Bản tin cải cách hành chính ngày 13/01/2021

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. "Trực tuyến hóa", người dân và nhà nước đều lợi

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

2. Viettel muốn xây dựng hệ thống đô thị thông minh tại Huế thành mô hình chuẩn

3. Bà Rịa – Vũng Tàu phấn đấu vào top 10 địa phương chuyển đổi số

4. Hà Nội: Thường Tín nâng mức hài lòng của người dân

5. Khánh Hòa: Thông qua kết quả xếp hạng cải cách hành chính năm 2020

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

6. Chủ tịch VCCI: Tư duy cũ vẫn thấp thoáng trong văn bản luật về kinh doanh

7. Bộ Y tế bãi bỏ số lượng “kỷ lục” các văn bản không còn phù hợp

8. Ngành TT&TT: Con người phải chuyển đổi trước

9. Ngành Thanh tra: Xử lý nghiêm, ngăn chặn hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

10. Xây dựng bộ cơ sở dữ liệu nền đất đai: Cần sự quyết liệt từ địa phương

11. Thay đổi tư duy làm luật

TIN THẾ GIỚI

12. Twitter - Công cụ điều hành đất nước chưa có tiền lệ của Tổng thống Trump

         

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

"Trực tuyến hóa", người dân và nhà nước đều lợi

Dịch vụ công thứ 2.700 đã được tích hợp vào Cổng dịch vụ công quốc gia (DVCQG) ngày 30-12-2020 ngay trong sự kiện Chính phủ Việt Nam sơ kết 1 năm vận hành cửa ngõ tập trung trực tuyến cung cấp các dịch vụ công trên quy mô toàn quốc. Dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) mới nhất này là "kê khai, nộp lệ phí trước bạ và cấp đăng ký, biển số xe nhập khẩu", giúp người dân có thể kê khai nộp lệ phí trước bạ ở bất cứ đâu, chỉ cần đến cơ quan công an một lần để bấm và lấy biển số.

Cổng DVCQG của Việt Nam được xây dựng nhằm thực hiện mục tiêu của Chính phủ là lấy người dân, doanh nghiệp (DN) làm trung tâm để phục vụ; lấy sự hài lòng của người dân, DN làm thước đo chất lượng và hiệu quả phục vụ của cán bộ, công chức và cơ quan thẩm quyền trong việc cung cấp dịch vụ công, cải cách hành chính.

Công cuộc chuyển đổi số trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước nhằm xây dựng một chính phủ hoạt động trên nền tảng số (gọi là chính phủ số) sẽ không thể mở ra tới đối tượng chính là người dân nếu không có nơi cung cấp các DVCTT. Cổng quốc gia này không chỉ là nơi cung cấp dịch vụ, giúp người dân làm các thủ tục hành chính (TTHC), dịch vụ công trên nền tảng online mà còn là nơi để thực hiện sự tương tác giữa người dân và nhà nước. Chính phủ cũng xác định Cổng DVCQG là "địa chỉ kết nối, cung cấp thông tin về TTHC và DVCTT; hỗ trợ thực hiện, giám sát, đánh giá việc giải quyết TTHC, DVCTT và tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức trên toàn quốc". Trước đây, trong nỗ lực cải cách hành chính, nhà nước áp dụng hình thức "một cửa, một dấu" đối với các dịch vụ công. Còn bây giờ, Cổng DVCQG là "một cửa duy nhất" trên môi trường điện tử kết nối, tương tác giữa người dân, DN và các cơ quan nhà nước để tra cứu thông tin, thực hiện DVCTT.

Phải nhìn nhận chính nhờ có sự chỉ đạo quyết liệt và thường xuyên từ Chính phủ, đặc biệt là giao nhiệm vụ cụ thể cho các địa phương và bộ - ngành, Cổng DVCQG đã được phát triển với tốc độ nhanh và đạt hiệu quả cao. Từ 8 dịch vụ công vào lúc khai trương (tháng 12-2019), ngày 19-8-2020, cổng DVCQG đã tích hợp dịch vụ công thứ 1.000. Đó là dịch vụ kê khai, nộp lệ phí trước bạ và nộp tờ khai đăng ký ôtô trực tuyến. Chỉ hơn 4 tháng sau, Cổng DVCQG đã có thêm 1.700 dịch vụ công nữa. Sau 1 năm vận hành đầu tiên, Cổng DVCQG đã cung cấp gần 6.700 thủ tục hành chính tại 4 cấp chính quyền (đạt tỉ lệ 39%, vượt 9% so với chỉ tiêu Chính phủ giao). Cổng DVCQG đã có hơn 99 triệu lượt truy cập, hơn 412.000 tài khoản đăng ký; hơn 27,2 triệu hồ sơ đồng bộ trạng thái; trên 719.000 hồ sơ thực hiện trực tuyến và hơn 46.000 giao dịch thanh toán điện tử; tiếp nhận, hỗ trợ trên 43.800 cuộc gọi, hơn 9.600 phản ánh, kiến nghị về khó khăn, vướng mắc trong thực hiện quy định hành chính. Và theo tính toán, chi phí xã hội đã tiết kiệm được sau 1 năm thực hiện DVCTT trên Cổng DVCQG là hơn 6.700 tỉ đồng/năm (nếu tính luôn 4 dịch vụ công mới được tích hợp vào cuối năm 2020, tổng số tiền tiết kiệm được lên đến gần 8.000 tỉ đồng). Nhưng điều quan trọng là tạo được sự hài lòng từ người dân cùng với sự hiệu quả thông suốt của công tác quản lý nhà nước.

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng cho biết xây dựng Cổng DVCQG là công việc thường xuyên, liên tục, không có điểm dừng với mục tiêu xuyên suốt là lấy sự hài lòng của cá nhân, tổ chức là thước đo chất lượng cung cấp dịch vụ công. Mục tiêu tiếp theo của Cổng DVCQG là tiếp tục đưa các dịch vụ công cấp độ 3, 4 tới người dân và DN thể hiện sự công khai, minh bạch, tiết kiệm thời gian, chi phí chính thức, phi chính thức và ngăn chặn "tham nhũng vặt" theo đúng tinh thần phục vụ của Chính phủ.

Cụ thể là trong năm 2021 sẽ tích hợp, cung cấp thêm tối thiểu 20% DVCTT mức độ 3, 4 của các bộ, ngành, địa phương trên cổng, phấn đấu đạt 30% số xã cung cấp dịch vụ chứng thực bản sao điện tử làm cơ sở số hóa hồ sơ; tất cả bộ, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ hồ sơ TTHC. Một trong những yêu cầu quan trọng giúp cho việc thực hiện các DVCTT, đặc biệt là ở mức độ 4, được trọn vẹn là thanh toán trực tuyến. Văn phòng Chính phủ cũng đã đưa ra một nhiệm vụ về xây dựng Cổng DVCQG trong năm 2021 là tất cả bộ, ngành, địa phương hoàn thành việc tích hợp và triển khai cung cấp thanh toán trực tuyến phí, lệ phí với ít nhất 50% số TTHC có yêu cầu nghĩa vụ tài chính. Hệ thống thanh toán trực tuyến của Cổng DVCQG đang tích hợp thêm nhiều loại hình, đơn vị thanh toán điện tử như tài khoản, thẻ ATM, ví điện tử, ứng dụng di động..., tạo thuận tiện cho người dân, DN thanh toán cho các DVCTT. Theo báo cáo của Văn phòng Chính phủ vào cuối năm 2020, sau hơn 9 tháng triển khai, hệ thống thanh toán trực tuyến của Cổng DVCQG hiện đã có 54/63 địa phương (85,6%), 14 bộ, ngành, cơ quan (67,7%) hoàn thành kết nối và đang tiếp tục triển khai với các bộ, ngành, địa phương khác.

Chính việc kết hợp với nhau một cách nhịp nhàng, suôn sẻ thành một nền tảng giữa Cổng DVCQG với các cổng DVCTT của các ngành và các địa phương sẽ phát huy tối đa hiệu quả của Chính phủ số. Việt Nam đã bắt đầu xây dựng Chính phủ điện tử từ đầu những năm 2000 nhưng chỉ đạt kết quả khiêm tốn. Chỉ vài năm sau này, khi Chính phủ thể hiện rõ quyết tâm chuyển đổi số trước tình hình thực tiễn với ý chí chính trị được cụ thể hóa ngay từ thượng tầng kiến trúc, mọi việc đã thay đổi nhanh chóng hơn. Và có thể nói rằng trong năm 2020, khi cả Việt Nam bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 phải hạn chế tiếp xúc trực tiếp hay tới chỗ đông người, các DVCTT đã giúp cho cả bộ máy hành chính lẫn người dân khỏi bị động. (Người lao động 13/01, Phạm Hồng Phước)Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Viettel muốn xây dựng hệ thống đô thị thông minh tại Huế thành mô hình chuẩn

Ngày 12/1/2020, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Viettel Nguyễn Thanh Nam đã có buổi làm việc với Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên Huế Phan Ngọc Thọ về công tác hợp tác triển khai các giải pháp đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng tầm phát triển đô thị thông minh.

Theo ông Nguyễn Thanh Nam, Trung tâm Giám sát, điều hành đô thị thông minh (IOC) của tỉnh Thừa Thiên Huế đã được triển khai trên nền tảng giải pháp smartcity của Tập đoàn. Bên cạnh đó, Viettel đã cùng Thừa Thiên Huế triển khai các giải pháp được ứng dụng những công nghệ hiện đại 4.0 để giải quyết những vấn đề rất cụ thể của tỉnh.

Cũng theo ông Nam, hệ thống đô thị thông minh tại Huế sẽ tiếp tục được Viettel hỗ trợ mở rộng và hoàn chỉnh các giải pháp; áp dụng tối đa các nền tảng công nghệ số với mục tiêu cung cấp hệ thống này đảm bảo liên thông, không trùng lặp, có khả năng mở rộng và an toàn thông tin nhằm xây dựng mô hình chuẩn cho các địa phương khác học tập.

“Bên cạnh đó, Tập đoàn Viettel cũng mong muốn tiếp tục được hợp tác với Thừa Thiên Huế trên nhiều lĩnh vực, tập trung vào công tác chuyển đổi số, lấy Huế là địa phương để triển khai các mô hình điểm về phát triển công nghệ thông tin”, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Viettel Nguyễn Thanh Nam nhấn mạnh.

Thay mặt địa phương, Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên Huế Phan Ngọc Thọ ghi nhận, đánh giá cao các giải pháp mà Viettel đã hợp tác với tỉnh trong thời gian qua và minh chứng cho điều đó là Dự án Trung tâm IOC của tỉnh đã đạt giải cho hạng mục "Dự án thành phố thông minh sáng tạo nhất châu Á", tại Giải thưởng viễn thông châu Á - Telecom Asia Awards 2019.

Ông Phan Ngọc Thọ cũng khẳng định, Viettel là đối tác chiến lược của tỉnh trong hỗ trợ các ứng dụng, giải pháp xây dựng đô thị thông minh, chuyển đổi số. Và ông mong muốn Tập đoàn tiếp tục hỗ trợ tỉnh hoàn thiện và nâng tầm mô hình đô thị thông minh bằng các giải pháp cụ thể, có tính ứng dụng cao.

Chủ tịch tỉnh Thừa Thiên Huế cam kết, luôn sẵn sàng là địa phương để Viettel thí điểm các giải pháp mới như giải pháp trung tâm điều hành thông minh, cơ động phục vụ tiện ích cho cho công tác lãnh chỉ đạo của tỉnh; đi tiên phong trong việc phủ sóng ứng dụng 5G; nâng cấp đường truyền đáp ứng giải quyết thủ tục hành chính liên thông; chuyển đổi số ở một số lĩnh vực quan trọng như giáo dục, y tế.

“Đặc biệt, rất mong Tập đoàn Viettel giúp Huế xây dựng thương hiệu Hue-S thành mạng xã hội. Qua đó, trở thành đầu mối kết nối giữa công dân, doanh nghiệp và chính quyền trong các dịch vụ đô thị thông minh của tỉnh, hướng đến xây dựng một chính quyền phục vụ người dân tốt hơn”, Chủ tịch tỉnh Thừa Thiên Huế Phan Ngọc Thọ nhấn mạnh. (Doanhnghiepvn.vn 13/01, Viên Hữu) Về đầu trang

Bà Rịa – Vũng Tàu phấn đấu vào top 10 địa phương chuyển đổi số

Ngày 12/1, ông Trần Văn Tuấn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì cuộc họp nghe Sở TT-TT báo cáo Chương trình chuyển đổi số tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (BR-VT) đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030; Đề án phát triển đô thị thông minh (ĐTTM) tỉnh BR-VT giai đoạn 2020-2022, định hướng đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.

Mục tiêu cơ bản của Chương trình chuyển đổi số là đến năm 2025, 100% thủ tục hành chính (TTHC) được cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 và tích hợp lên cổng dịch vụ công của tỉnh; 90% dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 được cung cấp trên nhiều phương tiện truy cập khác nhau, bao gồm cả thiết bị di động; 100% giao dịch trên cổng dịch vụ công và phần mềm một cửa điện tử của tỉnh được xác thực điện tử; 100% hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan, đơn vị từ cấp tỉnh đến cấp xã thông qua sử dụng văn bản điện tử có chữ ký số, liên thông từ cấp tỉnh đến cấp xã và liên thông với hệ thống quốc gia… Chương trình nhằm hướng đến mục tiêu đưa BR-VT vào nhóm 10 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước về mức độ chuyển đổi số.

Về đề án phát triển ĐTTM, mục tiêu của tỉnh đến năm 2030, BR-VT tiệm cận được các ĐTTM trong khu vực và thế giới với 6 lĩnh vực chủ yếu: nền kinh tế thông minh; quản trị thông minh; môi trường thông minh; giao thông thông minh; cư dân thông minh; cuộc sống văn minh. Tổng kinh phí thực hiện đề án dự kiến hơn 3.200 tỷ đồng.

Sau khi nghe ý kiến đóng góp của các sở, ngành, địa phương, ông Trần Văn Tuấn yêu cầu Sở TT-TT phối hợp với các đơn vị chức năng rà soát các nội dung cụ thể, các thủ tục hành chính dịch vụ công mức độ 4 phải phù hợp với từng ngành để triển khai; phối hợp với các DN viễn thông - CNTT để đẩy nhanh tiến độ thực hiện đầu tư hạ tầng xây dựng ĐTTM… (Baobariavungtau.com.vn 12/01) Về đầu trang

Hà Nội: Thường Tín nâng mức hài lòng của người dân

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, UBND huyện Thường Tín (TP Hà Nội) quyết liệt chỉ đạo 29 xã, thị trấn xây dựng quy trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính (TTHC), tạo điều kiện thuận lợi cho người dân. Nhờ đó, những năm gần đây, chỉ số cải cách hành chính (CCHC) của huyện được nâng lên.

Trưởng phòng Nội vụ huyện Thường Tín Lê Mạnh Cường cho biết, UBND huyện xây dựng được hình ảnh chính quyền thân thiện phục vụ qua việc áp dụng trả kết quả tại nhà một số TTHC lĩnh vực Hộ tịch, như: Thủ tục đăng ký kết hôn được lãnh đạo xã trao giấy đăng ký kết hôn kèm theo Thiệp chúc mừng; trả kết quả đăng ký khai sinh tại nhà kèm theo Thư chúc mừng; trả kết quả khai tử kèm theo Điện chia buồn.

Đồng thời, lãnh đạo UBND huyện quyết liệt chỉ đạo các phòng, ban chuyên môn không tiếp nhận hồ sơ tại cơ quan mình mà trực tiếp tiếp nhận tại bộ phận một cửa đảm bảo theo đúng quy định. Những việc làm trên giúp thuận lợi cho người dân đến liên hệ giải quyết công việc với cơ quan hành chính của huyện, xã, góp phần nâng mức hài lòng của người dân.

Theo Chánh Văn phòng UBND huyện Thường Tín Nguyễn Văn Tản, để khắc phục tồn tại trong giải quyết TTHC cho cá nhân, DN, ngay từ đầu năm 2020, UBND huyện xây dựng kế hoạch, triển khai đồng bộ giải pháp nâng cao chất lượng giải quyết TTHC ở bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại một cửa liên thông cấp huyện, xã. Đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền CCHC, tổ chức tập huấn, phổ biến quy định mới trong thực hiện cơ chế một cửa, kỹ năng giao tiếp thực hiện nhiệm vụ tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả.

UBND huyện còn chỉ đạo bộ phận một cửa huyện, xã thực hiện trả kết quả TTHC qua dịch vụ bưu chính công ích. Tiến hành khảo sát, đánh giá sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước thuộc huyện trong lĩnh vực: Tư pháp, TN&MT, LĐTB&XH… Kết quả cuối năm 2020 cho thấy, trên 95% tỷ lệ người dân hài lòng đối với dịch vụ công thuộc các lĩnh vực trên.

Bên cạnh đó, huyện Thường Tín còn chỉ đạo gắn việc tiếp nhận hồ sơ, giải quyết TTHC với hoạt động kiểm soát TTHC, đảm bảo công khai, minh bạch. UBND các xã tổ chức cập nhật, rà soát, niêm yết công khai TTHC, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trực tuyến. Thời gian qua, TTHC từ cấp huyện đến xã được xây dựng quy trình nội bộ tiếp nhận và giải quyết, rút ngắn thời gian giải quyết TTHC phục vụ người dân. Nhờ đó đến nay, toàn huyện đã thực hiện được 196 TTHC mức độ 3, mức độ 4 (trong đó cấp huyện 125 TTHC, cấp xã 71 TTHC). (Kinh tế & Đô thị 13/01, Hữu Hải)Về đầu trang

Khánh Hòa: Thông qua kết quả xếp hạng cải cách hành chính năm 2020

Chiều 12-1, ông Nguyễn Tấn Tuân - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định kết quả đánh giá, xếp hạng cải cách hành chính (CCHC) tỉnh để thông qua chỉ số và xếp hạng CCHC của các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh  năm 2020.

Sau khi nghe báo cáo của tổ giúp việc và ý kiến các thành viên, ông Nguyễn Tấn Tuân thống nhất thông qua kết quả thẩm định của Hội đồng thẩm định và phương án khen thưởng. Ông giao Sở Nội vụ chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng bộ tiêu chí đánh giá mới phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ CCHC giai đoạn 2021 - 2030; trong năm 2021, khẩn trương chấn chỉnh một số tồn tại thể hiện qua kết quả chấm điểm, đặc biệt về tỷ lệ công chức cấp xã đạt chuẩn và tình trạng hợp đồng lao động làm chuyên môn, nghiệp vụ. Các cơ quan, đơn vị kiểm tra lại quy trình hoạt động của các cổng, trang thông tin điện tử để có hướng khắc phục, hoạt động tốt hơn.

Năm 2020, toàn tỉnh có 29 cơ quan, đơn vị đạt hạng tốt về CCHC, gồm 15 sở, 6 cơ quan ngành dọc, 2 UBND cấp huyện và 6 đơn vị sự nghiệp, tăng 5 cơ quan, đơn vị so với năm 2019. 11 cơ quan, đơn vị đạt hạng khá, gồm 3 sở, 6 UBND cấp huyện, 2 đơn vị sự nghiệp, giảm 8 cơ quan, đơn vị so với năm 2019. Toàn tỉnh có 4 đơn vị xếp hạng trung bình, tăng 3 đơn vị so với năm 2019 và không có đơn vị xếp hạng yếu, giảm 1 đơn vị so với năm 2019. Hội đồng thống nhất khen thưởng 40 tập thể và 55 cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác CCHC năm 2020. (Baokhanhhoa.vn 13/01, N.V) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Chủ tịch VCCI: Tư duy cũ vẫn thấp thoáng trong văn bản luật về kinh doanh

Ngày 12/1, tại hội thảo công bố báo cáo dòng chảy pháp luật kinh doanh năm 2020, Chủ tịch VCCI cho biết, trong năm qua, có 2 dòng chảy về chính sách rất mạnh mẽ.

“Thứ nhất là “dòng chảy” rất nhanh, rất kịp thời của các chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp, người dân vượt qua các khó khăn do dịch COVID-19. Thứ hai là “dòng chảy” bền bỉ, mạnh mẽ của các chính sách cải cách thể thế, thúc đẩy môi trường kinh doanh thuận lợi, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và của cả quốc gia”, ông Lộc nói.

Theo Chủ tịch VCCI các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong năm nay xuất phát từ bối cảnh đặc biệt là dịch bệnh COVID- 19. Ngay từ đầu năm, 4/3/2020, Thủ tướng đã có Chỉ thị 11 về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch COVID 19. Thực hiện Chỉ thị này, các bộ, ngành đã ban hành đến ít nhất 95 văn bản để cụ thể hoá các chính sách hỗ trợ.

Cũng trong năm 2020, dòng chảy pháp luật kinh doanh có những điểm sáng về chính sách mà cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao.

Chẳng hạn, hai nghị định thúc đẩy khởi sự kinh doanh, trong đó Nghị định 122 đã tích hợp ba quy trình đăng ký bảo hiểm xã hội, khai trình việc sử dụng lao động vào quy trình thành lập doanh nghiệp. Tổng thời gian gia nhập thị trường gồm các thủ tục này đã rút ngắn xuống còn 3 ngày làm việc. Ngoài ra, Nghị định 22 miễn lệ phí môn bài cho các doanh nghiệp mới thành lập trong năm đầu.

“Đây là hai văn bản có những cải cách rất lớn về cắt giảm chi phí khởi sự kinh doanh của các chủ thể kinh doanh, dự báo sẽ góp phần đưa Việt Nam thăng hạng mạnh mẽ về chỉ số gia nhập thị trường trong Doing Business của Ngân hàng Thế giới trong thời gian tới”, ông Lộc nói…

Tuy nhiên, theo ông Lộc, bên cạnh điểm sáng, vẫn còn tồn tại những điểm khiến cho cộng đồng doanh nghiệp quan ngại, xuất phát chủ yếu từ tư duy soạn thảo chính sách của những nhà làm luật.

Không chỉ là những văn bản được ban hành trong năm 2020, ông Lộc cho biết những quy định đã được ban hành trong các năm trước qua rà soát cũng có nhiều vấn đề.

“Chẳng hạn trong lĩnh vực mà dù đã có nhiều cải cách nhưng các quy định về gia nhập thị trường vẫn còn khá nhiều quy định về điều kiện kinh doanh còn bất cập, thủ tục hành chính phức tạp. Vẫn còn hiện tượng chồng chéo về thẩm quyền quản lý trong một số hoạt động kinh doanh”, Chủ tịch VCCI dẫn chứng.

Ông Lộc cũng nhấn mạnh một vấn đề rất quan trọng đề cập trong báo cáo, là khung khổ pháp lý nào cho nền kinh tế số. Theo Chủ tịch VCCI, dù đây là lĩnh vực rất quan trọng, đầy tiềm năng nhưng theo nhiều đánh giá, chất lượng và phản ứng chính sách của Việt Nam vẫn được xem là điểm yếu cần cải thiện.

Ước tính của Google và Temasek trong Báo cáo Kinh tế số Đông Nam Á vừa công bố cuối năm 2020, nền kinh tế số của Việt Nam năm 2020 đạt khoảng 14 tỷ USD và dự báo đến năm 2025 sẽ đạt mức 54 tỷ USD.

“Với tốc độ phát triển nhanh chóng của internet và những tiềm năng khổng lồ của môi trường này mang lại, các thể chế pháp lý của Việt Nam dường như đang chậm chân trong dòng chảy với tốc độ vũ bão này”, ông Lộc nói.

Như báo cáo đã chỉ ra, nhiều quy định quản lý thông qua điều kiện kinh doanh, cấp giấy phép cho một số hoạt động trên môi trường mạng vẫn còn nhiều bất cập; vấn đề bảo hộ tài sản trí tuệ đối với các loại tài sản trong kinh tế số vẫn chưa thực sự rõ ràng và hiệu quả; các mô hình kinh doanh dịch vụ trên kinh tế số phát triển khá nhanh nhưng chưa có biện pháp phù hợp để quản lý.

“Những rủi ro, sai lầm về chính sách có thể làm thay đổi đường đi của vốn đầu tư, sự rời bỏ của các tập đoàn lớn trong lĩnh vực công nghệ và bỏ lỡ cơ hội để Việt Nam đi nhanh trong lĩnh vực này”, ông Lộc nói. (Tienphong.vn 13/01, Nam Khánh)Về đầu trang

Bộ Y tế bãi bỏ số lượng “kỷ lục” các văn bản không còn phù hợp

TS. Nguyễn Huy Quang, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Y tế cho biết, ngày 31/12/2020, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 29/2020/ TT-BYT (Thông tư 29) đã sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 Thông tư trước đó, đồng thời bãi bỏ 28 Thông tư có các quy định đã hết hiệu lực hoặc không còn phù hợp trong tất cả các lĩnh vực quản lý của Bộ Y tế.

“Đây là lần đầu tiên Bộ Y tế ban hành một thông tư để sửa đổi, bãi bỏ một số lượng lớn “kỷ lục” các văn bản không còn phù hợp, tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp”, ông Nguyễn Huy Quang cho biết. Ước tính, Thông tư 29 này sẽ làm lợi cho các doanh nghiệp 2,4 triệu ngày công và 625 tỷ đồng mỗi năm.

Cụ thể, Thông tư 29 đã sửa đổi một số điều của 11 Thông tư trước đó về quản lý dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm, HIV theo nguyên tắc tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong giai đoạn gặp khó khăn vì đại dịch COVID-19 nhưng vẫn bảo đảm tăng cường quản lý chất lượng các mặt hàng nhập khẩu.

Đặc biệt, Thông tư 29 cho phép các doanh nghiệp được nộp các hồ sơ, tài liệu bản điện tử, chưa đủ dấu và chữ ký nhưng cung cấp đường dẫn để cơ quan quản lý tra cứu trực tuyến và hậu kiểm, thể hiện một phương thức quản lý mới, sẵn sàng ứng phó hiệu quả với những khó khăn chưa có tiền lệ do dịch bệnh. Việc xác thực hậu kiểm nhằm đảm bảo giải quyết nhanh chóng các loại thuốc phục vụ điều trị, đặc biệt là bệnh dịch nguy hiểm. Tuy nhiên, nếu hậu kiểm mà giấy tờ không đảm bảo sẽ có các biện pháp xử lý nghiêm.

Ông Chu Quốc Thịnh, Trưởng phòng Quản lý đăng ký thuốc (Cục Quản lý Dược, Bộ Y tế) cũng cho biết, Thông tư 29 đã bãi bỏ quy định chứng thực chữ ký, tên người ký, dấu cơ quan cấp, giúp hòa nhập quốc tế và đơn giản hóa giấy tờ, tài liệu tới 5.392 hồ sơ thuốc nước ngoài đã nộp theo quy định tại Thông tư 32 (từ 1/9/2019 đến nay). Bên cạnh đó, theo số liệu thống kê hồ sơ đăng ký thuốc nước ngoài đã nộp trong năm 2020, thì dự kiến có khoảng 3.500 hồ sơ đăng ký thuốc nước ngoài mỗi năm được đơn giản hóa thủ tục hành chính.

Đối với hồ sơ nộp trước 31/12/2021, việc không bắt buộc giấy chứng nhận sản phẩm dựơc (CPP) có đầy đủ các thông tin về tiêu chuẩn thành phẩm, tiêu chuẩn dược chất, nhà sản xuất dược chất dự kiến sẽ giúp hòa hợp quốc tế và đơn giản hóa giấy tờ, tài liệu cho khoảng 7.000 hồ sơ đăng ký thuốc nước ngoài.

Về giấy chứng nhận Thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP tá dược) là giấy tờ pháp lý yêu cầu phải được chứng thực, hợp pháp hóa lãnh sự được bãi bỏ cho phép tiết kiệm được số tiền hợp pháp hóa lãnh sự cho doanh nghiệp khoảng 1,4 tỷ đồng/năm. 

Với việc cho phép thay đổi nhỏ chỉ tiêu không cần thông báo (Notification) đã tiết kiệm được tiền lưu kho, bến bãi, nhập cảng cho khoảng 4.200 hồ sơ/năm do được thực hiện ngay mà không cần phải chờ 15 ngày phê duyệt của Cục Quản lý Dược như trước đây.

Đặc biệt, với việc cho phép duy trì hiệu lực số đăng ký 12 tháng cho khoảng 9.000 số đăng ký thuốc, sẽ đảm bảo sẵn sàng cung ứng cho nhu cầu điều trị, tránh tình trạng thuốc khan hiếm nên người dân phải mua giá cao.

Thông tư 29 cũng cho phép doanh nghiệp được quyền công bố tá dược, thay vì trước đây tá dược nhập khẩu về Việt Nam phải có giấy phép nhập khẩu. Điều này giúp doanh nghiệp cắt giảm thời gian, nhân lực chuẩn bị cho 115.000 hồ sơ cấp phép nhập khẩu tá dược/năm (hiện nay) do không phải làm hồ sơ cấp giấy phép nhập khẩu. (Baochinhphu.vn 12/01, Hiền Minh)Về đầu trang

Ngành TT&TT: Con người phải chuyển đổi trước

Ngành Thông tin và Truyền thông (TT-TT) chưa bao giờ có sứ mệnh lớn lao như bây giờ. Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Bộ trưởng Bộ TT-TT, nhấn mạnh như vậy tại Hội nghị tổng kết năm 2020 và triển khai nhiệm vụ năm 2021 của ngành TT-TT (tổ chức sáng 12-1), khi nói về công nghệ số, chuyển đổi số.

Lâu nay, chúng ta nói nhiều về công nghệ thông tin (CNTT). Lợi ích thì quá rõ, khỏi nói lại. Nhưng, như Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nói thì nay chúng ta đang sống trong một giai đoạn đặc biệt, thế giới thay đổi nhanh và nhân loại bước vào một không gian sống mới - một sự di chuyển vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại khi từ thế giới thực vào thế giới số. Thực tiễn ấy đầy thách thức nhưng cũng đầy cơ hội nếu chúng ta biết nắm bắt.

Nhìn nhận về lĩnh vực này, trong Nghị quyết số 52-NQ/TW (ngày 27-9-2019), Bộ Chính trị đã chỉ ra rằng "mức độ chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 của nước ta còn thấp. Thể chế, chính sách còn nhiều hạn chế và bất cập. Cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu. Quá trình chuyển đổi số quốc gia còn chậm, thiếu chủ động do hạ tầng phục vụ quá trình chuyển đổi số còn nhiều hạn chế", đồng thời khẳng định "nguyên nhân chủ quan là chính".

GS-TS Hồ Tú Bảo, Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán, khi nhìn nhận về thách thức lớn nhất của tiến trình chuyển đổi số quốc gia, đã có một bài viết trên Báo Nhân Dân, khẳng định đấy chính là tư duy và nhận thức của chúng ta. Nếu tư duy và nhận thức của từng cá nhân không thay đổi thì không thể có chuyển đổi số. Người càng có trách nhiệm cao trong bộ máy công quyền càng cần sớm nhận thức tình hình. Như vậy, vấn đề quan trọng vẫn là ở chính con người.

Gần đây, chúng ta đã có nhiều nỗ lực số hóa. Cổng dịch vụ công quốc gia do Chính phủ xây dựng khai trương (tháng 11-2019) chỉ với 8 dịch vụ, nay mới sau hơn 1 năm đã chiếm đến 39% trong tổng số gần 6.700 thủ tục hành chính ở 4 cấp chính quyền. Người dân nhanh chóng thụ hưởng sự thuận tiện của một loạt dịch vụ thiết yếu. Mới nhất là cuối năm 2020, người dân lần đầu được biết và giám sát các dịch vụ y tế, nhờ việc Bộ Y tế triển khai chuyển đổi số y tế quốc gia thông qua Cổng công khai y tế. Đấy chính là vài đơn cử minh chứng cho nỗ lực tiếp cận công nghệ số, chuyển đổi số ở nước ta.

Người Việt Nam thông minh, thừa năng lực để làm một "cuộc cách mạng" công nghệ số. Tiền để tạo hạ tầng cho công nghệ số cũng không quá thiếu thốn, nhưng nói như GS-TS Hồ Tú Bảo thì tư duy và nhận thức của chính chúng ta mới là thách thức lớn nhất. Điều này dễ thấy qua việc rất nhiều bộ - ngành, địa phương chuyển biến rất chậm trong việc ứng dụng CNTT và nỗ lực số hóa.

"Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm" - Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy cán bộ chúng ta như thế. Chúng ta cũng luôn nói về khát vọng đất nước hùng cường và thịnh vượng. Nhưng hùng cường và thịnh vượng sao nổi nếu không chịu tiếp cận những tiến bộ của nhân loại? Mà tiếp cận thì phải đều tay, quyết liệt và đồng lòng chứ cứ ì ạch, rồi nơi làm nơi không hoặc làm cho có thì rốt cuộc lại chỉ gây lãng phí. (Người lao động 13/01, Lương Duy Cường) Về đầu trang

Ngành Thanh tra: Xử lý nghiêm, ngăn chặn hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu

Ngày 12-1, tại Hà Nội, Thanh tra Chính phủ (TTCP) tổ chức hội nghị trực tuyến triển khai nhiệm vụ năm 2021 của ngành thanh tra.

Đến dự và phát biểu chỉ đạo, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, TTCP và ngành thanh tra cần bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, thủ trưởng cơ quan hành chính cùng cấp để xây dựng kế hoạch thanh tra. Kế hoạch thanh tra năm 2021 phải theo hướng bảo đảm trọng tâm, hiệu quả, tập trung thanh tra đối với những ngành, lĩnh vực nhạy cảm, dễ xảy ra tham nhũng, tiêu cực, có nhiều đơn thư khiếu nại tố cáo.

Thủ tướng đề nghị ngành thanh tra thực hiện nghiêm chỉ đạo về tiếp công dân phục vụ Đại hội XIII của Đảng và bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp; đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa Trung ương và địa phương, không để phát sinh “điểm nóng”.

Cùng với đó là tiếp tục triển khai những quy định mới về kiểm soát tài sản, thu nhập, kiểm soát xung đột lợi ích, phòng chống tham nhũng, kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý kịp thời, đồng bộ, nghiêm minh.

Trong thời gian tới, ngành thanh tra cần đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền công vụ minh bạch, liêm chính, phục vụ; kiên quyết xử lý nghiêm, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp…

Theo báo cáo của TTCP, trong nhiệm kỳ vừa qua, ngành thanh tra đã góp phần quan trọng cả trong phòng ngừa tham nhũng và trong phát hiện, xử lý tham nhũng. Năm 2020, ngành thanh tra đã chuyển cơ quan điều tra 97 vụ, 99 đối tượng; chấn chỉnh quản lý, hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật trên nhiều lĩnh vực; đồng thời kiến nghị thu hồi về ngân sách nhà nước hơn 23.000 tỷ đồng và 830ha đất. (Sài Gòn giải phóng 13/01, Đỗ Trung)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Xây dựng bộ cơ sở dữ liệu nền đất đai: Cần sự quyết liệt từ địa phương

Mặc dù Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước về đất đai như xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu đất đai, để góp phần cải cách thủ tục hành chính, tăng tính minh bạch trong quản lý đất đai - nguồn lực được xem là “trụ đỡ” cho sự phát triển.

Thế nhưng, trên thực tế, nhiều địa phương vẫn chưa thực sự vào cuộc để có được bộ cơ sở dữ liệu nền cho ngành quản lý đất đai trên cả nước.

Theo đại diện Bộ Tài nguyên và Môi trường, thời gian qua đã có nhiều nguồn lực đầu tư xây dựng hệ thống thông tin đất đai và cơ sơ dữ liệu đất đai ở nước ta, nhờ đó bước đầu hệ thống thông tin đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai đã được hình thành. Dù vậy, hạ tầng thông tin, cơ sơ dữ liệu đất đai - yếu tố cốt lõi hỗ trợ công tác chuyên môn, cải cách thủ tục hành chính, phục vụ cho việc phối, kết hợp với các bên có liên quan khác vẫn còn “vừa thiếu vừa yếu” và chưa đồng bộ, thống nhất.

Một trong những nguyên nhân là do các cơ quan quản lý nhà nước chưa có các công cụ cần thiết để thực thi chính sách pháp luật đất đai ở địa phương, đặc biệt, các công cụ để quản lý đất đai dựa trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại.

Dữ liệu đầu tư mới tập chung vào cơ sở dữ liệu địa chính, các cơ sở dữ liệu về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giá đất,… là các thành phần cấu thành cơ sở dữ liệu đất đai hoàn chỉnh chưa được đầu tư. Việc đảm bảo dữ liệu được cập nhật, chia sẻ cho các đối tượng khác nhau cùng khai thác, sử dụng còn nhiều hạn chế và chưa quan tâm, chú trọng đã phần nào giảm tính hiệu quả các nguồn lực đã đầu tư. Trong khi đó, hồ sơ đất đai chủ yếu được quản lý, sử dụng ở dạng hồ sơ giấy, khả năng tra cứu, xử lý mất nhiều thời gian, hạn chế về độ chính xác, tính đầy đủ…

Số liệu ông Võ Anh Tuấn, Giám đốc Trung tâm Dữ liệu và Thông tin đất đai (Tổng cục Quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường) đưa ra cho thấy tính đến tháng 12/2020, trên cả nước đã có 100% các đơn vị cấp huyện ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ địa chính, quản lý đất đai ở các mức độ khác nhau.

Tuy nhiên, mới có 192/707 đơn vị hành chính cấp huyện thuộc 49 tỉnh/thành phố đang vận hành, quản lý khai thác, sử dụng đồng bộ cơ sở dữ liệu đất đai để phục vụ công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn với hơn 22 triệu thửa đất và hơn 11 triệu hồ sơ.

Đến nay cũng mới chỉ có 6 tỉnh, thành phố cơ bản đã hoàn thành xây dựng việc cơ sở dữ liệu địa chính và đưa vào vận hành, khai thác theo mô hình tập trung cấp tỉnh gồm: Vĩnh Long, Đồng Nai, Đà Nẵng, Bình Dương, Bình Định, Bến Tre.

Để hoàn thành mục tiêu Chính phủ giao về triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, đại diện Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết thời gian tới sẽ tiếp tục đẩy nhanh triển khai cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia trên cơ sở tích hợp cơ sở dữ liệu đất đai cấp tỉnh và cơ sở dữ liệu đất đai cấp Trung ương, đảm bảo đưa hệ thống vào vận hành trước 7/2021; kết nối, chia sẻ dữ liệu với hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu các bộ, ngành.

Cùng với đó, ngành sẽ ứng dụng công nghệ 4.0 trong phát triển công nghệ, nghiên cứu bổ sung công nghệ mới như chuỗi, khối (Blockchain) trong giao dịch điện tử lĩnh vực đất đai; ứng dụng chuẩn giao tiếp mở giữa các cổng thông tin, thiết lập nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quản lý đất đai theo công nghệ tiên tiến thế giới; ứng dụng công nghệ dữ liệu lớn (Big data) trong thu thập, phân tích dữ liệu, hỗ trợ ra quyết định trong quản lý.

Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng sẽ nghiên cứu cung cấp dữ liệu mở cho cộng đồng doanh nghiệp trong phát triển các ứng dụng phục vụ người dân.

Về hành lang pháp lý, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ hoàn thiện và trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định về xây dựng, quản lý, vận hành và khai thác sử dụng hệ thống thông tin đất đai để làm cơ sở thống nhất triển khai giữa các bộ, ngành và các địa phương trên toàn quốc; xây dựng cơ chế thu phí cung cấp thông tin đất đai cho người dân và doanh nghiệp một cách bền vững, hiệu quả.

Ngoài ra, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng sẽ xây dựng mới cơ sở dữ liệu đất đai theo quy trình lồng ghép đối với những nơi thực hiện đo đạc, chỉnh lý biến động bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; xây dựng cơ sở dữ liệu về khung giá đất, theo từng vùng; kết nối, chia sẻ cơ sở dữ liệu đất đai phục vụ triển khai chính quyền điện tử, Chính phủ điện tử và với các cơ sở dữ liệu quốc gia khác... (TTXVN/VietnamPlus.vn 13/01, Hùng Võ)Về đầu trang

Thay đổi tư duy làm luật

Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), trong năm 2020, số luật mới hoặc sửa đổi được thông qua là 17 luật; số nghị định được ban hành là 158; số quyết định của Thủ tướng là 39; số lượng thông tư ban hành là 310. So với các năm trước, số lượng luật, nghị định, quyết định ban hành về cơ bản không có biến động lớn nhưng số lượng thông tư giảm mạnh.

Ở góc độ kinh tế, điều này cũng đồng nghĩa các văn bản dưới luật, những quy định, giấy phép con đã phần nào được gỡ bỏ, tạo điều kiện thông thoáng cho môi trường đầu tư và kinh doanh.

Thực tế cho thấy, từ khi quyền tự do kinh doanh được nhấn mạnh và thể hiện theo hướng ngày càng mở rộng trong Hiến pháp (năm 1992, 2013) cho đến các văn bản pháp luật quan trọng là nền tảng cho hoạt động kinh doanh như: Luật Doanh nghiệp (các năm 2005, 2014, 2020), Luật Đầu tư (các năm 2005, 2014, 2020), tư duy quản lý về đầu tư và kinh doanh của các nhà hoạch định chính sách đã có những bước chuyển mình đáng kể.

Cùng với đó, trong những năm qua, Chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh thông qua các đợt rà soát để cắt bỏ, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh và thủ tục hành chính. Về cơ bản, các văn bản pháp luật về đầu tư và kinh doanh được soạn thảo và ban hành đã thể hiện được đúng tinh thần cải cách, thúc đẩy môi trường đầu tư và kinh doanh mà Chính phủ đã đề ra và theo đuổi thực hiện trong những năm qua.

Song, điều này không có nghĩa các chính sách hiện tại đã hoàn hảo. Nếu nhìn nhận một cách khách quan, số lượng thông tư, “giấy phép con” giảm chưa phản ánh được hết những rào cản đang hiện hữu trong môi trường đầu tư và kinh doanh. Những rào cản ấy không chỉ cần được gỡ bỏ bằng việc cắt giảm số lượng văn bản dưới luật mà cần phải xuất phát từ việc thay đổi tư duy khi xây dựng luật.

Trong năm 2020, “tư duy cũ” vẫn thấp thoáng trong hoạt động chính sách với việc áp đặt biện pháp quản lý được cho là khắt khe, quá mức cần thiết đối với một số lĩnh vực đầu tư và kinh doanh (như lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, thẩm định giá, vận tải), can thiệp quá mức cần thiết vào thị trường (như thủ tục kê khai cước vận tải, số lượng chứng thư thẩm định giá) hoặc áp dụng cơ chế “đóng” đối với một số lĩnh vực đáng lẽ phải khuyến khích cơ chế “mở” (như kiểm định chặt chẽ thiết bị viễn thông). Bên cạnh đó, một số văn bản có quy định chưa rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu, gây khó dễ cho doanh nghiệp…

Việc sử dụng các biện pháp hành chính để can thiệp trực tiếp vào các vấn đề vốn dĩ do thị trường tự điều chỉnh đã được hạn chế khá nhiều kể từ khi Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới (năm 1986).

Hơn 30 năm qua, nhìn chung Nhà nước đã và đang cố gắng kiến tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp và chỉ áp dụng các biện pháp quản lý nếu doanh nghiệp kinh doanh những ngành nghề có thể đưa đến những tác động rủi ro cho lợi ích cộng đồng. Do đó, đối với những lĩnh vực, ngành nghề không thuộc diện có thể tác động rủi ro đến lợi ích cộng đồng, pháp luật khi xây dựng và ban hành cần theo cơ chế “mở” thay vì cơ chế “đóng” như hiện nay.

Bởi, suy cho cùng, những biện pháp quản lý theo hướng thắt chặt này không những không giải quyết được đúng bản chất vấn đề mà còn tạo ra gánh nặng cho doanh nghiệp, cản trở môi trường đầu tư, đi ngược lại những nỗ lực chung của Nhà nước trong hàng chục năm qua. (Sài gòn giải phóng 13/01, Lưu Thủy)Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

Twitter - Công cụ điều hành đất nước chưa có tiền lệ của Tổng thống Trump

Tổng thống Mỹ Trump đã có một nhiệm kỳ với nhiều điều chưa từng có tiền lệ, trong đó, nổi bật nhất là cung cách điều hành đất nước của ông.

Điển hình như việc ông Trump thường xuyên dùng mạng xã hội để liên tục bày tỏ chính kiến và là nơi đầu tiên để thông báo những quyết định từ lớn đến nhỏ. Tài khoản mạng xã hội Twitter của ông Trump có khoảng 90 triệu người theo dõi. Do đó, việc Twitter quyết định đình chỉ vĩnh viễn công cụ vận hành chính phủ này của Tổng thống Mỹ Donald Trump vừa qua được xem là sự kiện chấn động lịch sử truyền thông chính trị Mỹ.

Các Tổng thống Mỹ trước đây thường truyền đi thông điệp của mình trên truyền hình. Tuy nhiên, dưới thời Tổng thống Trump, muốn biết diễn biến mới nhất của ông trên chính trường thì hãy lên mạng xã hội Twitter. Trong suốt nhiệm kỳ 4 năm qua, ông Trump đã dùng các dòng tweet ngắn gọn để thông báo các quyết sách quan trọng, khích lệ hoặc làm chao đảo thị trường. Ông truyền thông điệp trực tiếp tới công chúng mà không cần sự diễn giải của báo chí.

Những dòng tweet của ông Trump ảnh hưởng tới thị trường toàn cầu thường xuyên đến mức các nhà phân tích tại các tập đoàn tài chính phải tạo ra một chỉ số nhằm đo lường mức độ biến động các dòng tweet của ông gây ra với thị trường.

Thông báo của Twitter đình chỉ tài khoản của Tổng thống đương nhiệm là một động thái gây tranh cãi gay gắt. Mạng xã hội này thông báo đóng tài khoản này vì rủi ro gây ra thêm các vụ kích động bạo lực. Tuy nhiên, không ít ý kiến phản bác cho rằng, Twitter đã chính trị hóa hành động của mình.

"Thật khó để quyết định ai là cảnh sát trong vụ việc này. Twitter là công ty tư nhân nhưng lại có rất nhiều ảnh hưởng trên thế giới. Cách họ sử dụng các quyền của mình luôn tạo ra những sự bấp bênh" - ông Chaim Siegel từ công ty tư vấn Elazar Advisors tại Mỹ cho biết.

Sau khi bị Twitter đình chỉ tài khoản cá nhân, ông Trump đã sử dụng tài khoản chính thức của Tổng thống Mỹ đăng tải nội dung cho biết, ông sẽ không im lặng và có thể sẽ tạo ra một nền tảng mạng xã hội của riêng mình trong thời gian tới. Dòng Tweet này đã bị xóa đi sau đó. (Vtv.vn 12/01)Về đầu trang./.

 

Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.020.670 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này