọng tâm, bức xúc của công tác tư pháp để chỉ đạo cải cách. Năm 2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó đề ra chiến lược tổng thể về cải cách tư pháp. Trong Chiến lược cải cách tư pháp, Nghị quyết số 49-NQ/TW đã xác định Tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm.

Thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Nhà nước về cải cách tư pháp, hệ thống Tòa án đã chủ động, sáng tạo trong chỉ đạo, điều hành; đề ra nhiều chủ trương với những giải pháp đột phá để nâng cao chất lượng xét xử và hiệu quả cải cách tư pháp.

Theo Chánh án Nguyễn Hòa Bình cải cách tư pháp trên một số lĩnh vực có bước đột phá. Tổ chức bộ máy TAND, Viện KSND, cơ quan điều tra, cơ quan bổ trợ tư pháp tiếp tục được kiện toàn, chất lượng hoạt động có tiến bộ, bảo vệ tốt hơn lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân; tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, cải cách tư pháp chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển đất nước.

Các ý kiến tại hội nghị cho rằng Dự thảo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã được chuẩn bị chu đáo, công phu, khoa học, toàn diện, sâu sắc, có tính kế thừa các mục tiêu cơ bản đối với định hướng xây dựng nền tư pháp trong thời gian tới, đồng thời định hướng cải cách tư pháp theo văn kiện của Đảng cũng được bổ sung, phát triển nhiều mục tiêu cơ bản như: Chuyên nghiệp, công bằng, liêm chính. Đây là bước chuyển mới về chất, thể hiện bản chất của nền tư pháp, qua đó kế thừa truyền thống pháp lý của dân tộc và tiếp cận giá trị tư pháp hiện đại trên thế giới.

Kết luận hội nghị, Chánh án TAND Tối cao Nguyễn Hòa Bình ghi nhận các ý kiến phát biểu tâm huyết, trọng tâm và sâu sắc của các đại biểu đã đóng góp những ý kiến với các Dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII.

Về phương hướng chung, Chánh án Nguyễn Hòa Bình cho biết, cần tôn trọng Dự thảo cả về nội dung căn cốt và dung lượng. Những ý kiến gợi mở của các đại biểu tại hội thảo đều rất tâm huyết sẽ được tổng hợp để  Ban Cán sự Đảng TAND Tối cao cân nhắc, đề xuất góp ý với Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. (Baochinhphu.vn 12/11, BT)Về đầu trang

Gần 100% hàng kiểm dịch thực vật thực hiện qua một cửa quốc gia

Thực hiện chức năng nhiệm vụ Bộ NN-PTNT giao, Cục Bảo vệ Thực vật đang tổ chức triển khai các thủ tục hành chính có khối lượng công việc rất lớn thuộc nhiều lĩnh vực quan trọng liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu.

Cục Bảo vệ Thực vật đang được giao thực hiện kiểm dịch thực vật đối với hàng hóa xuất nhập khẩu có nguồn gốc thực vật, kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm với hàng hóa xuất nhập khẩu có nguồn gốc thực vật, kiểm tra nhà nước thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản nhập khẩu có nguồn gốc thực vật và kiểm tra nhà nước phân bón nhập khẩu.

Trong các nhiệm vụ trên, hoạt động kiểm dịch thực vật hàng hóa nhập khẩu có nguồn gốc thực vật qua Một cửa quốc gia được Cục Bảo vệ Thực vật thực hiện nhuần nhuyễn trong nhiều năm qua. Ông Nguyễn Trung Hà, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng I cho biết, tính từ đầu năm 2020 đến hết tháng 10/2020, đơn vị đã tiến hành cấp giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật nhập khẩu, quá cảnh, vận chuyển nội địa 18.588/9.209 bộ hồ sơ qua Cổng một cửa quốc gia, đạt tỷ lệ hồ sơ điện tử xấp xỉ 97%, trong đó riêng khu vực cảng Hải Phòng là 17.968 bộ hồ sơ điện tử, đạt tỷ lệ trên 99%.

Còn theo số liệu báo cáo tại Trạm Kiểm dịch thực vật Nội Bài, Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng V, tính đến hết tháng 10/2020, tổng số hồ sơ (lô hàng) có nguồn gốc thực vật nhập khẩu đã thực hiện thủ tục điện tử qua Nội Bài là 3.502 bộ, đạt xấp xỉ 100%. Số hồ sơ phải thực hiện bằng giấy chủ yếu sự cố khách quan do mất điện, lỗi hệ thống, tuy nhiên vẫn được cơ quan kiểm dịch nhanh chóng tiến hành xử lý bằng bản giấy để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp thông quan hàng hóa.

Trong hơn 3.500 bộ hồ sơ qua Một cửa quốc gia, ông Nguyễn Hoàng Hải, Trạm trưởng Trạm Kiểm dịch thực vật Nội Bài cho biết, có ba nhóm hàng hóa chính. Trong đó, nhóm 1 là các mặt hàng chỉ phải thực hiện thủ tục KDTV (1.106/3.502 hồ sơ). Nhóm 2, các mặt hàng chỉ phải thực hiện thủ tục kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm (15/3.502 hồ sơ). Nhóm 3, các mặt hàng phải thực hiện cả hai thủ tục là thủ tục KDTV và thủ tục kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm (2.381/3.502 hồ sơ).

Thời điểm trước ngày 17/10/2020, hầu hết lô hàng nhóm số 1 đều được thực hiện trên hệ thống Cổng một cửa quốc gia. Riêng các lô hàng nhóm thứ 2, 3 chưa thực hiện được trên hệ thống điện tử do thủ tục kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm chưa triển khai thực hiện trên Hệ thống.

Từ ngày 17/10/2020, Cục Bảo vệ Thực vật bắt đầu tiến hành nâng cấp phần mềm, tích hợp toàn bộ các thủ tục về kiểm dịch thực vật kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm, chất lượng thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản nhập khẩu có nguồn gốc thực vật triển khai thực hiện trên Hệ thống Một cửa quốc gia. (Nongnghiep.vn 12/11, Nguyên Huân)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Nên khoán nhà công vụ như xe công

Nên chấm dứt duy trì chế độ nhà công vụ, thay vào đó thực hiện cơ chế khoán nhà công vụ như khoán xe công, cán bộ, công chức sẽ tự cân lượng, sắp xếp.

Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương thu hồi 100% nhà công vụ sử dụng không đúng mục đích, giao cho quan chức, cựu quan chức sử dụng không đúng tiêu chuẩn, hoặc hết thời hạn được sử dụng nhà ở công vụ theo quy định. Đây là một trong số những mục tiêu chiến lược nằm trong chương trình chống lãng phí năm 2021 sẽ được ban hành trong thời gian tới của Chính phủ.

Rất hoan nghênh chiến lược, mục tiêu của Chính phủ, các ý kiến đều kỳ vọng nhà công vụ giao sai, sử dụng sai mục đích... sẽ sớm được thu hồi triệt để và xử lý nghiêm những trường hợp cố tình nhây nhưa, kéo dài.

"Ngay trong nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII, tôi đã đặt câu hỏi trước nghị trường là: Tại sao nhà công vụ giao cho cán bộ, công chức đang làm nhiệm vụ nhưng khi nghỉ hưu lại không trả nhà công vụ? Đó có phải một hình thức tham nhũng nhà công vụ không?", Ông Lê Như Tiến - nguyên đại biểu Quốc hội Khóa XIII nhắc lại.

Cùng với việc đặt ra câu hỏi trên, ông Tiến cũng đưa ra các kiến nghị như: phải đưa vào luật hình sự một loại tội danh mới chính là tội danh "tham nhũng nhà công vụ", đồng thời phải xử lý thật nghiêm, thậm chí phải truy tố những người cố tình chiếm dụng, sử dụng sai, không trả lại nhà công vụ.

Ông Tiến nhấn mạnh, cán bộ tham nhũng, nhận hối lộ số tiền lót tay, tiền bôi trơn chỉ với một vài triệu đồng cũng đã bị kỷ luật, thậm chí cách chức, đưa ra khỏi bộ máy công vụ.  Tuy nhiên, cán bộ công chức tham nhũng, chiếm dụng nhà công vụ trong bao nhiêu năm, nếu quy đổi ra tiền thì số tiền chiếm dụng đã lên tới hàng tỷ, hàng nhiều tỷ đồng lại chưa từng thấy ai bị kỷ luật hay xử lý.

Vì điều này, ông Tiến đề nghị Chính phủ cần phải có quyết định rõ ràng, minh bạch. Cụ thể, nhà công vụ là tài sản của nhà nước và chỉ giao cho cán bộ, công chức khi đang làm nhiệm vụ. Hết thời gian công tác phải trả lại nhà nước để bàn giao cho người khác.

"Nhà công vụ cũng giống như xe công vụ vậy, khi còn làm việc thì được cấp xe công, khi hết công tác phải trả lại. Rứt khoát phải như vậy, và phải thực hiện nghiêm túc quy định, không có chuyện nể nang, bao che", ông Tiến nói.

Về lâu dài, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban thanh thiếu niên nhi đồng của Quốc hội cho rằng Chính phủ nên chấm dứt duy trì chế độ nhà công vụ, thay vào đó thực hiện cơ chế khoán nhà công vụ như khoán với xe công, khoán thẳng vào lương, cán bộ, công chức dựa trên phần lương được khoán sẽ tự xử lý, sắp xếp chỗ ở cho phù hợp.

"Khi tôi đến một số nước bắc Âu như Thụy Điển, Đan Mạch, tôi thấy Thủ tướng các quốc gia này đều đi làm bằng xe buýt. Tôi hỏi họ vì sao lại đi làm bằng xe buýt mà không phải là xe công vụ đưa đón, thì cả hai vị Thủ tướng đều trả lời là thực hiện theo quy định của nhà nước, việc đi lại đã được khoán vào lương, vì thế, Thủ tướng cũng có thể đi làm bằng xe máy, xe buýt hoặc xe điện.

Tôi cũng đã gửi lời cảm ơn tới cả hai vị Thủ tướng, vì đi làm bằng phương tiện công cộng sẽ giúp lãnh đạo hiểu rõ hơn với đời sống của người dân, từ đó đưa ra những quyết sách phù hợp, sát với dân, gần dân hơn", ông Tiến kể lại.

Nguyên ĐBQH Khóa XIII nói thêm, nếu thực hiện theo cơ chế khoán sẽ giúp nhà nước tiết kiệm được rất nhiều chi phí, từ việc tiết kiệm được một diện tích đất xây dựng lớn, cho tới chi phí xây dựng, quản lý, vận hành nhà công vụ, và cũng không cần phải mất thời gian, công sức để đi đòi nhà.

Do đó, ông Tiến đề xuất, chỉ xây dựng nhà công vụ cho những đối tượng đặc biệt như lực lượng vũ trang phải công tác tại những nơi xa xôi, hẻo lánh, vùng biển, đảo và những người làm giáo viên, bác sĩ công tác tại các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa. Chỉ những đối tượng thật sự cần nhà công vụ để phục vụ cho mục đích, lợi ích chung, vì mục tiêu bảo vệ tổ quốc, phục vụ sự nghiệp giáo dục, y tế thì phải tạo điều kiện thuận lợi cho những đối tượng này ổn định chỗ ở, tiếp tục làm việc.

"Tôi không đồng tình với việc xây dựng nhà công vụ tràn lan, rồi phân phối tràn lan cho cán bộ, công chức nhà nước như hiện nay, vì cán bộ, công chức nhà nước đều được hưởng lương như nhau, nếu tiếp tục duy trì chế độ nhà công vụ như hiện nay là thiếu công bằng giữa công chức trung ương với công chức địa phương, bất công bằng giữa công chức các ngành, giữa công chức và các quan chức. Điều nguy hại hơn, nó sẽ tạo những kẽ hở, làm nảy sinh lòng tham, phát sinh những tiêu cực, tham nhũng từ chính cơ chế nhà công vụ. Chính phủ cần phải có cơ chế, chế độ đồng bộ, căn cơ, bài bản hơn", ông Tiến nhấn mạnh. (Baodatviet.vn 12/11, Lam Nguyễn)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Bộ Công an cấp giấy phép lái xe: Có bị “phình” biên chế?

Mới đây, Đại tướng Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công an thay mặt Chính phủ có báo cáo Quốc hội về việc tiếp thu, giải trình một số nội dung lớn, nội dung còn nhiều ý kiến tham gia của dự án Luật Bảo đảm trật tự an toàn giao thông (TTATGT).

Một trong những nội dung đáng chú ý là việc đề nghị bổ sung đánh giá tác động của việc chuyển nhiệm vụ quản lý đào tạo, sát hạch, cấp giấp phép lái xe (GPLX) từ Bộ GTVT sang Bộ Công an.

Theo Bộ Công an, Bộ GTVT hiện có tổng số 64 đơn vị trực tiếp làm quản lý đào tạo, sát hạch, cấp GPLX gồm Tổng cục Đường bộ Việt Nam và 63 Sở GTVT các tỉnh/TP.

Bộ GTVT đã cấp 1.655 thẻ sát hạch viên, chủ yếu là cán bộ kiêm nhiệm, trong đó có 589 là giáo viên dạy lái xe tại các cơ sở đào tạo được cấp thẻ sát hạch viên phục vụ sát hạch kỹ năng lái xe trên đường giao thông công cộng (không hưởng lương, không trong biên chế nhà nước).

Hiện tại, Bộ GTVT biên chế 650 cán bộ, công chức chuyên trách làm công tác quản lý đào tạo, tổ chức sát hạch, cấp, quản lý GPLX. “Do đó, khi chuyển giao, ngành GTVT chỉ phải bố trí sắp xếp lại 650 biên chế” – Bộ Công an khẳng định.

Về phía mình, Bộ Công an cho hay đã bố trí lực lượng ở bốn cấp (bộ, tỉnh, huyện, xã), trong đó bố trí cán bộ làm công tác đăng ký và quản lý phương tiện theo ba cấp (bộ, tỉnh, huyện) gồm 769 đầu mối. Đồng nghĩa, khi chuyển giao nhiệm vụ cấp GPLX, ngành công an chỉ thêm nhiệm vụ, không tăng biên chế.

“Sau khi Luật được thông qua, Chính phủ sẽ xem xét, quyết định về thời điểm, tiến độ chuyển giao; về cách thức, lộ trình, các bước chuyển giao… để bảo đảm mục tiêu, tính liên tục, thông suốt của quản lý, cũng như bảo đảm chế độ, chính sách phù hợp đối với cán bộ, công chức, viên chức và các vấn đề khác có liên quan” – Bộ Công an cho hay.

Cũng theo Bộ Công an, hiện nay tổng số cơ sở đào tạo lái xe trên toàn quốc là 340, trung tâm sát hạch lái xe cơ giới đường bộ là 137. Các cơ sở này cơ bản được xây dựng theo hình thức xã hội hóa, là một loại hình kinh doanh dịch vụ có điều kiện, cơ sở vật chất được đầu tư từ nguồn vốn của tổ chức, cá nhân, được tự chủ thu chi, nguồn nhân lực.

Do vậy, việc thay đổi cơ quan quản lý không ảnh hưởng đến các cơ sở đào tạo và trung tâm sát hạch lái xe đã được đầu tư xây dựng. Đội ngũ giáo viên dạy lái xe đã được cấp giấy chứng nhận sẽ tiếp tục được tham gia công tác đào tạo lái xe nếu đáp ứng đủ tiêu chuẩn, điều kiện. Cơ sở vật chất kỹ thuật, phương tiện thuộc các cơ sở đào tạo, trung tâm sát hạch sẽ tiếp tục được sử dụng.

Ngoài ra, cơ quan này triển khai và lắp đặt hệ thống hơn 700 điểm đăng ký quản lý phương tiện tại 63 địa phương, xây dựng phần mềm quản lý giấy phép lái xe và phần mềm in giấy phép lái xe trên chất liệu nhựa tại 63 Công an tỉnh/TP để cấp và quản lý giấy GPLX trong CAND.

Theo định hướng, công tác quản lý GPLX sẽ được phân cấp đến công an cấp huyện, việc tiếp nhận hồ sơ đổi, cấp lại của người dân sẽ được thực hiện từ cấp xã. Đồng thời, việc ứng dụng công nghệ triển khai cấp, đổi GPLX trên cổng dịch vụ công sẽ được đẩy mạnh, kết hợp tiếp nhận hồ sơ theo phương pháp thủ công.

Bộ Công an khẳng định việc chuyển giao cơ quan quản lý được xây dựng theo định hướng tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân. Người lái xe tiếp tục sử dụng GPLX đã cấp cho đến khi hết thời hạn hoặc khi có nhu cầu đổi, cấp lại.

Cùng với đó, người dân được lựa chọn hình thức học, lựa chọn cơ sở đào tạo, giáo viên dạy lái, trung tâm sát hạch lái xe có chất lượng tốt, phù hợp với nhu cầu, điều kiện của cá nhân… (Plo.vn 11/11)Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

Ấn Độ: Bị kết án tham nhũng, 37 cán bộ vẫn không bị sa thải

Theo quy định, bất kỳ cán bộ Chính phủ nào bị kết án trong mọi trường hợp đều phải bị sa thải khỏi công việc. Tuy nhiên, Cục Chống tham nhũng Ấn Độ (ACB) chỉ ra, một số cán bộ Chính phủ dù bị kết án vẫn không bị sa thải.

37 cán bộ Chính phủ từ các cơ quan khác nhau đã bị kết án về tội tham nhũng nhưng vẫn chưa bị sa thải. Trong đó, 1 người là cán bộ cấp I, 5 người là cán bộ cấp II, 28 người thuộc cấp III, 2 người cấp IV và 1 người là Đại biểu nhân dân.

Theo thống kê của ACB, có những trường hợp vẫn chưa bị cách chức sau 5 năm bị kết án bởi các tòa án đặc biệt của ACB, bao gồm 2 vụ án xảy ra tại thành phố Beed và Aurangabad (bang Maharashtra) được kết án vào năm 2012 và 2015 và 3 cá nhân thuộc bộ phận phát triển nông thôn của thành phố Nanded (bang Maharashtra) bị kết án từ năm 2012 - 2013.

Một kỹ sư làm việc tại thành phố Yavatmal (bị kết án từ 2013), một thanh tra cảnh sát vùng Gangapur, thành phố Aurangabad (bị kết án năm 2015) và một kỹ sư sở thủy lợi đóng tại thành phố Latur (bị kết án năm 2005, giữ nguyên bản án tại Tòa án Cấp cao năm 2016) đang công tác bình thường... (Thanhtra.com.vn 12/11, Đức Anh)Về đầu trang./.

 

Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.093.645 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này