Bản tin cải cách hành chính ngày 30/12/2022

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1.        Thủ tướng: Sớm có cơ chế thu hút, trọng dụng nhân tài cho khu vực công

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

2.        TP.HCM về đích đầu tiên trong số hóa 12,8 triệu hồ sơ hộ tịch

3.        Ra mắt ứng dụng phần mềm du lịch thông minh Sóc Trăng

4.        Văn phòng đăng ký đất đai Hưng Yên: Từng bước số hóa thủ tục cấp “sổ đỏ” cho người dân

5.        Ngành Giáo dục Quảng Trị nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

6.        Đo lường mức độ hài lòng với dịch vụ giáo dục công

7.        Tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực hộ tịch, quốc tịch, chứng thực

8.        Bảo hiểm Xã hội Việt Nam: Kết nối đồng bộ về cơ sở dữ liệu

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN

9.        Siết kỷ luật ban hành văn bản hướng dẫn

THẾ GIỚI

10.     Indonesia: Cơ quan chống tham nhũng nhận 4.623 đơn tố cáo trong năm 2022

 

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Thủ tướng: Sớm có cơ chế thu hút, trọng dụng nhân tài cho khu vực công

Chiều 29/12, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự Hội nghị tổng kết công tác năm 2022 và triển khai nhiệm vụ năm 2023 của ngành nội vụ. Hội nghị do Bộ Nội vụ tổ chức trực tiếp kết hợp trực tuyến tại Hà Nội với 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. 

Phát biểu tại hội nghị, Thủ tướng Phạm Minh Chính cơ bản thống nhất với nội dung báo cáo của Bộ Nội vụ, ý kiến phát biểu tham luận của các đại biểu; đồng thời khẳng định trong năm qua ngành nội vụ đã có những chuyển biến tích cực, khá toàn diện trên các lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ được phân công. 

Thủ tướng đánh giá cao việc Bộ Nội vụ đã phối hợp với các bộ, ngành trình Chính phủ ban hành 26 nghị định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Bộ Nội vụ đã thẩm định, đề xuất giảm 17 tổng cục, 8 cục, 145 vụ/ban, 22 đơn vị sự nghiệp công lập; ở địa phương, giảm 7 cơ quan chuyên môn và 6 tổ chức hành chính khác thuộc UBND cấp tỉnh, 2.159 tổ chức bên trong cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện, giảm 7.469 đơn vị sự nghiệp công lập. 

Về phương hướng, nhiệm vụ năm 2023, Thủ tướng cho rằng chúng ta đã bước đầu vượt qua những khó khăn, thách thức, song tình hình dự báo còn khó khăn, thách thức nhiều hơn là cơ hội và thuận lợi. 

Thủ tướng nêu rõ, mới đây, Trung ương đã thông qua Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, tiếp tục khẳng định mục tiêu đến năm 2030 hoàn thành cơ bản việc xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch. 

Thủ tướng nhấn mạnh mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng của ngành nội vụ trong năm 2023 là tiếp tục góp phần xây dựng bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Cùng với đó, xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới của cách mạng nước ta; tập trung cải cách hành chính mà trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, lấy người dân, doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể, lấy sự hài lòng của họ làm thước đo hiệu quả cải cách. 

Cơ bản đồng tình với các nhóm nhiệm vụ, giải pháp được Bộ Nội vụ xác định cho năm 2023, song Thủ tướng cũng nhấn mạnh, gợi mở thêm một số nhiệm vụ trọng tâm cho ngành.

Theo đó, Thủ tướng đề nghị ngành nội vụ và Bộ Nội vụ tập trung đẩy nhanh tiến độ, nâng cao chất lượng công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách trong lĩnh vực nội vụ.  

Bộ Nội vụ và ngành tiếp tục rà soát, đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý cán bộ, công chức, viên chức theo hướng đồng bộ, thống nhất, "có vào, có ra, có lên, có xuống", khen thưởng, kỷ luật nghiêm minh, kịp thời, hiệu quả. 

Đồng thời, xây dựng cơ chế liên thông cán bộ, công chức cấp xã với cấp huyện, cấp tỉnh; đẩy mạnh công tác luân chuyển cán bộ; khẩn trương đề xuất ban hành quy định khuyến khích, bảo vệ tổ chức, cá nhân đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; thu hút và trọng dụng nhân tài cho nền công vụ; có cơ chế, chính sách phù hợp để đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động yên tâm công tác. 

Thủ tướng cũng yêu cầu sớm hoàn thiện mô hình chế độ công vụ theo vị trí việc làm; cơ cấu, sắp xếp lại đội ngũ theo vị trí việc làm và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; thực hiện thống nhất kiểm định chất lượng đầu vào công chức; hoàn thiện tiêu chuẩn chức danh ngạch công chức và tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo quản lý các cấp. Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng; điều chỉnh, bổ sung tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức, viên chức; siết chặt kỷ cương, kỷ luật hành chính, nâng cao đạo đức, văn hóa công vụ, tính chuyên nghiệp của cán bộ. 

Bên cạnh đó, cần tiếp tục hoàn thiện bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc triển khai các nghị định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quan; nắm bắt những vấn đề vướng mắc phát sinh, nhất là công tác cán bộ để có giải pháp kịp thời. Phối hợp với các bộ, ngành sớm hoàn thành việc xây dựng quyết định về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của tổng cục và tương đương. 

Thủ tướng cũng nhấn mạnh đến việc đổi mới, sắp xếp đơn vị sự nghiệp công, đẩy mạnh tự chủ đơn vị sự nghiệp và xã hội hóa dịch vụ công theo tinh thần Nghị quyết 19 của Trung ương. Xây dựng đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập trên cơ sở bám sát thực tiễn, phù hợp điều kiện, hoàn cảnh đất nước và có các quy định chuyển tiếp để chuyển trạng thái một cách phù hợp, không giật cục. (Vneconomy.vn 30/12, Phúc Minh)Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

TP.HCM về đích đầu tiên trong số hóa 12,8 triệu hồ sơ hộ tịch

Chiều 29-12, Bộ Nội vụ tổ chức hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết năm 2022 và triển khai nhiệm vụ công tác năm 2023 ngành Nội vụ. 

Tại hội nghị, Phó Chủ tịch UBND TP.HCM Dương Anh Đức cho hay, trong năm 2022, chính quyền TPHCM đã tập trung cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn, khó khăn của doanh nghiệp và người dân, cũng như khơi thông và phát huy nguồn lực xã hội để phát triển TP. 

UBND TP triển khai các nhóm giải pháp chuyển đổi số trọng tâm trong năm 2022. Đầu tiên là nâng cao nhận thức và năng lực về chuyển đổi số trong đội ngũ lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức TP.  

TP cũng triển khai Cổng thông tin chuyển đổi số của TP, phát huy tinh thần trách nhiệm, chủ động, sáng tạo của người đứng đầu trong chuyển đổi số. Phát triển kho dữ liệu dùng chung, tập trung vào cơ sở dữ liệu hộ tịch, y tế, giáo dục, doanh nghiệp, người nộp thuế và cơ sở dữ liệu quản lý đất đai. 

“Riêng về cơ sở dữ liệu hộ tịch, TP.HCM là địa phương đầu tiên trong cả nước hoàn thành vấn đề số hóa 4 loại sổ hộ tịch gồm sổ đăng ký kết hôn, sổ đăng ký khai sinh, sổ đăng ký khai tử và sổ đăng ký nhận cha, mẹ, con, với tổng số trên 12,8 triệu hồ sơ”- ông Đức thông tin và cho biết, tất cả dữ liệu số hóa sổ hộ tịch của TP đã được đồng bộ với cơ sở dữ liệu hộ tịch của Bộ Tư pháp. 

Từ ngày 15-6, TP.HCM thực hiện cấp bản sao trích lục kết hôn, khai sinh, khai tử, đăng ký nhận cha, mẹ, con từ dữ liệu số hóa sổ hộ tịch tại kho dữ liệu dùng chung TP cho người dân mà không phụ thuộc vào nơi đã đăng ký, nơi lưu trữ sổ hộ tịch và nơi cư trú. 

TP.HCM cũng triển khai nền tảng số, hạ tầng số; phát triển các ứng dụng, dịch vụ công nghệ thông tin phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của các cơ quan nhà nước. 

Trong lĩnh vực y tế, TP tiến hành tạo lập hồ sơ sức khỏe điện tử của từng người dân; hướng đến mục tiêu mỗi người dân TP khi đi khám chữa bệnh chỉ cần một mã QR có thể có đầy đủ thông tin về hồ sơ sức khỏe, bệnh án điện tử. Triển khai kho dữ liệu ngành giáo dục đào tạo; chia sẻ dữ liệu và liên thông giải quyết hồ sơ nhà đất trên địa bàn; chia sẻ dữ liệu đất đai phục vụ cho công tác công chứng... 

Từ đó, kết quả triển khai Chuyển đổi số đã có những chuyển biến tích cực.  

Kết quả đánh giá chỉ số chuyển đổi số (DTI) năm 2021 cho thấy, TP xếp hạng 3/63 tỉnh thành, tăng 2 hạng so với năm 2020. Tỉ lệ đóng góp của kinh tế số cho GRDP năm 2022 của TP ước đạt 15,38%. 

Ông Đức cho hay, dù đạt được một số kết quả quan trọng, TP vẫn còn đang rất nhiều việc cần phải làm so với yêu cầu đặt ra, nhất là so với thực tiễn của đời sống người dân và khối lượng công việc của một đô thị như TP.HCM. 

Năm 2023, TP.HCM sẽ tập trung vào các hoạt động phát triển, kết nối, chia sẻ, khai thác, phân tích dữ liệu phục vụ xây dựng đô thị thông minh và thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. 

TP sẽ tiếp tục đưa vào vận hành thống nhất, hoàn thiện theo kế hoạch Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính TP, kết nối với cùng cổng dịch vụ công quốc gia; hệ thống xác thực định danh, cơ sở dữ liệu dân cư của Bộ Công an cũng như cơ sở dữ liệu quốc gia, của các bộ, ngành… 

Triển khai số hóa hồ sơ, kết quả thủ tục hành chính trong tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính; triển khai kết nối, khai thác dữ liệu từ kho dữ liệu của TP… (Plo.vn 29/12, Thanh Tuyền)Về đầu trang

Ra mắt ứng dụng phần mềm du lịch thông minh Sóc Trăng

Ngày 29/12, tại hội nghị xúc tiến, quảng bá, kích cầu du lịch nội tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Sóc Trăng phối hợp Trung tâm Thông tin xúc tiến du lịch tỉnh ra mắt "Ứng dụng phần mềm Du lịch thông minh tỉnh Sóc Trăng". 

Trong năm 2022, ngành du lịch Sóc Trăng đã đưa vào vận hành thử nghiệm và triển khai xây dựng hoàn chỉnh hệ thống du lịch thông minh tỉnh Sóc Trăng và làm các tài liệu, ấn phẩm về du lịch Sóc Trăng dưới nhiều hình thức đa dạng, phong phú, hấp dẫn, phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của khách du lịch và các doanh nghiệp lữ hành. 

Thời gian tới, tỉnh Sóc Trăng sẽ tiếp tục số hóa các loại ấn phẩm du lịch, đồng thời phối hợp các đơn vị, ngành liên quan tổ chức các hội nghị tuyên truyền, phát động du lịch theo hướng du lịch nội tỉnh, du lịch nội địa... 

Nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác quảng bá xúc tiến du lịch, tỉnh Sóc Trăng đã tích cực triển khai việc ứng dụng du lịch thông minh vào công tác quảng bá. Thông qua ứng dụng, du khách có thể chiêm ngưỡng danh lam thắng cảnh qua công nghệ 3D có thuyết minh, phụ đề đi kèm. Đặc biệt, với ứng dụng thực tế ảo giúp du khách có thể biết được các nhà hàng, khách sạn và điểm tham quan quanh khu vực đang lưu trú. 

Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Sóc Trăng Trần Minh Lý cho biết: Ứng dụng phần mềm du lịch thông minh là một bước tiến lớn của ngành du lịch tỉnh Sóc Trăng. Trong thời đại công nghệ 4.0 như hiện nay, việc ứng dụng công nghệ song hành cùng phát triển du lịch là vô cùng cần thiết nhằm giới thiệu sản phẩm du lịch Sóc Trăng đến du khách trong và ngoài nước. (Nhandan.vn 29/12, Nguyễn Phong)Về đầu trang

Văn phòng đăng ký đất đai Hưng Yên: Từng bước số hóa thủ tục cấp “sổ đỏ” cho người dân

Nhằm góp phần xây dựng nền hành chính trên địa bàn tỉnh theo hướng nhanh gọn, hiện đại, lấy công dân làm trung tâm, thời gian qua, Văn phòng Đăng k‎ý đất đai (Sở Tài nguyên và Môi trường) đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), từng bước số hóa thủ tục cấp “sổ đỏ” cho người dân. 

Những năm gần đây, trên địa bàn tỉnh có nhiều dự án, công trình được triển khai, nhu cầu về đất ở của người dân cũng tăng lên đáng kể, vì thế số lượng hồ sơ đăng k‎ý, cấp GCNQSDĐ trên địa bàn tương đối lớn. Từ đầu năm đến nay, Văn phòng Đăng k‎ý đất đai tỉnh đã tiếp nhận hàng nghìn hồ sơ liên quan đến lĩnh vực đất đai thuộc thẩm quyền, đã cấp GCNQSDĐ lần đầu đối với hộ gia đình, cá nhân được hơn 2 nghìn giấy chứng nhận, diện tích gần 60ha (gồm đất ở và đất nông nghiệp); cấp đổi GCNQSDĐ cho hộ gia đình, cá nhân được gần 8 nghìn giấy chứng nhận. 

Đồng chí Nguyễn Văn Hùng, Trưởng phòng Đăng ký và Cấp giấy chứng nhận, Văn phòng Đăng ký đất đai cho biết: Hiện nay, văn phòng có thẩm quyền giải quyết 11 TTHC liên quan đến GCNQSDĐ đã được áp dụng theo mức độ 3 và mức độ 4, theo đó, người dân có thể gửi và nhận hồ sơ trực tuyến. Trong đó, cấp lại giấy chứng nhận hoặc cấp bổ sung trang bị mất; đăng ký và cấp GCNQSDĐ lần đầu, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu; bán hoặc góp vốn bằng tài sản gắn liền với đất thuê của Nhà nước theo hình thức thuê đất trả tiền hàng năm… 

Chị Nguyễn Thị Trang, người dân ở phường Lam Sơn (thành phố Hưng Yên) chia sẻ: Vừa qua, tôi đi làm thủ tục về đăng ký biến động quyền sử đụng đất của gia đình. Là dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, các thủ tục được cung cấp đầy đủ dưới dạng biểu mẫu điện tử, tệp tin điện tử đính kèm và gửi hồ sơ trực tuyến tới cơ quan cung cấp dịch vụ; các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được thực hiện trên môi trường mạng; việc thanh toán phí, lệ phí và nhận kết quả được thực hiện trực tiếp tại cơ quan cung cấp dịch vụ hoặc qua dịch vụ bưu chính, giúp tôi tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại. 

Để có được kết quả này, Văn phòng Đăng k‎‎ý đất đai cùng các chi nhánh ở các huyện, thị xã, thành phố đã và đang ứng dụng hệ thống quản l‎ý hồ sơ về đất đai có chức năng tích hợp với dịch vụ công trực tuyến của tỉnh. Chuyên viên có thể tiếp nhận hồ sơ của công dân dưới dạng số, đồng thời luân chuyển hồ sơ đến các cơ quan có liên quan để phối hợp giải quyết. Mặt khác, văn phòng không ngừng hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai tập trung - kết nối - liên thông giữa cấp tỉnh với cấp huyện, cho phép cán bộ quản lý tra cứu, cập nhật thường xuyên và cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng. Qua đó, từng bước hình thành được hệ thống đăng ký đất đai hiện đại, nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý đất đai, rút ngắn thời gian hoàn thiện các thủ tục xuống từ 25 đến 50% tổng thời gian. 

Đơn cử như việc sử dụng phần mềm Vilis (Vietnam Land Information System) ở Văn phòng Đăng ký đất đai và các chi nhánh, thông qua phương án quét, lưu trữ hồ sơ trong cơ sở dữ liệu địa chính, luân chuyển hồ sơ dạng số khi thực hiện các thủ tục hành chính về đăng ký, cấp GCNQSDĐ thuộc thẩm quyền, đã giảm thiểu thời gian chuyển hồ sơ từ các chi nhánh lên Văn phòng Đăng ký đất đai. Nhờ đó khối lượng công việc của các bộ phận được giảm bớt từ 50 đến 70%. 

Đồng chí Tạ Đoan Hùng, Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Tiên Lữ cho biết: Trước đây, toàn bộ hồ sơ của người dân phải in giấy và do chuyên viên của chi nhánh nộp trực tiếp đến các cơ quan liên quan để phối hợp giải quyết nên mất nhiều thời gian gửi, nhận. Từ khi triển khai hệ thống Vilis, hồ sơ được số hóa có thể luân chuyển ngay tới cơ quan để trình, phê duyệt, thời gian giải quyết được rút ngắn và liên tục. Người dân cũng có thể chủ động kiểm tra kết quả giải quyết TTHC bằng mã số hồ sơ được cấp. Việc hoàn thiện các thủ tục về cấp GCNQSDĐ cho người dân giảm từ 3 đến 5 ngày. 

Để đem lại lợi ích cho người dân, đồng thời tạo thuận lợi và nền tảng số bền vững cho công tác quản l‎ý hồ sơ đất đai đối với các cơ quan chuyên môn, thời gian tới, ngành chức năng và chính quyền các cấp cần phối hợp, tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân, chú trọng kiểm tra, giám sát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác cải cách hành chính, số hóa trong lĩnh vực quản lý đất đai tại cơ sở. (Congthuong.vn 30/12, Đăng Hinh)Về đầu trang

Ngành Giáo dục Quảng Trị nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính

Ngày 29/12, Sở GD&ĐT tỉnh Quảng Trị tổ chức Hội nghị tập huấn dịch vụ công trực tuyến ngành Giáo dục và đào tạo 2022-2023. 

Theo đó, các cán bộ, giáo viên được phổ biến về quy trình điện tử giải quyết thủ tục hành chính, thủ tục hành chính liên thông trên phần mềm một cửa điện tử; hướng dẫn sử dụng nộp hồ sơ trực tuyến… 

Mục đích tổ chức tập huấn nhằm giúp cán bộ, công chức, viên chức các đơn vị, trường học nắm vững quy trình điện tử và các tính năng sử dụng phần mềm trên hệ thống văn bản điện tử, kịp thời hỗ trợ cán bộ, viên chức của đơn vị, trường học trong giải quyết thủ tục hành chính trên phần mềm Một cửa điện tử và cổng Dịch vụ công trực tuyến tỉnh. 

Xác định cải cách thủ tục hành chính là nhiệm vụ trọng tâm nhằm hiện đại hóa nền hành chính nhà nước và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo, Sở GD&ĐT Quảng Trị từng bước đổi mới, chỉ đạo thực hiện cải cách thủ tục hành chính phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. 

Với mục đích chuẩn hóa và nâng cao chất lượng cải cách thủ tục hành chính, Sở GD&ĐT đã chủ động rà soát số thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền theo phân cấp, niêm yết công khai danh mục tại Bộ phận một cửa, Trung tâm Hành chính công tỉnh và cổng thông tin điện tử của đơn vị, tạo điều kiện cho người dân dễ tiếp cận và thực hiện. 

Nhằm đơn giản hóa, giảm thời gian và chi phí cho người dân giải quyết các thủ tục hành chính trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, Sở GD&ĐT đã thực hiện hiệu quả việc giải quyết hồ sơ trên cổng dịch vụ công trực tuyến tỉnh. 

Việc giải quyết các giao dịch trực tuyến đều được bảo đảm đúng quy trình, quy định của pháp luật, bảo đảm về tiến độ thời gian, số lượng, chất lượng và sự minh bạch trong quá trình tiếp nhận, giải quyết yêu cầu về thủ tục hành chính. 

Các cá nhân, tổ chức có yêu cầu thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của Sở GD&ĐT không những tiết kiệm thời gian đi lại mà còn có thể giám sát tiến độ, chất lượng giải quyết của Sở, đảm bảo sự hài lòng của người dân và tổ chức. (Giaoducthoidai.vn 29/12)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Đo lường mức độ hài lòng với dịch vụ giáo dục công

Ngày 29/12, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức Tọa đàm Xây dựng Bộ chỉ số đo lường mức độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công. 

Theo Nghị quyết số 76/NQ-CP về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030, một trong 3 nhiệm vụ Bộ Giáo dục và Đào tạo được giao là “Chủ trì xây dựng và hướng dẫn việc thực hiện phương pháp đo lường mức độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công”. 

Nhiệm vụ nghiên cứu, xây dựng dự thảo Quyết định phê duyệt Đề án đo lường mức độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo giao cho Văn phòng Bộ. 

Thứ trưởng Hoàng Minh Sơn cho biết, năm 2013, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phê duyệt Đề án “Xây dựng phương pháp đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công”, đây đồng thời là căn cứ thực tiễn, khoa học cho đề án hiện nay. 

Đề án đo lường mức độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công được triển khai khi xây dựng hệ thống công cụ sẽ có tác động rất lớn. Do đó, Thứ trưởng nhấn mạnh, thông tin kết quả đánh giá phải được công khai minh bạch, tác động đến hệ thống. Ban soạn thảo cần ghi nhận ý kiến góp ý từ các bên tham gia về xác định nội dung, mục đích đánh giá, lựa chọn mẫu, công cụ, phương thức triển khai, nhằm đem lại độ tin cậy, hiệu quả. 

Trình bày báo cáo tại Toạ đàm, đại diện Ban soạn thảo nêu rõ các căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn; mục tiêu; nội dung Bộ chỉ số đo lường sự hài lòng của người dân; phương pháp đo lường, phân tích số liệu… 

Theo đó, đo lường mức độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công nhằm đánh giá một cách khoa học, minh bạch và khách quan chất lượng dịch vụ của các cơ sở giáo dục công. Từ kết quả đánh giá, các cơ quan quản lý và các cơ sở giáo dục nắm bắt được nhu cầu, mong muốn của người dân để cung cấp dịch vụ và có những giải pháp cải thiện chất lượng phục vụ nhằm đáp ứng sự hài lòng và lợi ích của người dân. 

Đề án cũng xác định, việc đo lường mức độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công phải bảo đảm chính xác, khách quan, nghiêm túc. Đồng thời, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong việc khảo sát, đo lường mức độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công. 

Các chuyên gia, nhà quản lý, nhà khoa học cho ý kiến trao đổi cụ thể về đối tượng áp dụng đo lường mức độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công, các tiêu chí và bộ câu hỏi, đối tượng cần thu thập thông tin, phương pháp khảo sát và phân tích xử lý dữ liệu. 

Toạ đàm cũng ghi nhận nhiều góp ý thiết thực, hữu ích, giúp làm rõ góc tiếp cận, phạm vi tiến hành, cũng như tường minh các khái niệm, mục tiêu đo lường, và định hướng cho thang đo chính xác, hiệu quả, đồng bộ hơn. (Vneconomy.vn 29/12, Đỗ Như)Về đầu trang

Tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực hộ tịch, quốc tịch, chứng thực

Đây là yêu cầu của Thứ trưởng Nguyễn Khánh Ngọc tại Hội nghị triển khai công tác hộ tịch, quốc tịch, chứng thực năm 2023 diễn ra ngày 29/12. 

Theo báo cáo tại Hội nghị, năm 2022, các mặt công việc của Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực đã được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Cụ thể, công tác xây dựng văn bản, đề án được triển khai khẩn trương, thể chế trong công tác hộ tịch, quốc tịch, chứng thực được hoàn thiện cơ bản phù hợp với yêu cầu chủ trương cải cách hành chính. Việc tổ chức thực hiện các văn bản liên quan đến lĩnh vực này được triển khai đồng bộ, hiệu quả; hoạt động quản lý nhà nước được tập trung thực hiện, bám sát chương trình, kế hoạch công tác đề ra, 

Công tác chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn địa phương được chú trọng thực hiện, đặc biệt những vướng mắc, khó khăn trong quá trình triển khai thi hành Luật Hộ tịch và các văn bản quy định chi tiết; Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/2/2015 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch được Cục hướng dẫn và tháo gỡ kịp thời. Công tác thanh tra chuyên ngành trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực hộ tịch, chứng thực được phát huy tối đa nhằm phát hiện, chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, thiếu sót, bảo đảm lợi ích của cá nhân, tổ chức. 

Bên cạnh kết quả đạt được, một số nhiệm vụ của đơn vị trong năm 2022 còn chưa đạt tiến độ, chất lượng như mong muốn; tiến độ giải quyết một số hồ sơ trong lĩnh vực quốc tịch còn chậm vì lý do khách quan; các địa phương chưa chủ động nghiên cứu, hướng dẫn nghiệp vụ cho cơ quan đăng ký hộ tịch... 

Để khắc phục những hạn chế trên và nâng cao hiệu quả các mặt công tác trong năm 2023, Thứ trưởng Nguyễn Khánh Ngọc đề nghị cần tiếp tục rà soát để có kiến nghị hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực hộ tịch, quốc tịch, chứng thực, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong bối cảnh đất nước phát triển nhanh, hội nhập sâu rộng, nhu cầu sử dụng dịch vụ trực tuyến của người dân ngày càng cao. Theo đó, cần chủ động đề xuất nghiên cứu sửa đổi các quy định pháp luật, gắn với triển khai Đề án 06; đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng triệt để công nghệ thông tin. 

Ngoài ra, cần phân định rõ nhiệm vụ của Trung ương và địa phương trong công tác quản lý nhà nước. Chú trọng tới nguồn nhân lực, chất lượng cán bộ trong các lĩnh vực này; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, đề cao tinh thần tự học. Tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác phối hợp để giải quyết các công việc... (Baophapluat.vn 29/12, Việt An)Về đầu trang

Bảo hiểm Xã hội Việt Nam: Kết nối đồng bộ về cơ sở dữ liệu

Chia sẻ về kết quả sau 1 năm triển khai Đề án Phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Đề án 06); Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Nguyễn Thế Mạnh cho biết, ngay khi khởi động Đề án 06, BHXH Việt Nam là một trong số ít đơn vị đầu tiên tham gia kết nối, đồng bộ, xác thực dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Đến nay, ngành BHXH đã đạt được một số kết quả nổi bật theo kế hoạch của Đề án 06. 

Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Nguyễn Thế Mạnh cho biết, hiện nay, BHXH Việt Nam đang quản lý cơ sở dữ liệu của trên 98 triệu dân và hộ gia đình; kết nối trực tuyến với 13.000 cơ sở khám, chữa bệnh; xử lý và tiếp nhận gần 300 triệu lượt hồ sơ hàng năm. Trong đó, trung bình mỗi năm có khoảng 170 triệu lượt đề nghị thanh toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT. Vì vậy, việc kết nối, đồng bộ, xác thực với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư có ý nghĩa rất quan trọng. Có thể khẳng định, cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm và tương tác của cơ quan BHXH Việt Nam với hầu hết người dân có sức lan tỏa, ảnh hưởng rất lớn. 

Triển khai Đề án 06, đến nay, BHXH Việt Nam đã hoàn tất kết nối kỹ thuật để chia sẻ, đồng bộ, xác thực dữ liệu cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với trên 71 triệu nhân khẩu có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trên tổng số 85,4 triệu người tham gia. Hiện tại, BHXH Việt Nam đang phối hợp rất chặt chẽ với Bộ Công an để tiến tới đồng bộ tiệm cận 100% dữ liệu. Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam nhấn mạnh, đây vừa là cơ sở, tiền đề rất quan trọng để chuẩn hóa dữ liệu 2 ngành phục vụ cho quản lý, vừa phục vụ cho cải cách, liên thông các thủ tục hành chính, cắt giảm giấy tờ công dân. 

Đồng thời, hoàn thành việc sử dụng thẻ căn cước công dân và ứng dụng định danh điện tử quốc gia (VNEID) để người dân đi khám, chữa bệnh BHYT. Kết quả, có 12.024 cơ sở khám, chữa bệnh triển khai khám, chữa bệnh BHYT bằng căn cước công dân gắn chip (đạt tỷ lệ gần 94%), với gần 9 triệu lượt tra cứu thông tin BHYT qua căn cước công dân phục vụ khám, chữa bệnh. Đồng thời, BHXH Việt Nam và Bộ Công an đã tích hợp thông tin người tham gia BHYT trên ứng dụng VNEID để người dân cũng có thể sử dụng để đi khám, chữa bệnh. 

BHXH Việt Nam đã chủ trì và phối hợp hoàn thành cung cấp các dịch vụ công trực tuyến thiết yếu được giao tại Đề án 06. Trong đó, tích hợp, cung cấp dịch vụ gia hạn thẻ BHYT hộ gia đình có giảm trừ mức đóng từ tháng 7.2022. Đồng thời, hoàn thành tái cấu trúc quy trình, ban hành dịch vụ công trực tuyến chi trả trợ cấp thất nghiệp trên môi trường điện tử. Trước đây, người dân phải đến Trung tâm dịch vụ việc làm để nộp tờ khai kèm sổ BHXH; đến nay, chỉ cần lập tờ khai trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, sau đó tự động chuyển BHXH Việt Nam xác thực và cấp bản điện tử xác nhận quá trình tham gia bảo hiểm thất nghiệp, để Trung tâm Dịch vụ việc làm, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội ra quyết định và BHXH Việt Nam chi trả tự động, cấp thẻ BHYT. 

BHXH Việt Nam cũng đã hoàn thành tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ và điều chỉnh, nâng cấp phần mềm phục vụ triển khai 2 nhóm dịch vụ công liên thông (đăng ký khai sinh - đăng ký thường trú - cấp thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi; đăng ký khai tử - xóa đăng ký thường trú - trợ cấp mai táng phí). Từ 21.11.2022, BHXH Việt Nam đã cùng các bộ, ngành, địa phương liên quan triển khai làm điểm tại 2 địa phương là TP. Hà Nội và Hà Nam. Thông qua 2 nhóm dịch vụ công liên thông này, BHXH TP. Hà Nội và BHXH tỉnh Hà Nam đã tiếp nhận và giải quyết gần 3.000 lượt hồ sơ cấp thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi và giải quyết hưởng trợ cấp mai táng phí. 

Trong phối hợp triển khai Sổ sức khỏe điện tử, BHXH Việt Nam đã phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Công an tham gia xây dựng, ban hành Quyết định số 3074/QĐ-BYT về việc quy định nhóm thông tin cơ bản về y tế thuộc Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm theo Nghị định số 43/2021/NĐ-CP (Cơ sở dữ liệu của Chính phủ giao cho BHXH Việt Nam là đơn vị chủ quản) phục vụ việc triển khai Sổ Sức khỏe điện tử. Thực hiện nâng cấp hệ thống, bổ sung việc cung cấp các hàm (API) để các cơ sở y tế không ký hợp đồng khám, chữa bệnh BHYT có thể gửi dữ liệu khám, chữa bệnh về Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm; thống nhất phương án triển khai cung cấp, tích hợp dữ liệu khám, chữa bệnh từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm trên ứng dụng VNEID. (Daibieunhandan.vn 30/12, Dương Cầm)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN

Siết kỷ luật ban hành văn bản hướng dẫn

Việc ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành luật, pháp lệnh còn rất chậm. Kết quả giám sát năm 2022 cho thấy có đến 21% tổng số văn bản hướng dẫn thi hành luật chưa được ban hành hoặc chậm ban hành. Có những văn bản chậm hơn 3 năm 10 tháng chưa được ban hành kể từ khi luật có hiệu lực thi hành. Như vậy, công tác xây dựng và tổ chức thực thi pháp luật chưa nghiêm. Thực tế này được Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Bùi Văn Cường chỉ ra tại hội nghị triển khai Nghị quyết hướng dẫn hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật mới đây. 

hậm ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành luật, pháp lệnh đã trở thành căn bệnh “trầm kha”. Tình trạng luật chờ nghị định, nghị định chờ thông tư đã làm cho luật dù đã được ban hành nhưng chậm đi vào cuộc sống, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp, đây cũng chính là rào cản để phát triển kinh tế, xã hội.   

Không chỉ chậm ban hành văn bản hướng dẫn, một tồn tại đáng nói là có những nội dung luật không quy định nhưng trong nghị định, thông tư lại có, chưa kể là việc quy định sai hoặc không đúng với quy định của luật. Thống kê từ tháng 10.2020 đến tháng 7.2021, Bộ Tư pháp đã kiểm tra theo thẩm quyền 3.393 văn bản, phát hiện và có kết luận, kiến nghị xử lý đối với 69 văn bản trái pháp luật về thẩm quyền, nội dung, 5 văn bản không phải là văn bản quy phạm pháp luật nhưng có chứa quy phạm pháp luật. 

Dù không nhiều nhưng vẫn xảy ra tình trạng thông tư của các bộ nhưng lại đặt ra những nội dung ngoài quy định của luật đẻ ra các thủ tục hành chính, một số thông tư của ngành làm khó cho các ngành khác. Một số văn bản không phải là văn bản quy phạm pháp luật nhưng lại điều chỉnh như văn bản quy phạm pháp luật. 

Nếu như việc chậm ban hành văn bản hướng dẫn đã làm cho luật chậm đi vào cuộc sống, thì việc ban hành văn bản sai thẩm quyền, hướng dẫn những quy định vượt khỏi “khung khổ” của luật sẽ gây nguy hại hơn rất nhiều. Bởi lẽ, việc này vô hình trung tạo nên mảnh đất màu mỡ cho việc cài cắm lợi ích của bộ, ngành. Đây cũng có thể coi là một dạng “tham nhũng chính sách”. Nếu không được giám sát chặt tình trạng này rất sẽ dẫn đến những quy định méo mó. Chính sự thiếu liêm chính trong việc ban hành những văn bản hướng dẫn này sẽ tạo ra những văn bản "khuyết tật”, tạo ra hành lang pháp lý để mang lại lợi ích cho một nhóm người chứ không phải là mang lại lợi ích chung cho người dân, doanh nghiệp và phát triển chung của đất nước. 

Để có được hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất và hoàn chỉnh, ngoài việc nâng cao chất lượng xây dựng văn bản hướng dẫn, cần có sự giám sát chặt chẽ văn bản quy phạm pháp luật của. Do đó, việc lần đầu tiên Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 560/NQ-UBTVQH15 hướng dẫn việc tổ chức thực hiện hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có ý nghĩa rất quan trọng nhằm tiến tới khắc phục được căn bệnh “trầm kha” này. 

Giám sát ở đây không phải là việc “bới lông tìm vết”. Mục đích của giám sát văn bản quy phạm pháp luật gắn với việc nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và tăng cường hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật. Qua giám sát phát hiện những nội dung trái với Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc không còn phù hợp để kịp thời đình chỉ việc thi hành, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản. Đồng thời xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý cơ quan, tổ chức, cá nhân đã ban hành văn bản trái pháp luật. Ngoài ra, việc phát hiện việc chậm ban hành văn bản quy định chi tiết các nội dung được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã được ban hành để kịp thời đôn đốc, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền được giao ban hành văn bản quy định chi tiết thực hiện nghiêm chỉnh trách nhiệm của mình theo quy định của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng Nhân dân. 

Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã có, để không còn xảy ra tình trạng quy định luật bị “treo”, bảo đảm chất lượng của văn bản hướng dẫn, trong quá trình giám sát, với vai trò là cơ quan giám sát, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội thẳng thắn chỉ rõ được địa chỉ chịu trách nhiệm, các biện pháp khắc phục khi xảy ra sai sót, vi phạm. Đặc biệt, nêu rõ thời hạn khắc phục, kiến nghị việc xử lý trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, nhất là người đứng đầu và người trực tiếp liên quan đến vi phạm của văn bản quy phạm pháp luật. Chỉ khi địa chỉ trách nhiệm được chỉ rõ đối với từng tập thể, cá nhân, trên cơ sở đó có biện pháp xử lý thì tình trạng luật chờ thông tư, thông tư chờ nghị định, hay ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết vượt quy định của luật mới không tái diễn. (Daibieunhandan.vn 30/12, Song Hà)Về đầu trang

THẾ GIỚI

Indonesia: Cơ quan chống tham nhũng nhận 4.623 đơn tố cáo trong năm 2022

Ủy ban Bài trừ tham nhũng Indonesia (KPK) đã nhận được 4.623 đơn tố cáo tham nhũng từ người dân vào năm 2022, theo Phó Chủ tịch Ủy ban Johanis Tanak. 

Số liệu trên được thông báo tại cuộc họp báo về kết quả và hiệu suất công việc của KPK trong năm 2022, diễn ra tại Thủ đô Jakarta hôm 27/12. 

Phó Chủ tịch KPK cho biết: “Trong suốt năm 2022, ủy ban đã nhận được 4.623 tố cáo qua email, hệ thống tố giác của KPK (KWS), qua trực tiếp hoặc (thông qua) các cuộc tuần hành, mạng xã hội, tin nhắn văn bản, thư hoặc fax và điện thoại". 

Hầu hết các tố cáo đến từ Jakarta (585), Tây Java (429), Bắc Sumatra (379), Đông Java (357) và Trung Java (237), ông Tanak nói thêm. 

Trong số 4.623 tố cáo, có 363 không đáp ứng các tiêu chí tố cáo cáo buộc tham nhũng và do đó đã được lưu trữ, trong khi 4.260 đơn đang trong quá trình xác minh. 

"Từ 4.260 tố cáo này, 4.055 đã được xác minh", ông Tanak thông báo và cho biết, dựa trên kết quả xác minh, 10 tố cáo đã được chuyển đến nhóm nội bộ của KPK vì có liên quan đến trách nhiệm, quyền hạn của các đơn vị công tác khác trong KPK. 

Trong khi đó, 3 đơn đã được chuyển đến bộ phận quan hệ công chúng của KPK và 2 tố cáo đã được gửi đến thanh tra của ủy ban... 1.631 tố cáo đã được phản hồi để xem xét và 2.414 tố cáo chưa được phản hồi vì không bao gồm mô tả về cáo buộc tham nhũng. 

Ủy ban kêu gọi người dân thông tin mô tả sự thật về các hành vi sai phạm khi gửi đơn tố cáo tham nhũng với KPK để được phản hồi. 

“KPK đảm bảo sẽ theo dõi mọi thông tin tố cáo tham nhũng từ người dân và xử lý dựa trên quy định pháp luật hiện hành”, Phó Chủ tịch KPK nhấn mạnh. (Thanhtra.com.vn 29/12, Ngọc Anh)Về đầu trang./.

Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 11.995.151 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này