Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin cải cách hành chính ngày 28/7/2020
1. Từ ngày 15/9/2020, áp dụng mã định danh điện tử chia sẻ dữ liệu số
2. Hệ thống phần mềm họp trực tuyến phải đáp ứng các tiêu chí an toàn, bảo mật
3. Năm kiến nghị nhằm phát triển IPv6 phục vụ chuyển đổi số
4. Thanh Hóa: Cắt giảm thời gian thực hiệc các thủ tục hành chính trong lĩnh vực xây dựng
5. Người dân có thể đăng ký ô tô, xe máy qua mạng từ 1/8
6. Đã giảm gần 2.000 cấp tổ thuộc kho bạc huyện
7. Triệt để tiết kiệm chi thường xuyên
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
9. Nepal: CIAA kiến nghị được điều tra tham nhũng khu vực tư nhân
CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH
Từ ngày 15/9/2020, áp dụng mã định danh điện tử chia sẻ dữ liệu số
Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 20/2020/QĐ-TTg về mã định danh điện tử của các cơ quan, tổ chức phục vụ kết nối, chia sẻ dữ liệu của các bộ, ngành, địa phương. Quyết định có hiệu lực từ ngày 15/9/2020.
Theo đó, từ ngày 15/9/2020, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các đơn vị thuộc, trực thuộc khi kết nối, liên thông chia sẻ dữ liệu với các bộ, ngành, địa phương thực hiện thống nhất theo tiêu chuẩn quốc tế để phục vụ kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương.
Quyết định nêu rõ, mã định danh điện tử của các bộ, ngành, địa phương là chuỗi ký tự có độ dài tối đa 35 ký tự và được chia thành các nhóm. Các ký tự gồm dấu chấm (.), chữ số từ 0 đến 9 và chữ cái từ A đến Z (dạng viết hoa trong bảng chữ cái tiếng Anh). Mỗi nhóm ký tự được sử dụng để xác định các cơ quan, tổ chức tại cấp tương ứng, các nhóm ký tự được phát triển từ trái qua phải và phân tách với nhau bằng dấu chấm.
Mã định danh điện tử của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh là chuỗi ký tự biểu diễn tương ứng mã số doanh nghiệp, mã số hợp tác xã, mã số hộ kinh doanh theo quy định pháp luật hiện hành về mã số doanh nghiệp, mã số hợp tác xã và mã số hộ kinh doanh.
Đối với các cơ quan, tổ chức khác, mã định danh điện tử là chuỗi ký tự gồm hai thành phần nối tiếp nhau; không có ký tự để phân tách giữa các thành phần; thành phần thứ nhất, ở vị trí ngoài cùng bên trái là mã xác định lược đồ định danh, thành phần tiếp theo là mã xác định cơ quan, tổ chức trong lược đồ định danh.
Khi kết nối, liên thông chia sẻ dữ liệu, các cơ quan, tổ chức trên phải xây dựng lược đồ định danh cho nhóm cơ quan, tổ chức mình, gửi về Bộ Thông tin và Truyền thông để tổng hợp, công bố, bảo đảm mã xác định lược đồ định danh không bị trùng lặp.
Thủ tướng giao Bộ Thông tin và Truyền thông quản lý thống nhất, bổ sung, sửa đổi Mã cấp 1 của các bộ, ngành, địa phương và một số cơ quan, tổ chức đặc thù để đáp ứng nhu cầu thực tế trong quá trình sử dụng; xây dựng văn bản hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương và cơ quan, tổ chức đặc thù xây dựng những thành phần còn lại trong mã định danh điện tử sau khi đã có Mã cấp 1; phát triển hệ thống thông tin quản lý Danh mục điện tử dùng chung của các cơ quan nhà nước phục vụ phát triển Chính phủ điện tử đáp ứng yêu cầu về lưu trữ, quản lý đồng bộ, thống nhất, chia sẻ mã định danh điện tử của cơ quan, tổ chức…
Thủ tướng yêu cầu, trong vòng 24 tháng từ ngày 15/9/2020, các bộ, ngành, địa phương thực hiện nâng cấp, chỉnh sửa các hệ thống thông tin để bảo đảm tuân thủ quy định; đồng thời, các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm rà soát, chỉnh sửa những quy định trước đây của mình (nếu có) về mã định danh để tuân thủ quy định mới.
Các hệ thống thông tin chỉ thực hiện kết nối, chia sẻ dữ liệu trong nội bộ ngành không bắt buộc phải áp dụng quy định về mã định danh điện tử được quy định tại Quyết định số 20/2020/QĐ-TTg. (Tapchitaichinh.vn 28/7, Quỳnh Trang)Về đầu trang
Hệ thống phần mềm họp trực tuyến phải đáp ứng các tiêu chí an toàn, bảo mật
Theo bộ tiêu chí về chức năng, tính năng kỹ thuật của hệ thống phần mềm họp trực tuyến (phiên bản 1.0) mới được Bộ TT&TT ban hành, hệ thống phần mềm họp trực tuyến phải đáp ứng các tiêu chí về an toàn, bảo mật.
Bộ tiêu chí về chức năng, tính năng kỹ thuật của hệ thống phần mềm họp trực tuyến (phiên bản 1.0) vừa được Bộ TT&TT ban hành tại Quyết định 1246 để hướng dẫn xây dựng, đánh giá, lựa chọn hệ thống phần mềm họp trực tuyến thực hiện chế độ họp trong hoạt động quản lý, điều hành của cơ quan thuộc hệ thống hành chính nhà nước.
Hệ thống phần mềm họp trực tuyến là hệ thống thông tin cho phép thực hiện hình thức họp trực tuyến bằng phần mềm hoặc website thông qua mạng truyền số liệu chuyên dùng, mạng nội bộ (mạng WAN) hoặc mạng Internet để người ở vị trí địa lý khác nhau có thể cùng tham gia cuộc họp từ xa, mà ở đó họ có thể nghe, nói, nhìn thấy nhau như đang ở chung một phòng họp.
Bộ tiêu chí về chức năng, tính năng kỹ thuật của hệ thống phần mềm họp trực tuyến (phiên bản 1.0) mới được Bộ TT&TT chia thành các nhóm: Tiêu chí chung; Tiêu chí về chức năng; Tiêu chí về hiệu năng; Tiêu chí về an toàn, bảo mật; và Tiêu chí phi chức năng khác.
Theo đó, hệ thống phần mềm họp trực tuyến phải đáp ứng các tiêu chí chung như: Bảo đảm thực hiện các cuộc họp trực tuyến trên công nghệ mạng Internet hỗ trợ nhiều giao thức; Bảo đảm không truyền, lưu trữ các dữ liệu phát sinh trong quá trình đăng ký sử dụng và họp trực tuyến cho các đối tượng không được cấp quyền truy cập; Đảm bảo hệ thống phần mềm cung cấp cho người sử dụng theo nhiều hình thức như dịch vụ sẵn có hoặc tự quản trị và khai thác…
Bên cạnh đó, hệ thống phần mềm họp trực tuyến cũng phải có những chức năng đáp ứng các tiêu chí cụ thể về âm thanh, hình ảnh, trao đổi tin nhắn, chia sẻ màn hình, mời thành viên tham gia cuộc họp, chủ tọa và một số chức năng nâng cao.
Đơn cử như, về âm thanh, hệ thống có chức năng gọi audio, có thể bật/tắt audio và có thể sử dụng các thiết bị ngoại vi phục vụ thu, phát âm thanh như microphone, tai nghe.
Về hình ảnh, hệ thống có chức năng gọi video, có thể bật/tắt video cũng như có thể sử dụng các thiết bị ngoại vi phục vụ thu, phát hình ảnh như camera, webcam, màn hình, máy chiếu.
Hệ thống có chức năng trao đổi tin nhắn (chat) trong phòng họp: chat công khai, chat riêng tư, sao chép nội dung chat.
Chủ tọa có thể điều khiển cuộc họp với các chức năng: Tắt mic từng điểm cầu; Tắt mic tất cả; Có thể đẩy người tham dự ra khỏi cuộc họp; Đặt mật khẩu phòng họp; Chuyển quyền chủ tọa.
Đặc biệt, theo hướng dẫn của Bộ TT&TT, hệ thống phần mềm họp trực tuyến phải đáp ứng các tiêu chí về an toàn, bảo mật như: Hỗ trợ truyền dữ liệu trên các đường truyền mã hóa và các giao thức có bảo mật; Hỗ trợ đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn tầng giao vận TLS (v1.2) và an toàn tuyền tệp tin https; Có giải pháp xác thức an toàn, mã hóa thông tin danh tính và thông tin cá nhân của người tham gia họp tại các điểm cầu.
Các cuộc họp phải có các cơ chế, hình thức bảo mật để hạn chế người dùng tham gia không mong muốn. Việc đảm bảo an toàn thông tin cho hệ thống phần mềm họp trực tuyến phải tuân thủ các quy định về bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ và các quy định của pháp luật hiện hành. (Ictnews.vietnamnet.vn 28/7, M.T)Về đầu trang
Năm kiến nghị nhằm phát triển IPv6 phục vụ chuyển đổi số
Thúc đẩy, hỗ trợ chuyển đổi hệ thống công nghệ thông tin (CNTT), kết nối Internet sang IPv6 của các cơ quan nhà nước là một nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn 2020-2025. Bên cạnh đào tạo nguồn nhân lực, VNNIC còn đưa ra 5 kiến nghị dưới đây…
Việt Nam đã đi sớm hơn so với nhiều quốc gia về hỗ trợ, thúc đẩy IPv6 trong khối Cơ quan nhà nước (CQNN) khi khai trương Chương trình IPv6 For Gov từ tháng 5/2019, đặt mục tiêu thực hiện quyết liệt, tập trung công tác chuyển đổi IPv6 trong khối CQNN trong giai đoạn 2020 - 2025.
Trong thời gian qua, Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC) đã tăng cường đào tạo nguồn nhân lực chuyển đổi hệ thống CNTT, Internet sang IPv6 cho các cơ quan chuyên trách CNTT khối Bộ, ngành. Bên cạnh đó, để chuyển đổi thành công IPv6, đảm bảo các hoạt động mạng lưới, dịch vụ đáp ứng được yêu cầu công nghệ hiện đại, phục vụ công cuộc chuyển đổi số, VNNIC khuyến nghị các CQNN cần quan tâm, triển khai các nội dung cụ thể.
Thứ nhất, nhận thức đúng mức tầm quan trọng của chuyển đổi IPv6 đối với mạng lưới, dịch vụ của CQNN
Mức độ cạn kiệt IPv4 ngày một nghiêm trọng trong khi Internet phát triển bùng nổ, chuyển đổi IPv6 là tất yếu để phát triển bền vững hoạt động Internet và các dịch vụ Internet mới (IoT, Smart City, 5G,…), gắn liền với phát triển Chính phủ điện tử, chuyển đổi số quốc gia. Chuyển đổi IPv6 là cơ hội để các CQNN rà soát, đánh giá lại hạ tầng mạng lưới bao gồm cấu trúc mạng lưới, kết nối định tuyến, hệ thống DNS quản lý tên miền và mạng lưới dịch vụ để đảm bảo chất lượng kết nối Internet, đảm bảo ATTT và hướng tới phục vụ người dân tốt hơn, đặc biệt trong bối cảnh các dịch vụ Internet đã đồng loạt chuyển sang sử dụng IPv6.
Thứ hai, sớm ban hành kế hoạch và chuẩn bị nguồn lực để chuyển đổi IPv6, cần hoàn tất trong giai đoạn 2020-2025. Trong năm 2020, các Bộ, Ngành, các Tỉnh, thành phố cần sớm ban hành Kế hoạch chuyển đổi IPv6 giai đoạn 2020-2025, theo sát lộ trình chuyển đổi IPv6 với 03 Giai đoạn – 10 bước; triển khai chuyển đổi IPv6 song hành với quy hoạch hiện đại hóa hạ tầng mạng lưới, dịch vụ của tỉnh theo mô hình tham chiếu về kết nối mạng Bộ, Ngành, địa phương (theo các văn bản hướng dẫn của Bộ TTTT số 1541/BTTTT-VNNNIC và số 273/BTTTT-CBĐTW).
Năm 2020, các cơ quan nhà nước ưu tiên chuyển đổi IPv6 cho Cổng thông tin điện tử; các năm tiếp theo bố trí nguồn lực (nhân sự, kinh phí, tài nguyên IPv6,…) phù hợp để chuyển đổi IPv6 theo kế hoạch đã ban hành, thực hiện và hoàn tất trong giai đoạn 2020-2025.
Thứ ba, hành động quyết liệt để thực hiện chuyển đổi IPv6 cho mạng lưới, dịch vụ CNTT. Trên cơ sở kế hoạch đã ban hành, nguồn lực được chuẩn bị, các CQNN cần hành động và thực hiện quyết liệt công tác chuyển đổi IPv6 cho mạng lưới, dịch vụ CNTT. Ưu tiên chuyển đổi IPv6 cho Cổng thông tin điện tử, Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 để đáp ứng yêu cầu kết nối của người dân; tiếp đến là các hệ thống, mạng lưới, dịch vụ khác (Hệ thống E-Mail, WiFi, Mạng LAN văn phòng, Mạng WAN …).
Thứ tư, thực hiện chuyển đổi IPv6 cần theo dõi, đúc kết và điều chỉnh qua mỗi giai đoạn. IPv6 là công nghệ mới, để đảm bảo chất lượng chuyển đổi IPv6 và tối ưu hoạt động mạng lưới, dịch vụ, sau mỗi giai đoạn, các đơn vị cần đánh giá kết quả thực hiện Kế hoạch và có phương án điều chỉnh kịp thời, cả về nội dung thực hiện và tiến độ triển khai cho phù hợp.
Thứ năm, tăng cường đảm bảo an toàn thông tin, nâng cao chất lượng dịch vụ. Để tăng cường an toàn thông tin, nâng cao chất lượng dịch vụ cơ quan nhà nước, công tác chuyển đổi IPv6 cần gắn với quy hoạch, hiện đại hóa hạ tầng mạng lưới, dịch vụ. Các giải pháp cụ thể như sau: Quy hoạch mạng độc lập, kết nối đa hướng tới nhiều nhà cung cấp dịch vụ Internet và kết nối Trạm trung chuyển lưu lượng quốc gia (VNIX); Triển khai hệ thống DNS riêng với công nghệ an toàn bảo mật DNSSEC cho tên miền của CQNN; chuyển đổi IPv6 để tăng tốc độ và chất lượng kết nối Internet, đảm bảo truy cập của người dân, doanh nghiệp vào các dịch vụ trực tuyến của CQNN được thông suốt.
Được biết, Việt Nam đã đi sớm hơn so với nhiều quốc gia về hỗ trợ, thúc đẩy IPv6 trong khối CQNN khi khai trương Chương trình IPv6 For Gov từ tháng 5/2019, đặt mục tiêu thực hiện quyết liệt, tập trung công tác chuyển đổi IPv6 trong khối CQNN trong giai đoạn 2020 - 2025. (Vietnamnet.vn 27/7, Phạm Lê)Về đầu trang
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Thanh Hóa: Cắt giảm thời gian thực hiệc các thủ tục hành chính trong lĩnh vực xây dựng
Ngày 27/7/2020, UBND tỉnh Thanh Hóa có Văn bản số 10043/UBND-CN gửi các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố về việc cắt giảm thời gian thực hiện các thủ tục hành chính về thẩm định dự án, thiết kế cơ sở, thiết kế, dự toán xây dựng.
Theo đó, để thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia theo yêu cầu tại Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2020 của Chính phủ và Chỉ thị số 08/CT-TTg ngày 13/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường thực hiện các biện pháp rút ngắn thời gian cấp phép xây dựng và các thủ tục có liên quan; trên cơ sở đề xuất của Sở Xây dựng tại Công văn số 4504/SXD-HT ngày 23/7/2020 về việc rà soát giảm thời gian thực hiện thủ tục thẩm định dự án, thiết kế xây dựng.
Đề nghị các sở, ban, ngành cấp tỉnh và UBND các huyện, thị xã, thành phố thực hiện giảm tối thiểu 30% thời gian thực hiện các thủ tục hành chính trong lĩnh vực xây dựng gồm: Thẩm định dự án (hoặc dự án điều chỉnh), thẩm định thiết kế cơ sở (hoặc thiết kế cơ sở điều chỉnh); thẩm định báo cáo kinh tế - kỹ thuật (hoặc báo cáo kinh tế - kỹ thuật điều chỉnh), thiết kế bản vẽ thi công, dự toán xây dựng (hoặc thiết kế bản vẽ thi công, dự toán xây dựng điều chỉnh) của báo cáo kinh tế - kỹ thuật; thẩm định thiết kế, dự toán xây dựng (hoặc thiết kế, dự toán xây dựng điều chỉnh); đồng thời, việc giải quyết các hồ sơ, thủ tục nêu trên phải đảm bảo chất lượng, tiến độ và hiệu quả đúng quy định. (Baoxaydung.com.vn 27/7, Hà Chi)Về đầu trang
LĨNH VỰC CẢI CÁCH
Người dân có thể đăng ký ô tô, xe máy qua mạng từ 1/8
Thay vì phải trực tiếp tới làm đăng ký, biển số xe máy, xe ô tô tại Phòng Cảnh sát giao thông cấp quận, huyện thì từ ngày 1/8 tới, người dân có thể đăng ký qua mạng internet.
Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 58/2020/TT-BCA về quy trình cấp, thu hồi đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ được thi hành từ 1/8/2020.
Thông tư mới này sẽ thay thế Thông tư 15-2014/TT-BCA ngày 4-01/2016 quy định về đăng ký xe. Việc chủ trương cải cách thủ tục hành chính trong quy trình cấp, thu hồi đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ trên cả nước, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân.
Trong Thông tư số 58 của Bộ Công an có hiệu lực từ ngày 1/8 quy định nhiều điểm mới đáng lưu ý. Trong đó, thông tư này sẽ cho phép người dân thực hiện các thủ tục ban đầu trên không gian mạng điện tử, tránh phải tìm đến trụ sở đăng ký của Phòng CSGT cấp TP, tỉnh hoặc Cục CSGT có thẩm quyền như trước.
Cụ thể, các loại giấy tờ, như: giấy khai đăng ký xe, giấy tờ của xe, giấy tờ của chủ xe được thay thế bằng dữ liệu điện tử kết nối với cơ sở dữ liệu điện tử của các bộ, ngành theo Thông tư số 58/2020/TT-BCA quy định quy trình cấp, thu hồi đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ và Thông tư số 59/2020/TT-BCA quy định công tác nghiệp vụ cấp, thu hồi đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ.
Do đó, chủ phương tiện có thể đăng ký xe trực tuyến (qua mạng internet) với thủ tục như sau:
Chủ xe kê khai thông tin của xe, chủ xe vào giấy khai đăng ký xe (mẫu số 01) trên trang thông tin điện tử của Cục Cảnh sát giao thông hoặc Cổng Dịch vụ công quốc gia để đăng ký xe trực tuyến và nhận mã số thứ tự, lịch hẹn giải quyết hồ sơ qua email hoặc qua tin nhắn điện thoại. Sau đó, cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ đăng ký xe kiểm tra nội dung kê khai, tiến hành đăng ký cho chủ xe. Hồ sơ xe quy định cụ thể tại Điều 8, Điều 9 và trình tự cấp đăng ký, biển số theo quy định tại Điều 10 của Thông tư 58.
Ngoài ra, chủ xe có trách nhiệm đưa xe đến cơ quan đăng ký xe để kiểm tra đối với xe đăng ký lần đầu, xe đăng ký sang tên, xe cải tạo, xe thay đổi màu sơn. Như vậy, trước khi cải tạo xe, thay đổi màu sơn (kể cả kẻ vẽ, quảng cáo), chủ xe phải khai báo trên trang thông tin điện tử của Cục Cảnh sát giao thông tại mục khai báo cải tạo xe, thay đổi màu sơn hoặc trực tiếp đến cơ quan đăng ký xe và được xác nhận của cơ quan đăng ký xe thì mới thực hiện; làm thủ tục đổi lại Giấy chứng nhận đăng ký xe khi xe đã được cải tạo hoặc khi thay đổi địa chỉ của chủ xe theo Điều 6 Thông tư 58.
Hình thức khai báo trên trang thông tin điện tử của Cục Cảnh sát giao thông đối với xe cải tạo, thay đổi màu sơn (kể cả kẻ vẽ, quảng cáo), hết niên hạn sử dụng, hỏng không sử dụng được, bị phá hủy do nguyên nhân khách quan, đăng ký xe trực tuyến thực hiện từ ngày 1/3/2021. (Caritimes.vn 27/7, Thu Hà)Về đầu trang
Đã giảm gần 2.000 cấp tổ thuộc kho bạc huyện
Theo thống kê mới đây của Kho bạc Nhà nước, từ năm 2015 đến hết tháng 4/2020, toàn hệ thống đã giảm được 251 phòng thuộc kho bạc cấp tỉnh, giảm 64 kho bạc cấp huyện và tương đương. Qua đó, đã giảm gần 2.000 cấp tổ thuộc kho bạc cấp huyện.
Việc tinh giản bộ máy trong hệ thống Kho bạc Nhà nước (KBNN) đã cắt giảm được các đầu mối trung gian và các chức danh lãnh đạo. Cụ thể, đã giảm được 632 vị trí lãnh đạo cấp phòng và tương đương; gần 2.600 công chức lãnh đạo cấp tổ, đội không còn giữ chức danh lãnh đạo; bố trí, sắp xếp gần 200 công chức lãnh đạo cấp phòng giữ chức vụ thấp hơn hoặc cắt giảm chức danh lãnh đạo để bố trí công việc khác.
Từ đó, chế độ chính sách liên quan đến phụ cấp các chức vụ lãnh đạo cũng sẽ không còn, tiết kiệm đáng kể cho ngân sách nhà nước trong việc chi trả đối với con người.
Cùng với việc sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, KBNN tăng cường công tác đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ, công chức nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Đi đôi với việc tinh gọn bộ máy, công tác cải cách thủ tục hành chính và hiện đại hóa của hệ thống KBNN đã được nâng lên rõ rệt. Hệ thống KBNN đã cải cách quy trình nghiệp vụ, hiện đại hóa công nghệ quản lý; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động nghiệp vụ cũng như quản lý, điều hành, bảo đảm công khai, minh bạch, tạo thuận lợi cho các đơn vị, cá nhân trong quá trình giao dịch với KBNN, thay vì giao dịch với nhiều đầu mối thì nay chỉ có một giao dịch viên; thời gian xử lý công việc cũng được cắt giảm. (Thoibaotaichinhvietnam.vn 27/7, Minh Anh)Về đầu trang
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
Triệt để tiết kiệm chi thường xuyên
Tại dự thảo Thông tư hướng dẫn xây dựng dự toán ngân sách nhà nước năm 2021, Bộ Tài chính đề nghị các bộ, cơ quan trung ương và địa phương xây dựng dự toán chi thường xuyên năm 2021 phải triệt để tiết kiệm, bảo đảm đúng tính chất nguồn kinh phí, đáp ứng các nhiệm vụ chính trị quan trọng.
Bộ Tài chính đang lấy ý kiến đóng góp vào dự thảo Thông tư hướng dẫn xây dựng dự toán ngân sách nhà nước năm 2021 (sau đây gọi là dự thảo). Theo đó, dự thảo yêu cầu các bộ, cơ quan trung ương và các địa phương xây dựng dự toán chi thường xuyên năm 2021 cho từng lĩnh vực chi, triệt để tiết kiệm, bảo đảm đúng tính chất nguồn kinh phí, đáp ứng các nhiệm vụ chính trị quan trọng. Đồng thời, thực hiện đầy đủ các chính sách, chế độ nhà nước đã ban hành, nhất là các chính sách chi cho con người, chi an sinh xã hội trong bối cảnh còn nhiều khó khăn do thiên tai, dịch bệnh.
Cũng theo dự thảo, dự toán chi mua sắm, bảo dưỡng, sửa chữa tài sản phải căn cứ quy định về tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng tài sản công hiện hành. Ngoài ra, phải hạn chế mua sắm xe ôtô công và trang thiết bị đắt tiền, tiếp tục thực hiện khoán kinh phí sử dụng xe ôtô công; hạn chế tối đa tổ chức hội nghị, lễ hội, hội thảo, khánh tiết, công tác nước ngoài. Bộ Tài chính đề nghị các bộ, ngành tiếp tục cơ cấu lại ngân sách nhà nước, đồng thời tạo nguồn để thực hiện cải cách chính sách tiền lương và bảo hiểm xã hội theo quy định.
Dự toán chi hoạt động năm 2021 của cơ quan quản lý nhà nước, Đảng, đoàn thể, phải xây dựng gắn với mục tiêu sắp xếp lại tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế; kiện toàn tổ chức, giảm đầu mối, giảm cấp trung gian, giảm cấp phó, thực hiện kiêm nhiệm chức danh, sáp nhập các xã chưa đạt chuẩn...
Đối với dự toán chi hoạt động năm 2021 của các đơn vị sự nghiệp công lập, thực hiện giảm quỹ lương, chi bộ máy gắn với giảm biên chế hưởng lương từ ngân sách. Trường hợp chưa có quyết định của cấp thẩm quyền hoặc đề án được duyệt, thì tính giảm bình quân 2,5% so với biên chế hưởng lương từ ngân sách năm 2020 theo đúng chủ trương tại Nghị quyết 19-NQ/TW Hội nghị Trung ương 6 Khóa XII.
Cùng với đó, các bộ, ngành, địa phương phải giảm chi hỗ trợ từ ngân sách nhà nước tối thiểu 2,5% gắn với mức giảm biên chế hưởng lương từ ngân sách và giảm thêm tối thiểu 5% - 10% so với dự toán năm 2020 chi hỗ trợ từ ngân sách nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp công lập có nguồn thu tăng theo lộ trình tính giá, phí dịch vụ sự nghiệp công, tăng giá học phí.
Một trong những mục tiêu quan trọng của quá trình cơ cấu lại ngân sách nhà nước là giảm tỷ trọng chi thường xuyên, tăng tỷ trọng chi đầu tư. Tuy nhiên, đến nay, cắt giảm chi tiêu thường xuyên vẫn là áp lực lớn đối với ngành tài chính, khi mà việc tổ chức, sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế và đổi mới khu vực sự nghiệp công thời gian qua chưa đạt mục tiêu.
Điển hình, hiện mới chỉ có khoảng 2% đơn vị sự nghiệp công lập có thể tự chủ được toàn bộ các khoản chi thường xuyên, còn lại ngân sách vẫn phải hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ. Quỹ lương (bao gồm chi cho cán bộ công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, lực lượng không chuyên trách ở cấp xã, trợ cấp ưu đãi người có công và một bộ phận người hưởng lương hưu từ ngân sách…) chiếm khoảng 30% tổng chi ngân sách và chiếm 50% tổng chi thường xuyên.
Trong bối cảnh dịch bệnh Covid - 19, nhiệm vụ cắt giảm chi thường xuyên càng cấp bách hơn. Do ảnh hưởng của đại dịch, tình hình sản xuất, xuất khẩu khó khăn, tiêu dùng nội địa thấp, giá dầu thô giảm sâu và việc triển khai các giải pháp tài khóa để phòng, chống dịch bệnh, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân đã ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn thu nội địa - vốn chiếm đa số thu ngân sách. Tổng thu ngân sách 6 tháng đầu năm nay ước đạt 44,22% dự toán, giảm 11,1% so với cùng kỳ năm 2019. Đây là năm có tiến độ thu ngân sách so với dự toán đạt thấp nhất kể từ năm 2013 và suy giảm so với cùng kỳ ở cả 3 lĩnh vực kinh tế (thu nội địa giảm 8%; thu dầu thô giảm 28,5%; thu cân đối từ hoạt động xuất, nhập khẩu giảm 21,9% so với cùng kỳ 2019).
“Các hoạt động kinh tế bị ngưng trệ khiến nguồn thu ngân sách nhà nước sẽ giảm. Trong khi đó, các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp và người dân bị ảnh hưởng sẽ khiến chi tiêu tăng. Năm nay nhiều khả năng thâm hụt ngân sách sẽ tăng cao nhưng không có cách nào tránh được”, TS. Phạm Thế Anh, chuyên gia kinh tế trưởng của Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) nhận định.
Trong bối cảnh như vậy, mới đây VEPR khuyến cáo Chính phủ cắt giảm ngân sách thường xuyên (tiêu dùng) tối thiểu 10% nhằm dành nguồn lực cho việc khắc phục những hậu quả do bệnh dịch Covid - 19 gây ra. Trước đó, ngày 15.7, Bộ Tài chính có văn bản đề nghị UBND các tỉnh, thành phố chỉ đạo các sở tài chính và cơ quan, đơn vị triệt để tiết kiệm chi thường xuyên, cắt giảm tối thiểu 70% kinh phí hội nghị, đi công tác trong và ngoài nước còn lại của năm 2020, tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên khác còn lại của năm 2020. (Đại biểu nhân dân 27/7, Hà Lan)Về đầu trang
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Khó quản lý nên xóa?
Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cư trú đề nghị, xóa đăng ký thường trú nếu trên 12 tháng liên tục công dân không đăng ký tạm trú ở nơi nào hoặc không khai báo tạm vắng với công an xã, phường, thị trấn nơi thường trú, trừ trường hợp xuất cảnh ra nước ngoài. Tuy nhiên, không ít ý kiến cho rằng, phải hết sức cân nhắc quy định này; tự do cư trú là quyền hiến định của công dân, không nên vì khó quản lý mà xóa đăng ký thường trú của công dân.
Dự thảo Luật Cư trú (sửa đổi) đã bổ sung quy định xóa đăng ký thường trú đối với trường hợp “Vắng mặt tại nơi thường trú từ trên 12 tháng liên tục mà không đăng ký tạm trú ở nơi nào hoặc không khai báo tạm vắng với công an xã, phường, thị trấn nơi thường trú; trừ trường hợp xuất cảnh ra nước ngoài”. Theo Bộ Công an, cơ quan chủ trì soạn thảo dự án Luật, việc bổ sung quy định này sẽ nâng cao ý thức trách nhiệm của công dân và hộ gia đình trong đăng ký, quản lý cư trú; giúp Cơ quan đăng ký, quản lý cư trú nắm bắt tình hình cư trú của dân cư trên địa bàn quản lý được chính xác, chặt chẽ hơn.
Quy định này cũng chỉ áp dụng đối với người không khai báo, nếu công dân có khai báo thì sẽ không bị xóa đăng ký thường trú. Việc xóa đăng ký thường trú trong trường hợp này không có nghĩa là xóa toàn bộ thông tin của công dân trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú mà tất cả thông tin của công dân trong 2 cơ sở dữ liệu này vẫn được lưu trữ, quản lý, khai thác, sử dụng như bình thường. Đối với trường thông tin về nơi thường trú của công dân trên 2 cơ sở dữ liệu sẽ thể hiện tình trạng công dân vắng mặt tại nơi thường trú.
Tại cuộc làm việc giữa Ủy ban Pháp luật với UBND TP Hà Nội mới đây về kết quả thực hiện pháp luật cư trú trên địa bàn, lãnh đạo Công an TP Hà Nội cho rằng, quy định này không hẳn là mới. Trước đây, Nghị định 51 ngày 10.5.1997 của Chính phủ đã quy định người đi vắng khỏi nơi đã đăng ký thường trú quá 6 tháng mà không khai báo tạm vắng, không có lý do chính đáng sẽ bị xóa tên trong sổ hộ khẩu. Khi trở lại phải xin đăng ký lại hộ khẩu thường trú theo quy định. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều trường hợp (người đi tù) bị xóa đăng ký thường trú sau khi quay về thì nhà đã bán, bố mẹ hoặc thân nhân đã chết hoặc do mâu thuẫn trong gia đình nên không đăng ký thường trú được. Như vậy, đã có những trường hợp bị ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Bên cạnh đó, lãnh đạo Công an TP Hà Nội cũng cho biết, sẽ có những trường hợp bất khả kháng khi vắng mặt khỏi nơi cư trú không đăng ký tạm trú tại nơi ở mới hoặc không khai báo tạm vắng như bị tai nạn, bệnh tật… Nếu đúng quy định thì sẽ làm thủ tục xóa đăng ký thường trú, dĩ nhiên không tránh khỏi ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Quy định này có tác động đến mọi người nên cần phải cân nhắc rất cụ thể, lãnh đạo Công an TP Hà Nội kiến nghị.
Có cùng quan điểm, Ủy viên Thường trực Ủy ban Pháp luật Trần Hồng Hà nêu rõ, quyền tự do cư trú là quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp. Xóa đăng ký thường trú mà người đó vẫn tồn tại thì làm sao xóa được? Nếu xóa đăng ký thường trú mà đẩy người dân đến tình trạng không nơi nào quản lý, trong khi họ vẫn hiện hữu thì biện pháp này có thật sự tốt hay không? Ủy viên Thường trực Ủy ban Pháp luật nhấn mạnh, “không thể quản lý khó quá thì xóa. Người ta không ở địa bàn này thì cũng phải ở địa bàn khác, vậy ở địa bàn ấy, chúng ta có quản lý chặt hay không?”.
Nêu thực tế, TP Hà Nội hiện đang có 144.000 trường hợp đăng ký hộ khẩu thường trú nhưng thực tế lại đang ở các tỉnh khác hoặc đi nước ngoài, lãnh đạo Công an TP Hà Nội nêu rõ, 144.000 trường hợp này nếu xóa đăng ký thường trú thì sẽ rất bất cập, khó khăn cho công dân khi quay trở lại Hà Nội để sinh sống hoặc làm bất cứ thủ tục gì có liên quan đến hộ khẩu.
Hiện nay nhiều quy định pháp luật có liên quan còn đang sử dụng nơi thường trú của công dân như một tiêu chí làm cơ sở để xác lập quan hệ giữa công dân với cơ quan nhà nước và giữa công dân với nhau. Việc xóa đăng ký thường trú có thể tác động tiêu cực đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Hơn nữa, cần làm rõ và có giải pháp xử lý đồng bộ về giá trị pháp lý của các giấy tờ cá nhân có liên quan đến nơi thường trú khi xóa đăng ký thường trú.
Do đó, một số thành viên Ủy ban Pháp luật cũng đề nghị, chỉ nên quy định xóa đăng ký thường trú của công dân trong trường hợp thật cần thiết nhằm giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu bảo đảm quyền công dân và công tác quản lý Nhà nước. (Đại biểu nhân dân 28/7, Anh Thảo)Về đầu trang
TIN THẾ GIỚI
Nepal: CIAA kiến nghị được điều tra tham nhũng khu vực tư nhân
Ủy ban Điều tra về lạm dụng quyền lực (CIAA) của Nepal cho rằng, không phải tất cả các tổ chức tư nhân, nhưng các cuộc điều tra về những bất thường trong các ngân hàng và tổ chức tài chính nơi người dân có một khoản đầu tư lớn nên thuộc phạm vi của CIAA.
Tại cuộc họp lấy ý kiến về báo cáo thường niên của CIAA diễn ra tại Ủy ban về Quản trị tốt của Quốc hội hôm 26/7, CIAA cho rằng, cơ quan này cần được ủy quyền điều tra các vụ án tham nhũng trong khu vực tư nhân liên quan trực tiếp đến cộng đồng.
Thảo luận tại hội nghị, các nhà lập pháp cũng khẳng định rằng, xu hướng bổ nhiệm chính trị đã khiến tham nhũng phát triển mạnh ở nước này.
Nhà lập pháp Janardan Sharma cho rằng, tham nhũng phổ biến ở những nơi giàu quyền lực và có thẩm quyền cao. Tuy nhiên, những người nắm giữ quyền lực và chức vụ lại thờ ơ với vấn đề lạm dụng quyền lực.
Amresh Kumar Singh, một nghị sỹ khác nói rằng, CIAA đã thất bại trong việc kiểm soát các vụ án tham nhũng ở cấp địa phương. "Chúng ta có thể dễ dàng tính toán những bất thường trong các đơn vị địa phương nếu tài sản của họ được điều tra kỹ lưỡng", ông nói.
Theo báo cáo thường niên của CIAA, hầu hết các khiếu nại tham nhũng có liên quan đến các đơn vị địa phương trong năm tài chính 2019 - 2020 vừa qua.
Trong tổng số đơn thư khiếu nại gửi tới CIAA, 26,87% liên quan đến sự bất thường ở cấp địa phương; trong khi 16,95% vụ liên quan ngành Giáo dục. Theo sau là quản lý đất đai (8,34%), rừng và môi trường (4,6%), y tế và dân số (3,98%). (Thanhtra.com.vn 28/7, Ngọc Anh)Về đầu trang./.