Ðổi thay ở Eo Bù Chút Mút

Font size : A- A A+
Nhân dân - Cập nhật 11:50 ngày 16-05-2009

Eo Bù Chút Mút nằm cách Ðồn Biên phòng 601 (Quảng Bình) gần 20 km đường rừng, đây là bản có đường biên giới dài nhất của huyện Lệ Thủy (chiếm 25/27km). Con đường mòn vào bản xuyên từ cánh rừng này sang cánh rừng khác, vượt hết con dốc này đến con dốc khác và đi đến đâu cũng chỉ thấy mầu xanh thăm thẳm của rừng già. Ngồi sau xe máy, lau lách và cây cối hai bên đường quất vào mặt bỏng rát, vậy mà thật lạ lùng, tôi lại không có cảm giác về "rừng thiêng nước độc", vì không biết từ bao giờ, trong tâm trí tôi, Trường Sơn luôn luôn thân thương và gần gũi...

Tên bản nhỏ của người Vân Kiều nghe hơi là lạ: Eo Bù Chút Mút. Theo giải thích của già bản Hồ Thầm, vì bản nằm ở đoạn thắt của một quả núi có hình giống quả bầu, tiếng địa phương gọi bầu là bù, nên gọi là Eo Bù; còn Chút Mút có nghĩa gần như là "xa ngái". Giải thích ngắn gọn, thì Eo Bù Chút Mút tức là một bản làng giữa lưng chừng trời, cách biệt với cộng đồng. Cả bản hiện có 36 hộ gia đình, sống rải rác dọc hai bên bờ suối. Ðiều đặc biệt là bản có hai già làng, già Hồ Tơ sống bên này suối, già Hồ Thầm sống bên kia suối. Dòng Rào Reng khi dữ dội, khi dịu êm, quanh năm chảy vắt qua bản như chiếc khăn lụa lớn ôm trọn cuộc sống cả bản. 14 hộ sống bên kia suối với già Hồ Thầm, cứ vào mùa lũ là bị cắt đứt liên lạc với bên ngoài. Mùa mưa, vào hôm nước lớn, đã có vài người vào bản không quen đường, bị lũ cuốn đi. Còn hơn chục đứa trẻ cứ mùa mưa là phải nghỉ học...

Mặt trời mới nhô lên khỏi rặng núi trước bản, già Hồ Thầm đã quần ống thấp ống cao thập thõm vác cuốc từ rẫy về. Ông bảo: "Nghe lũ trẻ đi học về bảo chuột phá lúa mà đêm qua không ngủ được. Sáng nay bố phải ra xem thế nào".

- Vụ này dân bản được mùa không bố? Tôi hỏi.

Già làng vừa thủng thẳng rót nước mời tôi vừa trả lời: "Cũng tạm tạm, nhưng nếu ruộng đủ nước thì còn được nhiều hơn". Gia đình già làng là gia đình đầu tiên trong bản có ngôi nhà gỗ trị giá gần bốn mươi triệu đồng. Ngôi nhà sàn được cất lên là kết quả của mấy chục năm trời gom góp. Ông tự hào khoe: "Bố dựng nhà mới được hơn hai năm. Nhà nước hỗ trợ tám triệu đồng, còn lại là vay của con rể, nợ công của anh em quanh đây. Ðến giờ bố đã trả hết nợ". Khi biết trước đây ông làm Chủ tịch Hội Nông dân xã trong thời gian dài, tôi chợt nghĩ việc làm ra kết quả tốt để bà con làm theo vẫn như là một tố chất của người cán bộ vùng cao. Như chuyện nuôi bò, già làng Hồ Thầm là một trong những người đầu tiên nuôi bò, rồi có bò bán ra ngoài bản. Ðàn bò của gia đình hiện có bảy con, các lứa trước chính là nguồn thu để già làng trả hết nợ làm nhà. Hiện giờ, cùng với trồng rừng, nuôi bò đang là một cách thức làm ăn đưa lại nguồn thu lớn cho bà con dân bản.

Bản Eo Bù Chút Mút.



Người già trong bản kể, ngày xưa học theo bình dân học vụ để xóa mù chữ, vở là ruột cây nứa, bút là than bếp. Vậy mà dân bản vẫn nhắc nhở, dìu dắt nhau học cho bằng được cái chữ của Bác Hồ. Bây giờ, bản đã có điểm trường, có thầy cô về tận nơi để dạy con em trong bản, so với ngày xưa thuận lợi hơn nhiều lắm, chẳng có cớ gì để con em thất học. So với lớp học ở vùng đồng bằng thì lớp học ở bản vùng cao này còn quá nhiều thiệt thòi, thiếu thốn, nhưng dù thế thì ở đây các em cũng đều có cặp, có sách vở như các bạn miền xuôi. Trước cửa lớp, các em được thầy cô dạy để dép ở ngoài để bảo đảm vệ sinh, có thùng nước sạch để uống, có khăn để lau tay, có những hàng cốc uống nước treo trên giá ngay ngắn. Các thầy giáo, cô giáo đã dày công rèn giũa, đưa các em vào nền nếp ngay từ lúc đầu tiên bước chân vào lớp. Ðiểm trường Eo Bù Chút Mút có ba thầy giáo, cô giáo người Kinh bám trụ nhiều năm nay: Cô giáo Hòa dạy lớp mầm non, thầy Thiệu và thầy Hoa dạy cấp một. Ngày trước, khi chưa có trường, lớp, cán bộ và chiến sĩ của Ðồn Biên phòng 601 kiêm luôn nhiệm vụ của người thầy. Hiện nay, ngành giáo dục - đào tạo đã vào cuộc, nhưng Trung tá Lê Văn Chánh ở Ðồn 601 bảo rằng: "Chúng tôi vẫn thường xuyên quan tâm sự học của con em các bản, càng xa xôi cách trở chúng tôi càng quan tâm. Khi bà con hiểu rõ về đường lối, chính sách của Ðảng và Nhà nước thì việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh biên giới của chúng tôi cũng thuận lợi hơn rất nhiều". Năm học này, Ðồn Biên phòng phối hợp với Trường tiểu học và trung học cơ sở ở Lâm Thủy tổ chức các hoạt động ngoại khóa nói chuyện về truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, về con đường Hồ Chí Minh, về những năm tháng chiến đấu hào hùng ở chính nơi các em sinh sống và học tập, qua đó cũng giáo dục các em về ý thức giữ đất, giữ rừng.

Thượng úy Hồ Văn Thảo là người Vân Kiều, sau khi được đi học nhiều năm, anh trở về "cắm chốt" cùng Tổ công tác. Anh kể với tôi: "Ðời sống của dân bản đã khá hơn trước rất nhiều, đặc biệt từ ngày thông đường Hồ Chí Minh. Năm 2004, Ðồn Biên phòng 601 và Tổ công tác đã có nhiều đợt ra quân giúp dân bản ngăn đập, san lấp được 3,6 ha ruộng, giúp bà con trồng lúa nước". Từ đó đến nay, dân bản đã có ruộng lúa nước, mỗi năm hai vụ, dè sẻn thì không còn cảnh đứt bữa như trước. Rồi theo tư vấn của Bộ đội Biên phòng, chính quyền đã đưa giống lúa nước TR.23 vào trồng mấy vụ, cho năng suất cao gấp rưỡi so với trước đây. Dân bản phấn chấn lắm. Hôm tôi đến, đang vào vụ thu hoạch, lúa no nước, bông nào bông nấy nặng trĩu. Hiện mới có 3,4 ha ruộng đã được vỡ nhưng chưa đưa vào sử dụng được vì thiếu hệ thống thủy lợi. Ðiều này khiến cho các anh bộ đội biên phòng trăn trở, chưa yên...

Bản ở quá xa, đến nay vẫn chưa có điện, đời sống tinh thần của bà con trong bản còn nghèo nàn, đơn điệu. Anh Hồ Văn Thảo kể, cứ tối đến, già trẻ trai gái lại rủ nhau đến xem ti-vi của Trạm biên phòng, vì ở đó có máy phát. Chưa có điện nên tối đến là bà con vẫn phải thắp đèn dầu. Ðến nhà chị Hồ Thị Viên, nhìn vào gia cảnh thì xem ra vẫn chưa thoát khỏi cảnh nghèo, nhưng lại dễ dàng nhìn thấy những dấu hiệu của sự cố gắng vượt lên. Với hai sào ruộng nước, đất đai thì khai hoang thoải mái nhưng chị vẫn băn khoăn: "Bây giờ không bị cái đói làm khổ nữa nhưng còn lo nước tưới không đủ. Ruộng không đủ nước nên năng suất thấp". Ðể đẩy mạnh công cuộc xóa đói, giảm nghèo, Nhà nước đã hỗ trợ, giúp đỡ bà con rất nhiều, trong đó việc bảo đảm muối ăn, dầu thắp được quan tâm nhất. Mỗi năm hai lần, bà con được lĩnh muối và dầu thắp dùng cho cả năm. Lại nhớ chuyện năm 1962, sau khi đường mòn Hồ Chí Minh hình thành và bắt đầu hoạt động, do thành tích ngày đêm gùi hàng giúp chi viện cho chiến trường, bà con Vân Kiều được Bác Hồ quyết định tặng thưởng 30 tấn muối. Bà con vui mừng gọi đó là "muối Bác Hồ". Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, cuộc sống bà con đã có nhiều đổi thay, nhưng những hạt muối nặng nghĩa tình vẫn được đưa tới tận nơi, và ngày đói muối xưa kia chỉ còn đọng lại trong ký ức của những người già.

Những thiếu nữ đi làm nương rẫy trở về bản.



Ở Eo Bù Chút Mút giờ đã có người dưới xuôi tới đây định cư, như vợ chồng chị Mùi đã làm ăn sinh sống được hơn hai mươi năm. Anh chị đều quê ở xã Hoa Thủy, lúc mới lập gia đình, hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn, anh chị cùng nhau lên đây. Ba đứa con lần lượt ra đời, anh chị gửi các cháu cho ông bà hai bên nội ngoại rồi ở đây buôn bán tạp hóa. Ngần ấy năm trời, giờ thì các con đứa đi làm, đứa đi học, anh chị vẫn bám trụ. Mỗi năm xuất chuồng hai lứa lợn giống cho bà con trong bản, quán tạp hóa tuy nhỏ nhưng cũng đủ thứ hàng hóa. Tích tiểu thành đại, anh chị gom đủ tiền nuôi con ăn học. Là người đồng bằng, anh chị vẫn giữ nếp sống như dưới xuôi, duy có ngôi nhà sàn khang trang là nguyên xi như của người Vân Kiều. Tôi hỏi tại sao anh chị không làm nhà đất, chị nói thật lòng: "Miết rồi quen, em ơi. Ở nhà sàn thoáng đãng, sạch sẽ mà kín đáo. Thỉnh thoảng về nhà có việc, ngồi trong nhà mình mà cứ thấy khác khác...". Mấy chục năm vun vén làm ăn, họ đã xây được nhà cao tầng ở quê nhưng vẫn để đấy, dành cho thằng con trai sau này lấy vợ. Nhìn ngôi nhà sàn sạch sẽ, gọn gàng, đàn lợn con ủn ỉn béo núc trong chuồng, thấy ngay chủ nhân là người tần tảo, biết thu vén lo toan. Quanh nhà, giàn mướp, giàn bầu đơm hoa khoe sắc với nắng, những trái non to nhỏ lúc lỉu đem tới cho tôi cảm giác về một cuộc sống êm ả, hạnh phúc. Chỉ thế thôi cũng đủ hiểu lý do tại sao vợ chồng họ tự nguyện coi đây là quê hương thứ hai. Gần đó là nhà vợ chồng anh Võ Quang Tình, cũng từ xuôi lên được hơn hai mươi năm. Anh là người đầu tiên đưa máy phát điện về bản, từ đó nhà anh chị Tình trở thành một điểm tụ họp của dân bản vào mỗi buổi tối. Cũng sống bằng buôn bán tạp hóa kết hợp nuôi trồng tăng gia, đời sống của anh chị chưa thể gọi là sung túc nhưng đầm ấm và an lành...

Nói gì thì nói, Eo Bù Chút Mút có được như hôm nay, phần lớn là công sức của nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ ở Ðồn Biên phòng 601. Các anh coi cuộc sống của bà con như cuộc sống của chính bản thân mình. Trung tá Trần Văn Từ là cán bộ vận động quần chúng, được tăng cường cho xã Lâm Thủy đã hơn ba năm. Anh trực tiếp sống và làm việc với bà con ở Eo Bù Chút Mút. Ði quanh bản, đến đâu người dân cũng gần gũi, quý mến coi anh như người nhà. Anh cho biết:

- Hằng năm, Bộ đội Biên phòng Ðồn 601 vẫn tham mưu cho xã cung cấp loại giống gì cho bà con trồng. Mùa nào giống ấy, đủ loại như lạc, ngô, lúa, đỗ. Vừa qua, chúng tôi còn đưa thêm một số hạt giống rau lên đây để bà con gieo trồng. Phân phối hạt giống là một việc, việc quan trọng hơn là những người lính biên phòng còn phải hướng dẫn bà con kỹ thuật trồng, chăm bón. Làm công tác dân vận phải hiểu và thông cảm với bà con. Mình phải thật sự coi dân như người nhà, giúp dân bằng tấm lòng chân thật, dân mới nghe. Ðến nhà bà con, thấy điểm gì chưa tốt, chúng tôi không được chê ngay, mà góp ý phải có phương pháp. Chẳng hạn đến nhà bà Hồ Viên, nhà đông con nhiều cháu nên mọi thứ bừa bãi bẩn thỉu, nhưng chúng tôi không góp ý ngay. Bà mời nước, chúng tôi vẫn uống, nói chuyện bình thường, lúc về mới nói nhẹ như vô tình: "Lần sau bà chú ý rửa cốc chén sạch sẽ tí nghe, để thế này khách lạ đến nhà chơi người ta cười cho"...

Cảm nhận được tấm lòng của các anh Bộ đội Biên phòng, bà con tin tưởng, nghe theo, làm theo các anh. "Chúng tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ một phần là nhờ có sự hỗ trợ của nhân dân. Trên địa bàn có bất cứ động tĩnh gì là bà con báo ngay cho Bộ đội Biên phòng" - Trung tá Trần Văn Từ bảo vậy, và tôi tin điều anh nói. Vì chẳng cần tìm hiểu nhiều, cứ nhìn cảnh tay bắt mặt mừng, chào hỏi nhau thân thiết, rồi nhìn các anh phăm phăm lội ruộng, vào tận từng chuồng trại góp ý với bà con... là hiểu tình quân dân gắn bó đến thế nào. Và khi rời Eo Bù Chút Mút, lội qua con suối giữa bản, rồi đi theo con đường mòn quanh co, khấp khểnh để ra đường Hồ Chí Minh, tôi thêm hiểu về vai trò các Chương trình 134, 135, 136, về công sức của Bộ đội Biên phòng, về nỗ lực vươn lên của những bản làng Vân Kiều, Pa Cô, Cơ Tu... "chút mút" ở phía Tây Trường Sơn. Không có điều gì khác, sự cộng hưởng của các yếu tố này chắc chắn sẽ làm nên chiếc "chìa khóa vàng" mở cánh cửa đi vào cuộc sống phồn vinh ở một miền đất giàu tiềm năng.

Bài và ảnh: QUÁCH THU HIỀN

More

 

Lượt truy cập: 12.266.547 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này