Bản tin cải cách hành chính ngày 25/01/2022

Font size : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1. Bình Định đo lường mức độ hài lòng của dân với cán bộ, công chức

2. Bà Rịa-Vũng Tàu: Đánh giá mức độ hài lòng người nộp thuế bằng phương thức điện tử

3. An Giang: Huyện Tịnh Biên nâng chất cải cách hành chính

4. Sở Xây dựng Bắc Ninh đẩy mạnh cải cách hành chính

5. Chi cục Thuế TP Hạ Long: “Phủ sóng” hoá đơn điện tử

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

6. Sớm hình thành Bộ chỉ số năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch quốc gia

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

7. Chủ tịch Quảng Ngãi đề nghị Bộ Tài chính thưởng 158 tỷ vượt thu ngân sách

BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

8. Cần bao nhiêu cấp phó trong cơ quan hành chính nhà nước?

TIN THẾ GIỚI

9. Quan tham Trung Quốc hé lộ cách thức “dùng quyền đổi tiền”

 

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Bình Định đo lường mức độ hài lòng của dân với cán bộ, công chức

Ngày 24/1, UBND tỉnh Bình Định ban hành Đề án "Đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình Định giai đoạn 2022 - 2025".

 

Theo ông Lâm Hải Giang - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định, mục tiêu chung của đề án đo lường sự hài lòng nhằm đánh giá khách quan, trung thực về chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công của các cơ quan hành chính nhà nước, đảm bảo phấn đấu đến năm 2025 đạt từ 90% trở lên người dân, tổ chức hài lòng đối với sự phục vụ của các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh.

 

Để đạt được các mục tiêu đó, ông Lâm Hải Giang cho rằng, phương pháp đo lường sự hài lòng phải bảo đảm tính khoa học, thống nhất, khả thi, dễ áp dụng, phù hợp với điều kiện nguồn lực của tỉnh và các địa phương triển khai thực hiện.

 

Bộ câu hỏi điều tra xã hội học phải phù hợp với hệ thống tiêu chí, tiêu chí thành phần; dễ hiểu, dễ trả lời; phù hợp với trình độ dân trí của đối tượng điều tra xã hội học.

 

Kết quả đo lường sự hài lòng phải đảm bảo tính tin cậy, chính xác, được công bố kịp thời, rộng rãi nhằm giúp các cơ quan hành chính nhà nước xác định được các giải pháp khắc phục những tồn tại, hạn chế và cải thiện chất lượng phục vụ, nâng cao sự hài lòng của người dân, tổ chức.

 

Ông Lâm Hải Giang cho biết thêm, các thủ tục hành chính, sẽ đánh giá các yếu tố liên quan đến việc niêm yết công khai, minh bạch, chính xác, đầy đủ về thủ tục hành chính; về thực hiện hồ sơ, thời hạn giải quyết theo đúng quy định và công khai của các loại phí, lệ phí của dịch vụ mà người dân, tổ chức phải thực hiện.

 

Về công chức, viên chức, nhân viên, sẽ đánh giá các yếu tố liên quan đến khả năng đáp ứng thể hiện sự nhiệt tình, lịch sự, hòa nhã, trách nhiệm của cán bộ công chức, viên chức khi tiếp nhận hồ sơ, trả lời, giải đáp đầy đủ các ý kiến của người dân…

 

Theo đề án, báo cáo kết quả đo lường sự hài lòng phải hoàn thành trước ngày 31/12 hàng năm. Dự kiến số lượng phiếu tiến hành khảo sát hằng năm từ 5.000 phiếu trở lên. Đối tượng tham gia khảo sát là người dân, người đại diện cho tổ chức đã trực tiếp giao dịch và nhận kết quả cung ứng dịch vụ hành chính công. Căn cứ vào số lượng người dân, tổ chức đã giao dịch và nhận kết quả dịch vụ hành chính công để chọn mẫu điều tra hàng năm. (Dantri.com.vn 24/01, Doãn Công)Về đầu trang

Bà Rịa-Vũng Tàu: Đánh giá mức độ hài lòng người nộp thuế bằng phương thức điện tử

Tin từ Cục Thuế tỉnh cho biết, để nâng cao chất lượng phục vụ người nộp thuế (NNT) ngày càng tốt hơn, từ tháng 1/2022, Cục Thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu triển khai phương thức điện tử đối với phiếu thu thập ý kiến đánh giá của NNT khi thực hiện thủ tục hành chính (TTHC) trong lĩnh vực thuế  tại đơn vị (không bao gồm về giải quyết hồ sơ, TTHC tại Chi cục Thuế).

 

Theo đó, NNT nộp hồ sơ giải quyết TTHC thuế trực tiếp tại bộ phận một cửa văn phòng Cục Thuế thực hiện quét mã QR trên phiếu hẹn trả kết quả khi nhận hồ sơ trả kết quả giải quyết TTHC thuế trực tiếp tại bộ phận một cửa để truy cập vào phiếu thu thập ý kiến đánh giá điện tử. Sau đó, gửi ý kiến đánh giá đến cơ quan Thuế bằng phương thức điện tử.

 

Đối với NNT nộp hồ sơ giải quyết TTHC thuế qua hệ thống eTax hoặc qua đường bưu chính, chọn đường link (https://forms.gle/jpxsHLQQqRAcg6zS7) hoặc quét mã QR trên website Cục Thuế nếu có thực hiện TTHC thuế qua hệ thống eTax qua đường bưu chính để truy cập vào phiếu thu thập ý kiến đánh giá điện tử. Sau đó, gửi ý kiến đánh giá đến cơ quan Thuế bằng phương thức điện tử.

 

Nội dung phiếu thu thập ý kiến đánh giá của NNT gồm các câu hỏi về môi trường, điều kiện vật chất phục vụ của Văn phòng Cục Thuế; việc công khai quy trình, thủ tục, biểu mẫu hành chính của Văn phòng Cục Thuế; thái độ ứng xử của công chức hướng dẫn, tiếp nhận hồ sơ; thái độ ứng xử của công chức giải quyết TTHC; số lần phải bổ sung hồ sơ sau khi đã nộp hồ sơ lần đầu và có biên nhận/phiếu hẹn; thời gian trả hồ sơ so với phiếu hẹn/thời gian hẹn; mức độ hài lòng về kết quả giải quyết TTHC; sự phù hợp với quy định pháp luật của kết quả giải quyết TTHC và chi phí phát sinh ngoài quy định pháp luật khi thực hiện TTHC… (Baobariavungtau.com.vn 24/01, Phan Hà)Về đầu trang

An Giang: Huyện Tịnh Biên nâng chất cải cách hành chính

Thời gian qua, huyện Tịnh Biên (tỉnh An Giang) nỗ lực thực hiện công tác cải cách hành chính (CCHC), đạt nhiều kết quả tích cực. Trong đó, huyện miền núi này đặc biệt quan tâm đến mục tiêu xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dịch vụ hành chính công.

 

Phó Chủ tịch UBND huyện Tịnh Biên Lâm Văn Bá thông tin, theo chỉ đạo của UBND tỉnh, huyện ban hành Kế hoạch 21/KH-UBND về CCHC năm 2021 và đề ra nhiệm vụ cụ thể. Trong đó, tập trung vào cải cách thủ tục hành chính (TTHC); xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; cải cách tài chính công; hiện đại hóa nền hành chính... Đến nay, các cơ quan, ban, ngành toàn huyện hoàn thành 30/30 đầu công việc đề ra.

 

Trong mục tiêu xây dựng chính quyền điện tử, UBND huyện ban hành Kế hoạch 163/KH-UBND về ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động của cơ quan nhà nước năm 2021. Đến nay, tất cả phòng, ban chuyên môn, đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND huyện, đoàn thể và UBND xã, thị trấn trên địa bàn huyện hoàn thành 50% kế hoạch đề ra.

 

Về triển khai ứng dụng công nghệ thông tin tại cơ quan, đơn vị, đã có 100% cơ quan cấp huyện, xã ứng dụng hiệu quả phần mềm quản lý văn bản và chỉ đạo điều hành (iOffice) có sử dụng chữ ký số; 100% văn bản đến, đi được trao đổi trên phần mềm; 100% cơ quan, ban, ngành, đoàn thể huyện và UBND xã, thị trấn sử dụng hiệu quả hệ thống thư điện tử của tỉnh; đảm bảo 100% thiết bị, đường truyền và bố trí cán bộ trực phòng họp trực tuyến khi có cuộc họp; bảo quản, vận hành phòng họp trực tuyến cấp huyện, xã…

 

Theo ông Lâm Văn Bá, UBND huyện Tịnh Biên xây dựng Kế hoạch phát triển hạ tầng số đáp ứng nhu cầu triển khai chính quyền điện tử, chính quyền số năm 2022. Hiện nay, huyện bước đầu triển khai nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu cấp tỉnh (LGSP) kết nối hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu trong nội bộ ngành, địa phương và kết nối với nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia, phát triển hệ thống thông tin báo cáo của tỉnh, kết nối với hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ. Địa phương dự kiến tổ chức tập huấn trong năm 2022 để thực hiện hiệu quả hơn.

 

Hiện nay, huyện Tịnh Biên cung cấp dịch vụ công trực tuyến, với 240 TTHC cấp huyện (87 thủ tục mức độ 3 và 153 thủ tục mức độ 4). Với cấp xã, có 10 thủ tục mức độ 3 và 34 thủ tục mức độ 4 được thực hiện. Đồng thời, hệ thống phần mềm “một cửa” từ tỉnh, huyện, xã thông suốt trong việc tra cứu và gửi hồ sơ.

 

Đến nay, huyện có 100% đơn vị cấp xã triển khai ứng dụng phần mềm “một cửa”. Được sự quan tâm chỉ đạo của Huyện ủy, UBND huyện Tịnh Biên nên công tác CCHC đạt được kết quả khá tốt, đáp ứng kịp thời nguyện vọng của nhân dân. Các nhiệm vụ tỉnh giao trong kế hoạch CCHC năm 2021 đều được triển khai tốt và hoàn thành đúng thời gian quy định.

 

Trong năm 2021, cơ chế "một cửa" ổn định ở cấp huyện và cấp xã. Đây là nỗ lực rất lớn của địa phương để thực hiện yêu cầu công khai, minh bạch và công bằng trong giải quyết TTHC liên quan đến công dân. Lãnh đạo UBND các cấp giám sát, quan tâm kiểm tra giải quyết TTHC, nhằm tránh tình trạng quan liêu, tham nhũng, uốn nắn kịp thời hành vi thiếu tôn trọng, gây phiền hà cho người dân. Các mô hình, sáng kiến hay được áp dụng rộng rãi trên địa bàn huyện, mang lại sự hài lòng cao cho người dân. (Baoangiang.com.vn 24/01, Thanh Tiến)Về đầu trang

Sở Xây dựng Bắc Ninh đẩy mạnh cải cách hành chính

Năm 2021, Sở Xây dựng duy trì việc công bố và niêm yết công khai bộ thủ tục hành chính (TTHC) thuộc thẩm quyền giải quyết của ngành; cập nhật đầy đủ các nội dung về TTHC lên Hệ thống thông tin chính quyền điện tử tỉnh; tiếp tục thực hiện nhiều giải pháp cải cách hành chính (CCHC) ... Với sự nỗ lực của các bộ phận, Sở Xây dựng đứng thứ 2 về CCHC trong khối cơ quan thuộc UBND tỉnh...

 

Cụ thể, ngành Xây dựng đã nâng cao hiệu quả các TTHC được thực hiện theo hình thức dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4. Hiện nay, Sở Xây dựng có 54 thủ tục hành chính tương ứng với 54 dịch vụ công trực tuyến; trong đó có 48 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và mức độ 4. Trong năm, Sở Xây dựng phối hợp với Văn phòng UBND tỉnh, Sở Thông tin và truyền thông thực hiện tích hợp được 45 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 của Sở Xây dựng lên Cổng Dịch vụ công Quốc gia nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, công dân thực hiện các dịch vụ công trực tuyến tại Sở Xây dựng. Tổ chức thực hiện có hiệu quả Đề án thực hiện cơ chế “5 tại chỗ” và quy trình điện tử trong quá trình giải quyết TTHC tại bộ phận một cửa các cấp.

 

Kết quả giải quyết TTHC trong năm 2021, Sở Xây dựng nhận tổng số 1584 hồ sơ, trong đó hồ sơ nộp trực tuyến mức độ 3 là 1142 hồ sơ (đạt tỷ lệ 72,1%), hồ sơ nộp trực tiếp là 442 hồ sơ (đạt tỷ lệ 27,9%). Đã giải quyết xong 1505 hồ sơ; trong đó giải quyết sớm là 1426 hồ sơ (đạt tỷ lệ 94,75%), đúng hạn là 79 hồ sơ (đạt tỷ lệ 5,25%), không có tình trạng chậm thời gian giải quyết theo quy định. Qua đó, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư xây dựng; bảo đảm tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, thu hút các nhà đầu tư, góp phần hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021 của tỉnh. (baobacninh.com.vn 24/01, Đức Anh)Về đầu trang

Chi cục Thuế TP Hạ Long: “Phủ sóng” hoá đơn điện tử

Sau khi hoàn thành việc triển khai hóa đơn điện tử cho 100% các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố, ngay trong tháng 12/2021, Chi cục Thuế TP Hạ Long đã đẩy mạnh việc triển khai hóa đơn điện tử đến các hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai. Chỉ sau hơn 1 tháng tích cực triển khai, 100% các hộ kinh doanh đã đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử.

 

So với các địa phương khác trong tỉnh, Chi cục Thuế TP Hạ Long là đơn vị quản lý nhiều đối tượng nộp thuế lớn nhất, chiếm khoảng 45% số lượng doanh nghiệp, hộ, cá nhân kinh doanh trên địa bàn tỉnh (gần 3.200 doanh nghiệp, hộ, cá nhân kinh doanh). Vì vậy, việc hoàn thành chỉ tiêu hóa đơn điện tử của Chi cục sẽ đóng góp rất lớn vào thành công chung của toàn tỉnh.

 

Tuy nhiên, việc triển khai đăng ký hóa đơn điện tử tại các hộ cá nhân kinh doanh lại khó khăn hơn so với các doanh nghiệp. Lý do là hiện nay không ít người trên 60 tuổi vẫn làm chủ hộ kinh doanh, kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin thấp, tâm lý ngại thay đổi. Chưa kể qua rà soát cho thấy, đa số đều là các hộ kinh doanh nhỏ lẻ, không có chuyên môn nghiệp vụ về kế toán, không có máy tính...

 

Ông Vũ Bắc Long, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thuế TP Hạ Long, cho biết: Với những đặc thù này đòi hỏi đơn vị phải có những giải pháp linh hoạt hơn nhưng phải đảm bảo đơn giản, dễ sử dụng nhất. Giải pháp hàng đầu mà chúng tôi triển khai quyết liệt là đẩy mạnh tuyên truyền để người nộp thuế nắm được chủ trương thực hiện hóa đơn điện tử của ngành. Từ đó hiểu và đồng thuận cùng cơ quan Thuế chuyển đổi.

 

Song hành cùng công tác tuyên truyền, vận động, đầu tháng 12/2021, Chi cục Thuế TP Hạ Long cũng đã giao kế hoạch đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử đối với hộ, cá nhân kinh doanh cho các đội thuế liên phường. Trên cơ sở kế hoạch được giao các đội thuế thực hiện giao chỉ tiêu đến từng công chức và từng công chức lập danh sách chi tiết đến từng hộ, cá nhân kinh doanh. Với danh sách được giao, đội kê khai, kế toán thuế và tin học của Chi cục đã chủ trì phối hợp với các đội thuế liên phường làm việc với các nhà cung cấp giải pháp để tổ chức hội nghị triển khai, hướng dẫn sử dụng hóa đơn điện tử cho gần 800 hộ, cá nhân kinh doanh.

 

Hàng  ngày, Chi cục Thuế thành phố đều yêu cầu các đội quản lý thuế liên phường phải nắm bắt số lượng hộ, cá nhân kinh doanh đã đăng ký sử dụng dịch vụ, tiến độ cài đặt ứng dụng của nhà cung cấp; bố trí cán bộ trực 24/24h để hỗ trợ giải quyết vướng mắc cho người nộp thuế trong quá trình tạo lập, xuất hóa đơn điện tử. Nhờ cách làm này, trong quá trình thực hiện, Chi cục Thuế TP Hạ Long đã nhận được sự đồng thuận, hưởng ứng tích cực từ người nộp thuế. (Baoquangninh.com.vn 25/01, Hoàng Nga)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Sớm hình thành Bộ chỉ số năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch quốc gia

Các nhà quản lý, chuyên gia cho rằng, cần sớm hình thành Bộ chỉ số năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch cấp quốc gia để ngành kinh tế xanh Việt Nam tự mình đánh giá tốt hơn.

 

Chia sẻ về kết quả VTCI 2021 cho 15 tỉnh, thành phố tại Việt Nam, ông Hoàng Nhân Chính, Trưởng ban Thư ký Hội đồng Tư vấn du lịch Việt Nam (TAB) cho biết, với sự hỗ trợ của TAB và Ban IV, các chuyên gia của dự án do Liên minh châu Âu (EU) tài trợ đã nghiên cứu và đánh giá kỹ năng lực cạnh tranh về du lịch của 15 tỉnh, thành phố của Việt Nam dựa trên những tiêu chí khác nhau. Mục đích của dự án VTCI là xếp hạng năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Việt Nam nhằm xây dựng định hướng cho phát triển du lịch trong tương lai.

 

Năng lực cạnh tranh du lịch của 15 tỉnh, thành phố gồm: Đà Nẵng, Quảng Ninh, Khánh Hòa, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Hà Nội, Quảng Bình, TP.HCM, Kiên Giang, Ninh Bình, Bình Định, Lâm Đồng, Lào Cai, Bình Thuận, Cần Thơ, được đo lường qua 4 nhóm tiêu chí là: tạo dựng môi trường (25%), chính sách và điều kiện cho du lịch (25%), hạ tầng du lịch (25%), tài nguyên tự nhiên và văn hoá (25%); 12 trụ cột bao gồm 71 chỉ số được tính toán trên cơ sở dữ liệu từ cuộc khảo sát và các nguồn thông tin; thang điểm 1-7. Theo đó, Đà Nẵng đứng đầu (4,7 điểm), tiếp theo là Quảng Ninh (4,68 điểm), Khánh Hòa (4,56 điểm), Quảng Nam (4,55 điểm), Thừa Thiên Huế (4,52).

 

Ông Kai Partale, chuyên gia dự án EU chia sẻ: “VTCI là một công cụ để điểm đến du lịch nâng cao năng lực cạnh tranh một cách có mục tiêu, để kiểm soát việc đạt được các mục tiêu đó và hoạch định các biện pháp hữu hiệu nhằm phát triển du lịch mạnh mẽ hơn”.

 

VTCI được xây dựng trên một hệ thống gồm hơn 70 chỉ số đánh giá các khía cạnh khác nhau liên quan tới năng lực cạnh tranh du lịch. Phương pháp tiếp cận của hệ thống dựa trên các chỉ số Năng lực cạnh tranh du lịch và lữ hành (TTCI) của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF). Theo đó, hệ thống được điều chỉnh và bổ sung các chỉ số lựa chọn phù hợp với đặc thù của Việt Nam, tạo cơ sở cho việc so sánh năng lực cạnh tranh du lịch giữa các tỉnh.

 

Ông Trần Trọng Kiên, Chủ tịch TAB cho biết: “Đây chính là thời điểm cần thiết để phân tích và đánh giá chỉ số năng lực cạnh tranh các điểm đến du lịch. Đặc biệt là hiện tại, khi ngành du lịch đang phải trải qua những thách thức chưa có tiền lệ thì điều quan trọng là phải đặt ra hướng đi phù hợp cho tương lai. Với ý nghĩa đó, VTCI là công cụ quan trọng trong lộ trình phát triển”.

 

Ông Trương Gia Bình, Phó chủ tịch Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ, Trưởng ban Ban IV khẳng định những lợi ích thiết thực của VTCI: “Kết quả chỉ số năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch giúp các tỉnh, thành phố có cơ sở khoa học để định hướng phát triển du lịch, nhằm đạt được các mục tiêu dựa trên những nguyên tắc cơ bản là đối thoại với các bên liên quan”.

 

Vấn đề mấu chốt được nhận định tại thời điểm này là việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng VTCI phải đảm bảo tính bền vững. Về vấn đề này, đại diện Phái đoàn Liên minh châu Âu đưa ra khuyến nghị cần phải giao trách nhiệm cho một đơn vị có tư cách được thừa nhận và độc lập, đảm bảo có đủ tính minh bạch và đáng tin cậy để đại diện cho ngành du lịch tiếp tục thực hiện dự án VTCI.

 

Theo ông Hoàng Nhân Chính, năm 2019, lần đầu tiên VTCI được nghiên cứu thí điểm tại 5 điểm đến du lịch trên cả nước và công bố tại Diễn đàn Cấp cao du lịch và lữ hành Việt Nam (trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Việt Nam ViEF). VTCI có tiềm năng thay đổi cách thức hoạt động của các điểm đến trong chiến lược phát triển và quản lý du lịch, tuy nhiên, cũng như đối với bất kỳ dự án khởi nghiệp mới nào, hệ thống mới đang trong giai đoạn ươm tạo và sẽ cần sự cố vấn và hỗ trợ liên tục.

 

Do đó, các chuyên gia đề xuất TAB giữ vai trò liên lạc thường xuyên với Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch thông qua mạng lưới các đại diện tích cực thuộc khối doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cần đào tạo và hỗ trợ thêm để đảm bảo VTCI được mở rộng đến tất cả các điểm đến du lịch ở Việt Nam.

 

Ở góc độ cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng nhận định, kết quả VTCI 2021 sẽ làm rõ hơn những tiềm năng, thế mạnh, hạn chế cần khắc phục của các địa phương để phát triển du lịch một cách căn cơ, bài bản, khách quan, minh bạch. Qua đó, góp phần hỗ trợ cho công tác tham mưu, quản lý nhà nước về du lịch của Bộ được tốt hơn.

 

Bộ trưởng Nguyễn Văn Hùng cho rằng: “Nên sớm hình thành Bộ chỉ số năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch cấp quốc gia để có thể tự mình đánh giá tốt hơn về điểm đến và năng lực cạnh tranh của mình, chứ không phải như lâu nay, chỉ dựa vào kết quả điều tra, nghiên cứu của Diễn đàn Kinh tế thế giới WEF”. (Baodautu.vn 24/01, Hồ Hạ)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Chủ tịch Quảng Ngãi đề nghị Bộ Tài chính thưởng 158 tỷ vượt thu ngân sách

Chiều 24/1, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ngãi thông tin, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Đặng Văn Minh vừa có tờ trình đề nghị Bộ Tài chính xem xét, thưởng vượt thu ngân sách nhà nước năm 2021 cho tỉnh Quảng Ngãi.

 

Theo ông Đăng Văn Minh, năm 2021, tổng dự toán thu nội địa Bộ Tài chính giao cho tỉnh Quảng Ngãi là 11.004,7 tỷ đồng. Trong đó, thu ngân sách Trung ương được hưởng từ các khoản thu phân chia giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương là 1.037,032 tỷ đồng.

 

Kết quả, tổng thực hiện thu nội địa năm 2021 của tỉnh Quảng Ngãi là 15.294,365 tỷ đồng. Trong đó, thu ngân sách Trung ương được hưởng từ các khoản thu phân chia giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương là 1.566,472 tỷ đồng.

 

Số vượt thu ngân sách Trung ương được hưởng từ các khoản thu phân chia giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương thực hiện so với dự toán năm 2021 của tỉnh Quảng Ngãi là 529,440 tỷ đồng.

 

"Căn cứ các quy định, UBND tỉnh Quảng Ngãi đề nghị Bộ Tài chính xem xét, thưởng vượt thu ngân sách nhà nước năm 2021 cho tỉnh Quảng Ngãi là 158,832 tỷ đồng (30% số vượt thu phần ngân sách Trung ương được hưởng từ các khoản thu phân chia giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương thực hiện so với dự toán năm 2021 của tỉnh Quảng Ngãi)", ông Minh thông tin.

 

Ông Minh cho biết, năm 2021, Quảng Ngãi cũng gặp rất nhiều khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, với tinh thần dám nghĩ dám làm cùng với sự chung sức, đồng lòng, chia sẻ và tham gia tích cực của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, kinh tế - xã hội của tỉnh đạt được những kết quả nhất định.

 

Lĩnh vực kinh tế, Quảng Ngãi đạt mức tăng trưởng 6,05%, dẫn đầu khu vực duyên hải miền Trung, đứng thứ 26 các tỉnh, thành trong cả nước, quy mô kinh tế đứng thứ 22.

 

Quảng Ngãi thực hiện đạt và vượt kế hoạch 16/24 chỉ tiêu năm 2021. Trong đó, đáng chú ý, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14%; kim ngạch xuất khẩu tăng 19,3%; thu ngân sách hơn 24.000 tỷ đồng; giải ngân vốn đầu tư công đạt kết quả rất cao so bình quân chung của cả nước (99,7% kế hoạch vốn ngân sách Trung ương và 99,8% kế hoạch vốn ngân sách tỉnh), là năm có tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công cao nhất trong những năm qua.

 

Theo ông Minh, hiện nay, một trong những điều kiện thuận lợi của Quảng Ngãi là dư địa trong phát triển của tỉnh còn khá nhiều đối với lĩnh vực thương mại, dịch vụ, du lịch, bất động sản, khai thác hạ tầng khu công nghiệp.

 

Đây sẽ là động lực tăng trưởng cho nhiều ngành kinh tế và là điều kiện thuận lợi để nhân dân và doanh nghiệp đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh.

 

Năm 2022 Quảng Ngãi phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân 5-6%; GRDP bình quân đầu người khoảng 3.280 USD; phấn đấu thu ngân sách vượt mức chỉ tiêu Trung ương giao trên 10%. (Baogiaothong.vn 25/01, Đại Thắng)Về đầu trang

BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Cần bao nhiêu cấp phó trong cơ quan hành chính nhà nước?

Bàn về số lượng cấp phó trong cơ quan hành chính nhà nước ( CQHCNN ) ở nước ta là một chủ đề hay, có vẻ còn lâu mới có hồi kết. Nói như vậy vì mấy chục năm qua đã có khá nhiều văn bản pháp luật quy định về vấn đề này.

 

Mới đây, Bộ Nội vụ lại có công văn gửi các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về việc sửa đổi, bổ sung số lượng cấp phó trong các cơ quan, tổ chức hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập. Có thể nói công văn này là một nỗ lực trong cố gắng tìm cách giảm bớt cấp phó đang có vẻ quá nhiều tiến tới bố trí đúng số lượng cấp phó tại các CQHCNN.

 

Thực tế cho thấy số lượng cấp phó đã là vấn đề có tính lịch sử trong nền hành chính nước ta kể từ 1946 đến nay. Số lượng cấp phó cứ tăng dần và rồi buộc phải nghĩ đến việc giảm bớt cấp phó. Vào năm 1987, Hội đồng bộ trưởng tức Chính phủ có tới 15 Phó Chủ tịch HĐBT, trong khi hiện tại vào năm 2022 qua bao nỗ lực cải cách, Chính phủ chỉ còn 4 Phó Thủ tướng. Đừng nghĩ còn 4 Phó TT là việc quá đơn giản, bởi cũng mất hơn chục năm mới có thể từ 5 Phó TT giảm xuống 4 như hiện nay.

 

Rồi đến cấp phó cho bộ trưởng. Từ nhiều năm nay đã chốt cứng các bộ "bình thường" chỉ có tối đa 5 thứ trưởng. Riêng các Bộ Quốc phòng, Công an, Ngoại giao có ngoại lệ. Thử xem  các bộ bên tây có bao nhiêu thứ trưởng, cũng chỉ 1 vị phó cho bộ trưởng? Không hoàn toàn là như vậy. Số liệu vào các năm 2017-2019  về số lượng thứ trưởng tại một số bộ ở vài nước sau đây sẽ cho thấy rõ vấn đề này.

 

Bộ Giao thông Anh quốc, ngoài bộ trưởng còn có 6 vị cấp phó với các chức danh là 2 Bộ trưởng nhà nước, 3 thứ trưởng nghị viện và 1 thứ trưởng thường trực. Bộ Kinh doanh, Năng lượng và Chiến lược công nghiệp Anh ngoài bộ trưởng có 2 bộ trưởng nhà nước, 3 thứ trưởng nghị viện và 1 thứ trưởng thường trực.

 

Ở Nhật, Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Ngư nghiệp cấp phó có 2 Bộ trưởng nhà nước, 2 thứ trưởng nghị viện và 2 thứ trưởng khác. Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật ngoài bộ trưởng có 2 Bộ trưởng nhà nước, 2 thứ trưởng nghị viện và 3 thứ trưởng khác.

 

Bộ Liên bang về Nội vụ, Xây dựng và Quê hương Đức lãnh đạo là 9, bao gồm Bộ trưởng, 3 thứ trưởng nghị viện và 5 thứ trưởng khác…

 

Thế ra số lượng thứ trưởng ở một số nước còn nhiều hơn cả ở ta. Tuy nhiên, xét một cách tổng thể thì cấp phó trong bộ máy của ta vẫn là quá nhiều. Ngoài chức danh phó, ví dụ phó trưởng phòng, phó giám đốc sở, phó vụ trưởng, sau này một số cơ quan ở trung ương còn "sáng tạo" ra thêm chức danh "hàm". Nói một cách cụ thể hơn một vụ ngoài vụ trưởng sẽ có phó vụ trưởng, hàm vụ trưởng, hàm phó vụ trưởng.

 

Vậy các quy định pháp luật về cấp phó như thế nào?

 

Phương pháp thứ nhất được sử dụng là quy định cứng luôn loại cơ quan nào thì có bao nhiêu cấp phó. Theo cách này thì: Bộ có tối đa không quá 5 thứ trưởng. Riêng Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Bộ Ngoại giao tối đa là 6 thứ trưởng; Tổng cục và tương đương thuộc bộ không quá 4 phó; Vụ, cục và tương đương không quá 3 phó; Sở không quá 3 phó…

 

Nhiều địa phương phàn nàn có sở nhiều việc mà chốt cứng chỉ 3 phó là không phù hợp, rồi Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh mà cứng chỉ tối đa không quá 3 phó một sở cũng là bất cập… Thế là lại sửa quy định cứng, nhưng linh hoạt theo cách là bình quân 3 phó một sở, nhưng bố trí sở này 1 hay 2 phó, sở kia 4 hay 5 phó là quyền của tỉnh miễn không vượt quá tổng số phó theo quy định cứng mỗi sở tối đa là 3. Riêng Hà Nội và Thành phố HCM được thêm 10 phó.

 

Bên cạnh phương pháp thứ nhất chốt cứng còn áp dụng phương pháp thứ hai tính theo đầu biên chế, ví dụ như: Vụ thuộc tổng cục có từ 15 đến 20 biên chế công chức không quá 2 phó; có trên 20 biên chế không quá 3 phó. 

 

Phòng thuộc cục thuộc bộ có từ 7-9 biên chế công chức được bố trí 1 phó; có từ 10- 15 biên chế được bố trí  không quá 2 phó; có từ 16 biên chế trở lên không quá 3 phó.

 

Phòng thuộc chi cục thuộc cục thuộc bộ có từ 5-7 biên chế công chức được bố trí 1 phó; có từ 8 biên chế công chức trở lên được bố trí  không quá 2 phó…  

 

Lại còn một phương pháp nữa tính số lượng phó theo số lượng tổ chức, ví dụ như: Chi cục thuộc cục thuộc bộ có từ 1-3 phòng được bố trí 1 phó; có từ 4 phòng trở lên được bố trí không quá 2 phó; Chi cục thuộc cục thuộc bộ không có phòng được bố trí không quá 2 phó….

 

Từ các quy định hiện hành với 3 phương pháp để ra số lượng cấp phó như vừa nêu có thể thấy khó có sự thuyết phục bởi cái gốc là cơ sở khoa học ẩn mình trong các phương pháp rất ít. Phương pháp  quy định cứng gần như là áp đặt. Phương pháp theo biên chế sẽ khuyến khích tăng biên chế vì chỉ thêm một biên chế đã có thêm 1 phó, ví dụ như trường hợp phòng thuộc cục thuộc bộ có từ 7-9 biên chế có 1 phó, nhưng có từ 10-15 biên chế được 2 phó thì giữa 9 và 10 biên chế là có sự khác nhau về số lượng phó. Tương tự là phương pháp tính số lượng phó theo số lượng tổ chức.

 

Đề nghị sửa đổi số lượng cấp phó của Bộ Nội vụ đưa ra mới đây vẫn dựa trên 2 phương pháp là dựa vào số lượng biên chế và số lượng tổ chức, ví dụ cục thuộc tổng cục thuộc bộ có từ 15-20 biên chế công chức được bố trí không qua 2 cấp phó; có trên 20 biên chế được bố trí không quá 3 cấp phó; Cục, thanh tra, văn phòng thuộc tổng cục có dưới 4 tổ chức được bố trí không quá 2 cấp phó, có từ 4 tổ chức trở lên được bố trí không quá 3 cấp phó… Cách làm theo kiểu này tiềm ẩn nguy cơ sau vài năm có khi phải tính lại theo kiểu  có khi phải ngần nầy biên chế mới được bố trí 1 phó, thêm ngần kia biên chế thì lại thêm 2 cấp phó nữa…

 

Điều đáng suy nghĩ là trong khi Thủ tướng Chính phủ đang nhấn rất mạnh đến tầm quan trọng của vị trí việc làm thì việc tính xem mỗi cơ quan, tổ chức có bao nhiêu cấp phó lại không được xác định luôn trong quá trình xây dựng và quyết định vị trí việc làm của cơ quan, tổ chức đó. Nói như vậy có nghĩa là các phương pháp xác định cấp phó từ trước đến nay chưa chuẩn thì phải mạnh dạn chuyển sang cách làm, cách xác định khoa học hơn.

 

Về nguyên tắc, xác định chuẩn vị trí việc làm sẽ ra số lượng vị trí việc làm cần phải có của một cơ quan, tổ chức, trong đó có vị trí việc làm lãnh đạo, quản lý, cụ thể là 1 trưởng và mấy phó, số lượng biên chế và cơ cấu ngạch công chức của cơ quan, tổ chức đó.

 

Đương nhiên, việc xác  định chuẩn vị trí việc làm của cơ quan, tổ chức không đơn giản. Nhưng hãy đừng vì việc này quá phức tạp, khó làm mà không làm để rồi vẫn xác định số lượng cấp phó theo các phương pháp từ trước đến nay. Đã đến lúc phải thay đổi cách làm để góp phần đạt được  mục tiêu giảm bớt cấp phó và tinh gọn bộ máy. (Danviet.vn 25/01, Đinh Duy Hoà) Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

Quan tham Trung Quốc hé lộ cách thức “dùng quyền đổi tiền”

Phim tài liệu “Không khoan nhượng” có đề tài chống tham nhũng gần đây đã công bố quá trình làm giàu bất chính của cựu quan chức Trung Quốc Chu Giang Dũng.

 

Tập thứ năm của phim tài liệu “Không khoan nhượng” được phát sóng trên Đài truyền hình trung ương Trung Quốc (CCTV) tối 19/1 đã hé lộ quá trình lợi dụng chức vụ để thu lợi bất chính ít nhất 90 triệu Nhân dân tệ của cựu Bí thư thành ủy Hàng Châu, ông Chu Giang Dũng.

 

“Tất cả sai lầm và tội lỗi đều bắt nguồn từ tôi. Không có quyền lực của tôi, thì em trai tôi, Chu Kiến Dũng không là ai hết. Cậu ấy không thể làm được bất cứ việc gì nếu không có sự giúp đỡ của tôi”, Chu Giang Dũng thừa nhận.

 

Theo tờ China Daily, Chu khi còn đương chức đã lợi dụng chức vụ của bản thân để nâng đỡ việc làm ăn cho em trai, đồng thời thông qua Chu Kiến Dũng để nhận một lượng lớn tiền hối lộ từ các doanh nghiệp.

 

“Ông ta nghĩ rằng mình có thể dựa vào danh nghĩa thúc đẩy phát triển kinh tế và hỗ trợ các doanh nghiệp lớn ở một số thành phố như Chu San, Ôn Châu và Hàng Châu thuộc tỉnh Chiết Giang, để em trai Chu Kiến Dũng ở phía sau có thể trục lợi. Có như vậy, thì thủ đoạn làm giàu bất chính của họ mới khó bị vạch trần”, ông Tăng Khắc Hiếu, thành viên Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Trung Quốc, nhận định.

 

Theo cựu Bí thư thành ủy Hàng Châu, em trai muốn làm ăn nên ông ta đã giới thiệu cho nhiều tập đoàn để hợp tác. “Bởi tôi là người đã thiết lập sự kết nối, nên bản thân dần dần sa vào vũng lầy dùng quyền lực đổi tiền tài. Nó cứ như một lời nguyền vậy”, Chu Giang Dũng nói.

 

Chu cho mở công ty hóa dầu Du Nhuận sử dụng vốn, trang thiết bị và đất công. Sau đó, Chu Kiến Dũng sẽ âm thầm “biến” công ty trên thành tập đoàn riêng và lợi dụng sức ảnh hưởng của anh trai để trục lợi. Số tiền bất chính hai người này thu được từ công ty trên lên tới hơn 7 triệu Nhân dân tệ.

 

Về sau, Chu Kiến Dũng cùng một doanh nhân có tên Chu Văn Dũng thành lập doanh nghiệp tư là công ty hóa dầu Vĩnh Nhuận. Toàn bộ chi phí thành lập công ty lên tới hơn 14 triệu Nhân dân tệ sẽ được doanh nhân Chu Văn Dũng chi trả, sau đó người này có được ô dù chống lưng từ quan chức Chu Giang Dũng.

 

Ngoài việc dùng vốn cùng đất công để thành lập các doanh nghiệp tư và từ đó trục lợi, Chu Giang Dũng cũng sử dụng quyền lực để giúp các doanh nghiệp do em trai điều hành thoát khỏi sự trừng phạt của pháp luật.

 

Cụ thể, Công ty hóa dầu Vĩnh Nhuận vào năm 2014 đã bị cơ quan công an tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc điều tra về việc xả chất thải lên đất nông nghiệp ở tỉnh này. Chu Giang Dũng sau đó lợi dụng chức vụ của bản thân để khiến mọi chuyện êm xuôi. “Tôi đã dùng quyền lực của mình để xoay chuyển tình thế, khiến vụ việc lẽ ra phải khởi tố hình sự được giải quyết bằng phạt hành chính. Từ đó, biến chuyện lớn thành chuyện nhỏ”, Chu nói.

 

Theo tờ China Daily, Chu Giang Dũng vào tháng 8 năm ngoái đã bị cơ quan chức năng Trung Quốc bắt giữ và điều tra với cáo buộc “vi phạm kỷ luật và pháp luật nghiêm trọng”. (Vietnamnet.vn 24/01, Tuấn Trần)Về đầu trang./.

 

Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.005.072 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này