Trên những nẻo đường đưa "Lửa ấm về các miền quê”: Rưng rưng những nẻo đường “lửa ấm”

Font size : A- A A+
Hànộimới - 04/04/2008 07:45

“Lửa ấm về các miền quê” rồi sẽ cháy suốt theo năm tháng để làm ấm lại những mảnh đời không may gặp khốn khó. “Lửa ấm về các miền quê” rồi sẽ còn cháy sáng hơn để hơi ấm của nó, ánh sáng của nó sẽ cùng mặt trời sưởi ấm cả những trái tim giá lạnh.

Gấp ghểnh cung đường xóa đói nghèo

27-3. Đây là ngày thứ 16 trong đợt công tác dài ngày nhất của chúng tôi trong hành trình mang “Lửa ấm về các miền quê”. Chặng đường phía trước là huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình. Chỉ có dãy cột cây số là lùi lại phía sau vệt bánh xe lăn; còn những Thường Hóa - Thanh Hóa, Quỳ Châu - Nghệ An, Hương Khê - Hà Tĩnh, cùng cái nồng nàn đến bốc lửa của người Nghệ Tĩnh khiến tôi biết mình sẽ còn mang theo những điều ấy đến hết đời.

Những con đường xóa đói giảm nghèo ở mảnh đất miền Trung này cũng gấp ghểnh không khác gì những con đường ở miền núi phía Bắc, nơi chúng tôi vừa qua. Gấp ghểnh những mặt đường đã bao năm  nằm trong các dự án “nâng cấp cải tạo” mãi vẫn chưa hoàn thành. Giao thông, cái huyết mạch lưu thông hàng hóa đã thế, nên cái sâu xa hơn, gấp ghểnh hơn trong câu hỏi “bao giờ thoát nghèo” của “tốp” 60 huyện nghèo nhất cả nước, xem ra từ Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Bắc Cạn, Hà Giang cũng chưa mấy nơi tìm được câu trả lời thỏa đáng. Bao giờ các sản vật của bà con các dân tộc miền núi mới trở thành hàng hóa? Bao giờ các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới thay thế hoàn toàn cách thức canh tác, chăn thả tự nhiên. Rồi, còn y tế, giáo dục, văn hóa… bao nhiêu câu hỏi cũng chỉ xoay quanh cái đói - nghèo đeo bám triền miên.

 

Những con đường tôi đã đi qua không phải chỉ là xóc đến nảy người, mà thực sự là xóc lộn hết gan mật. Ngày về Châu Hạnh, Quỳ Châu - Nghệ An, quãng đường gần 100 km  đang “nâng cấp cải tạo” này không chỉ khiến Thu Hương - phóng viên ban Công tác xã hội của báo say đến đứ đử, mà đến cô phóng viên khá xinh: Châu Lan - báo Nghệ An, người cũng đã quen với những chuyến đi kiểu này, rồi cũng không chịu nổi, cho ra đến cả mật xanh mật vàng. Người còn nẫu ra như thế, rau củ nào, cây trái nào mà chịu nổi.

 

Những con đường tôi đã đi qua chông chênh, đầy bất trắc. Hôm mùng 9 tháng 3, từ Sơn La lên Điện Biên theo quốc lộ 279, cứ tưởng mình sẽ được đi trên con đường vừa hoàn thành vào dịp cuối năm 2007 như ngày khởi công dự án đã thông báo. Ai ngờ… lên đỉnh đèo Pha Đin, chiếc Mazda của chúng tôi đúng là lướt trên bùn. Nhưng kinh khủng nhất là đoạn ngay dưới chân dốc lên đỉnh đèo Tằng Quái. Xe ủi, máy xúc bạt núi cho đường lên đèo thấp hơn. Đất lầy lụa, bết bát. Dưới chân dốc bùn và đất đổ dồn xuống tạo thành một vũng lầy. Chiếc Mazda gầm thấp nên hai bánh rơi vào đúng vết rãnh của đội quân xe tải mở đường. Bánh xe không còn chỗ mà bám. Bụng xe nằm giữa vết lằn của hai bánh. Xe mất lái, nó tự xoay như nằm trên chiếc đĩa quay. Tôi đã thấy đầu xe chạm đến bờ đất nhỏ sát mép vực. Tiến Chiến, tay lái tôi hay đùa là gần như “lái tàu vũ trụ”, đánh tay lái hết về bên phải. Đầu xe văng vào phía trong, thì đuôi xe lại quay ra mép vực. Chiến rú ga, may mà xe vọt lên, lao bật đến sát mép ta-luy. Hú vía.

 

Rồi lại chuyện của những cung đường từ Lào Cai về Yên Bái. Con đường thì nhỏ lại nát bét bởi những ổ trâu, ổ ngựa  nên mới chỉ dính chút mù đã nhớp nhúa bùn đất. Quốc lộ chính còn thế, nói chi những con đường về với các huyện miền núi xa xôi. Biết đến bao giờ những con đường giúp bà con các dân tộc miền núi xóa đi đói nghèo, thôi không gấp ghểnh?

 

Nao nao bản Ón

 

27-3. Mãi tới gần 12 giờ trưa, chúng tôi mới tới được thị trấn Quy Đạt, huyện Minh Hóa, Quảng Bình. Quốc lộ 12A cũng đang trong giai đoạn nâng cấp, cải tạo như nhiều con đường về với các vùng cao khác, nên chuyện khó đi là việc bình thường. Chờ chúng tôi suốt từ sáng, khi vừa gặp đoàn công tác, anh Trần Văn Tuân - Phó Giám đốc Sở Lao động - Thương binh & Xã hội tỉnh Quảng Bình cứ áy náy suốt, sao đoàn không tìm đường khác mà về Minh Hóa cho đỡ vất vả hơn. Muộn quá rồi, cả đoàn kéo vào quán cơm nhỏ, hình như là duy nhất của thị trấn miền núi này. Bữa cơm thật đạm bạc mà tôi thấy ngon miệng lạ thường: Canh rau búng (một loại rau rừng), mấy con cá Mát rán (loại cá ở suối), một đĩa cá Khe kho (loại cá chỉ nhỏ bằng ngón tay, sống ở khe suối), đĩa rau bí xào. Chúng tôi vừa ăn vừa trò chuyện.

 

Anh Tuân cho biết, cách Quy Đạt khoảng hai chục cây số có bản Ón, một bản của người Rục, đây là dân tộc chỉ mới được tìm thấy chục năm nay. Thế là, không họp bàn, không lên kế hoạch, chúng tôi đề nghị anh đưa cả đoàn lên thăm bà con.

 

Ăn thật nhanh, tất cả chúng tôi lên xe ngay. Mấy anh em trong đoàn lại chạy vội vào chợ, mua vài hàng mới được 500 ngàn đồng tiền bánh kẹo để tặng bà con.

 

Xe chạy theo quốc lộ 12A rồi ra đường xuyên Á, đến gần sát khu vực cửa khẩu thì rẽ vào đường dẫn về bản Ón. Con đường được Nhà nước đầu tư làm bằng bê-tông nên tuy nhỏ nhưng không mấy chỗ bị lồi lõm. Chỉ có điều, đường leo lên núi, lội xuống khe, băng qua những cánh rừng già đại ngàn nên độ dốc cứ theo núi mà leo, thành thử, nhiều chỗ dốc như dựng ngược lên, lao xuống cũng khiếp mà bò lên cũng khó. Tuấn Dũng, lái chiếc Mitsubishi Jolie 7 chỗ của báo, may mà mới thay phanh nên xuống dốc thì ổn, còn lên dốc bò số 2 là hụt hơi, tụt đến mấy lần. Chín cây số đường như đưa chúng tôi chui vào thăm thẳm ruột rừng. Cây chen bên cây, dây leo chằng chịt. Tôi mở toang cửa sổ xe, hít sâu vào lồng ngực cái mùi ngai ngái, ai ải của lá mục, cành khô; nghe lẫn trong gió có tiếng chim “Bắt cô trói cột” vẳng đến nao lòng.

 

Bản Ón đây rồi. Những căn nhà nho nhỏ xinh xinh xây ngay ngắn bên triền đồi, nhìn xuống con đường dẫn vào giữa bản. Phía chân đồi, Nhà sinh hoạt cộng đồng, lớp học cũng được xây tử tế, nhỏ mà gọn mắt. Bản vắng hoe, chỉ có mấy đứa trẻ mặt mũi đen đúa, lấm lem đất cát, thậm chí có đứa chỉ có manh áo rách nhỏ, còn thì cứ lồng nhồng như thế mà nghịch đất. Thu Hương xách một túi bánh kẹo đã chuẩn bị sẵn, đi về phía ngôi nhà nhỏ có người đàn ông cởi trần, đang thu lu một góc cửa. Lũ trẻ thấy cô và tôi đến, sợ hãi chạy dạt hết vào góc chuồng trâu, ngay sát căn nhà (do Nhà nước xây cho mỗi hộ), vẫy gọi thế nào chúng cũng nhất định không ra. Tôi lân la đến bên người đàn ông Rục đang nép bên cửa nhìn chúng tôi, cười, rồi ra hiệu thật thân thiện để ông hiểu chúng tôi muốn biếu ông những thứ có thể ăn được. Tôi đưa cho ông gói bánh. Thấy ông nhận, tôi ra hiệu bảo ông gọi lũ trẻ đến. Ông nói câu gì đấy, chắc là thông báo cho lũ trẻ chuyện tôi cho chúng quà, thế là mấy đứa rụt rè thò tay ra. Chúng tôi chia kẹo, bánh, cả mấy gói bột ngũ cốc và ra hiệu cho người đàn ông bảo lũ nhỏ cắt ra, đổ nước vào mà khoắng lên. Thêm mấy đứa trẻ nhà bên chạy sang, chúng tôi chia hết chỗ bánh kẹo trong túi, rồi tất cả kéo nhau ra Nhà sinh hoạt cộng đồng.

 

Bản Ón có 57 hộ với cả thảy 243 nhân khẩu, trong đó người Rục là 111 người thuộc 44 hộ, còn lại là người Sách. Bản có 5 lớp học từ mẫu giáo đến lớp 5, đều được Nhà nước bao cấp. Phó Chủ tịch UBND huyện Minh Hóa, anh Trần Hữu Diện hết chờ chúng tôi ở huyện không gặp được, biết đoàn vào bản Ón, lại lập tức xuống ngay. Anh bảo: “Chú trưởng bản Trần Văn Tư này là học sinh của tôi. Trước tôi phụ trách ngành Giáo dục của huyện mà”. Đến ngay cả cái họ của người Sách, của anh trưởng bản 34 tuổi này, nghe đâu cũng do thầy Diện cho mà có?

 

Tôi lại nhớ đến câu chuyện cách đây 11 năm, khi mà bộ đội biên phòng Quảng Bình tìm được những người Rục đầu tiên và đưa họ trở về hòa nhập với cộng đồng. Mười một năm, thời gian chưa phải là nhiều, chỉ hy vọng lũ trẻ người Rục lớn lên trong những căn nhà nho nhỏ do Nhà nước chu cấp, sẽ biết từ bỏ cuộc sống mà cha mẹ chúng lâu lâu nhớ rừng lại về “nằm núi” vài ba tháng.

 

Không đất canh tác, không quen nếp sinh hoạt mới, dẫu ở cùng với người Sách, dẫu tất cả đều do Nhà nước chu cấp, hình như người Rục vẫn mê rừng, mê hang núi, hốc cây hơn cuộc sống định cư? Hình như, họ thèm được hái lượm, được săn bắt theo cái cách mà dân tộc họ đã tồn tại suốt bao nhiêu thế kỷ ?

 

Chúng tôi khuân xuống 5 bao tải quần áo, hy vọng sẽ chia đủ cho mỗi người (kể cả người lớn lẫn lũ trẻ) một chiếc áo hoặc cái quần. Anh Tư - Trưởng bản cho gọi dân đến. Chỉ có mấy hộ người Sách có mặt. Số thanh niên và người đứng tuổi của người Rục, nghe nói “vào rừng hái lượm hết rồi”. Chỉ còn lũ trẻ chưa đến chục đứa hớn hở ngồi bên mấy băng ghế, vui vẻ nhận quà của đoàn công tác.

 

Không chuẩn bị, cũng không nằm trong kế hoạch của đoàn công tác, chúng tôi chỉ kịp hội ý chớp nhoáng để đi đến quyết định: Báo Hànộimới và Tập đoàn Mai Linh tặng bà con bản Ón 2 triệu đồng.

 

Tôi nhìn anh trưởng bản, nhìn những gương mặt vui mừng của bà con bản Ón có mặt tại Nhà sinh hoạt cộng đồng, biết mình đã thêm một lần may mắn trong một đời làm báo. Vui, buồn lẫn lộn, để đến lúc chia tay bản Ón, ngoái lại bên kia khe Pà Lùn, bắt gặp hình ảnh mấy đứa trẻ đen trũi, trần truồng mà cứ nao nao suốt chặng đường về.

 

Rưng rưng những nẻo đường lửa ấm

 

Cuộc hành trình mang “Lửa ấm về các miền quê” tạm dừng lại ở Quảng Bình. Chúng tôi đã đi suốt 12 tỉnh miền núi phía Bắc từ Tuyên Quang, Hòa Bình, Sơn La, Phú Thọ đến Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn; chúng tôi đã đi dọc 4 tỉnh miền trung từ Thanh Hóa đến Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Tôi cũng không nhớ nổi đoàn công tác của chúng tôi đã đi qua bao nhiêu ngàn cây số, qua bao nhiêu cung đường cả mới mở lẫn đang nâng cấp cải tạo để đến với những bà con nông dân nghèo vừa bị mất mát, mà có người giờ đã trắng tay sau đợt rét vừa qua. Những người dân chúng tôi đã gặp cũng gần đủ các dân tộc: Thái, Tày, Nùng,  Khơ Mú, Dao, Mông, Mường, Sách, Rục… Tôi đã thấy nước mắt lăn trên má họ - những giọt nước mắt vui mừng, cảm động, biết ơn, tin yêu và hi vọng. Tôi đã thấy nụ cười trong đôi mắt họ - nụ cười bừng lên trên gương mặt hốc hác đến phờ phạc sau những mất mát quá lớn lao mà họ đã gánh chịu.

 

Trong cái rét còn sót lại những ngày chúng tôi đã qua, trong cái hoe hoe nhàn nhạt đến yếu ớt của bóng nắng vừa lên những ngày chúng tôi đã gặp, chúng tôi biết ngọn lửa nhỏ mà cuộc vận động này nhen lên đã được tiếp sức bởi triệu triệu trái tim nhân ái.

 

Tôi đã thấy màu lửa trên những gương mặt ửng sáng lên khi nhận những con trâu, đồng tiền, tấm áo mà cuộc vận động đem lại. Tôi đã thấy hơi lửa làm ấm nhiều gian bếp lạnh tanh, để thấm hơn cái mùi cay của khói vừa làm cay cay khóe mắt bao người.

 

“Lửa ấm về các miền quê” rồi sẽ cháy suốt theo năm tháng để làm ấm lại những mảnh đời không may gặp khốn khó. “Lửa ấm về các miền quê” rồi sẽ còn cháy sáng hơn để hơi ấm của nó, ánh sáng của nó sẽ cùng mặt trời sưởi ấm cả những trái tim giá lạnh

More

 

Lượt truy cập: 12.274.485 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này