Hình tượng Tổ Quốc trong thơ chống Mỹ từ góc nhìn văn hóa

Font size : A- A A+

Hình tượng Tổ quốc chiếm một vị trí trang trọng, trung tâm của thơ ca cách mạng, đặc biệt là thơ trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước. Bằng cảm xúc chân thành nồng cháy với những suy tư sâu sắc, các nhà thơ biểu hiện sự nhận thức lại Tổ quốc mình một cách sâu sắc, đầy đủ, nhiều mặt để từ đó, hiện lên một hình tượng Tổ quốc có bề dày lịch sử, có truyền thống vinh quang của nhân dân và sự tích anh hùng cách mạng.

Tổ quốc trở thành một biểu tượng thiêng liêng khi cụ thể, khi khái quát, vừa là không gian cư trú, địa bàn làm ăn sinh sống của cộng đồng người Việt Nam, với những mối quan hệ, tình cảm thiêng liêng cao đẹp, giàu tính nhân văn; vừa là truyền thống văn hóa lịch sử kết tinh những giá trị đẹp đẽ. Tổ quốc là cảm hứng bao t rùm, và đề tài Tổ quốc gắn liền với đề tài chiến đấu và xây dựng cuộc sống.

Tổ quốc trong thơ ca truyền thống ở mỗi thời kỳ đều có những quan niệm khác nhau. Hình tượng Tổ quốc không xa lạ trong thơ Việt Nam. Nó đã từng xuất hiện rất sớm gắn với sự hình thành của vương triều, quốc gia và cũng gắn với tên tuổi những người anh hùng như: Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích... Thời phong kiến, do hạn chế trong ý thức hệ phong kiến nên quan niệm về Tổ quốc chỉ gắn với những người đại diện cho lợi ích của vương triều phong kiến. Tổ quốc là của vua, vua là chủ của đất nước, của muôn dân. “Sông núi nước Nam vua Nam ở / Rành rành định phận tại sách trời” (Lý Thường Kiệt). Quan niệm “Trung quân ái quốc” đã ảnh hưởng sâu sắc đến cái nhìn về Tổ quốc: “Trong nước không có mảnh đất nào không phải của vua - Không có người dân nào không phải là bề tôi của vua” (Trần Thánh Tông). Trong thơ văn của các chí sĩ yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ đầu thế kỷ XX, hình tượng Tổ quốc được đặt lên hàng đầu, có những đổi mới căn bản về quan niệm: đất nước hình thành trong sự đề cao vai trò của quần chúng nhân dân: “Dân là của nước, nước là của dân” (Phan Bội Châu). Thơ ca Xô viết - Nghệ Tĩnh, thơ ca cách mạng đặt vấn đề giải phóng đất nước như một nhiệm vụ cấp thiết. Cùng với thơ ca Xô Viết Nghệ Tĩnh, dòng thơ cách mạng lưu hành bí mật với những tác giả tiêu biểu như: Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Xuân Thủy, Hoàng Văn Thụ. Hình tượng Tổ quốc được lồng trong vận nước, trong sự nghiệp cách mạng, giải phóng dân tộc: “Sao vàng năm cánh” (Hồ Chí Minh), “Cờ đỏ bay quanh tóc bạc Bác Hồ” (Tố Hữu) trở thành biểu tượng thiêng liêng.
 
Hình tượng Tổ quốc trong hai cuộc kháng chiến, đặc biệt trong giai đoạn chống Mỹ đã thoát khỏi những điển cố, điển tích mang tính ước lệ như: giang san, bách Việt, con Rồng cháu Tiên, đồng bào... thay vào đó là Tổ quốc với những khái niệm mới, gần gũi, cụ thể. Tổ quốc đồng nghĩa với chính quyền cách mạng, là nền dân chủ cộng hoà, là Nhà nước công nông trẻ tuổi, là sự nghiệp kháng chiến chống kẻ thù xâm lược. Bác Hồ, Thủ đô kháng chiến, trở thành một biểu tượng mới về Tổ quốc: “Ở đâu u ám quân thù / Nhìn lên Việt Bắc cụ Hồ sáng soi / Ở đâu đau đớn giống nòi / Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền”. Hình tượng Tổ quốc trong thơ thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp vẫn còn chung chung chưa thực rực rỡ, sáng chói như thơ thời chống Mỹ.
Hình tượng Tổ quốc hiện lên trong liên tưởng của mỗi nhà thơ trước những vấn đề lịch sử, văn hóa dân tộc và nhân loại. Khám phá vẻ đẹp Tổ quốc từ góc nhìn văn hóa là vấn đề được nhiều nhà thơ quan tâm. Huy Cận cảm xúc trước tên gọi Thủ đô “ Chào Hà Nội, chào Thăng Long; Chế Lan Viên “Gửi Kiều cho em năm đánh Mỹ”; Trần Đăng Khoa gợi suy nghĩ từ “Tiếng đàn bầu và đêm trăng”; Nguyễn Hải Trừng “Qua sông Bạch Đằng chạnh nhớ Cửu Long Giang”; “Bên giếng ngọc Đền Hùng”, Bàng Sĩ Nguyên liên tưởng đến cội nguồn văn hóa dân tộc... Tổ quốc được hiện lên từ quê hương với những hình ảnh thân thuộc của làng thôn, đồng quê vốn gắn bó với cư dân vùng lúa nước. Tố Hữu thấy được vẻ đẹp của đất nước qua hình ảnh dung dị “Đôi cánh cò trắng vẫy mênh mông / Ôi Tổ quốc đơn sơ mà lộng lẫy”. Trần Đăng Khoa cảm được vẻ đẹp đặc trưng của quê hương Việt Nam qua mái tranh nghèo “Mái tranh ơi hỡi mái tranh / Trải bao mưa nắng mà thành quê hương”. Tố Hữu cảm nhận được Tổ quốc trong vẻ đẹp thống nhất, liền một dải khi Toàn thắng về ta: “Tổ quốc tôi. Chưa đẹp thế bao giờ / Xanh núi, xanh sông, xanh đồng, xanh biển / Xanh trời xanh của những giấc mơ”. Từ tình cảm sâu nặng với quê hương - nơi chôn rau, cắt rốn - các nhà thơ chống Mỹ đã nâng lên thành tình cảm đất nước. Đây cũng là “yếu tố mới của thơ sau cách mạng so với thơ viết về quê hương trước cách mạng tháng Tám”. Như vậy, “Làng quê đang đổi mới trong cách mạng là một hình ảnh và môtíp phổ biến trong thơ ca giai đoạn này” (1).
 
Một phương diện quan trọng thể hiện hình tượng Tổ quốc của các nhà thơ Việt Nam hiện đại còn là việc xây dựng hình tượng nhân dân anh hùng - hình tượng của quần chúng. Đây là một nét đặc biệt có ý nghĩa mới mẻ đặt trong mối quan hệ hữu cơ giữa hình tượng Tổ quốc và hình tượng nhân dân. Điều đó có ý nghĩa và khẳng định tư tưởng đất nước của nhân dân. Tư tưởng đó đã quy tụ mọi cách nhìn nhận và đưa đến những phát hiện sâu sắc và mới mẻ của Nguyễn Khoa Điềm về địa lý, lịch sử, văn hóa của đất nước “Để Đất nước này là Đất nước Nhân dân / Đất nước của Nhân dân, Đất nước của ca dao thần thoại”.
 
Ngoài cảm nhận đất nước ở chiều rộng không gian địa lý, địa bàn cư trú thơ chống Mỹ rất coi trọng sự “phát hiện về đất nước trong chiều dài thời gian lịch sử” (2), trong truyền thống chống ngoại xâm và trong bề sâu văn hóa. Ý thức lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, đã “mở rộng” và làm sâu sắc hơn cho “quan niệm về đất nước, dân tộc và sự thống nhất liền mạch giữa quá khứ và hiện tại” (3). Từ đó hiện lên một hình tượng Tổ quốc Việt Nam có “bề dày lịch sử, chiều cao hiện tại” (4), có truyền thống yêu nước kiên cường bất khuất và tinh thần quật khởi chống xâm lăng. Khi xây dựng hình ảnh về thời gian lịch sử, về truyền thống đấu tranh bất khuất qua bốn nghìn năm đất nước, thơ chống Mỹ thường dùng số từ chỉ thời gian: “Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận” (Tố Hữu), “Ta sống cùng Tổ quốc bốn ngàn năm, mà ta chưa hiểu hết”, “Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm” (Chế Lan Viên), “Sống vững chãi bốn nghìn năm sừng sững” (Huy Cận), “Đất nước-Bốn ngàn năm không nghỉ... Mang bốn ngàn năm lịch sử trong tim / Ta sung sướng được làm người con Đất nước... Sức mạnh bốn ngàn năm đã biến thành bão lửa ngút trời”(Nam Hà), Những thế hệ hôm nay đánh Mỹ tuổi anh hùng đã bốn ngàn năm” (Lê Anh Xuân), “Bốn ngàn năm nằm gai nếm mật” (Trần Vàng Sao)... Thời gian lịch sử đó là minh chứng cho vẻ đẹp Tổ quốc và đánh dấu mốc son chói lọi trong truyền thống dựng nước và giữ nước của cha ông.
 
Bằng cái nhìn sử thi, hình tượng Tổ quốc được cảm nhận ở phương diện lịch sử văn hóa, được khắc họa đậm đà từ bề dày lịch sử văn hóa. Trong thơ chống Mỹ, Việt Nam hiện lên là một đất nước anh hùng, nhưng cũng đồng thời là một đất nước văn hóa “nghĩ suy cho văn hóa, trọng văn hóa” (5). Các nhà thơ đã sáng tạo nhiều biểu tượng đẹp về “sự hình thành của dân tộc, về tổ tiên, về truyền thống cha ông, lịch sử các chiến công, các, các anh hùng dựng nước và giữ nước...” (6) nhìn từ góc độ văn hóa. Nhà thơ Chế Lan Viên trong sự thể hiện hình tượng Tổ quốc đã nhấn mạnh tới yếu tố văn hóa “Vấn đề Việt Nam là một vấn đề chính trị, cố nhiên, một vấn đề quân sự. Nhưng nhìn về lâu dài, nó là một vấn đề văn hóa” (7). Khi những giá trị văn hóa nghệ thuật được thăng hoa cũng đồng thời là lúc chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam phát triển rực rỡ nhất, “bừng nở về văn hóa nghệ thuật” (8): “Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc / Nguyễn Du viết Kiều đất nước hóa thành văn”. Nói về nền văn hóa Việt Nam, các nhà thơ thường hay đề cập tới Nguyễn Du và nàng Kiều. Lễ kỷ niệm 200 năm sinh của đại thi hào Nguyễn Du được tổ chức đúng vào thời điểm cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đã lan rộng.Vùng khu IV - quê hương của Đại thi hào dân tộc - trở thành tuyến lửa ác liệt nhất. Nhân chuyến công tác vào khu IV, Tố Hữu chạnh lòng nhớ Đại thi hào dân tộc “Bâng khuâng nhớ cụ, thương thân nàng Kiều”, Thể hiện cảm nhận sâu sắc và thấm thía nhất ở Nguyễn Du là lòng thương người, là tình người, tình đời giàu truyền thống văn hóa “Tiếng đàn xưa đứt ngang dây / hai trăm năm lại càng say lòng người / Trải bao gió dập sóng dồi / Tấm lòng thơ vẫn tình đời thiết tha” (Tố Hữu). Các nhà thơ nguyện làm cầu nối giữa quá khứ đau thương với hiện tại hào hùng của dân tộc những năm đánh Mỹ để thể hiện rõ bản sắc văn hóa của dân tộc qua trang Kiều thấm đẫm chất nhân văn. Chế Lan Viên có cái nhìn độc đáo về Tổ quốc trong chiều sâu văn hóa qua trang Kiều “Gặp Nguyễn nơi đây trên đất Quảng Bình / Đất hoả tuyến những chàng trai lớp bảy / Lại ngâm Kiều sau một cuộc giao tranh (...) Đêm thắng giặc Bảo Ninh, mẹ Suốt ngâm Kiều... Nhật Lệ sông dài thuyền mẹ lại qua / Câu thơ Nguyễn cũng góp phần đánh Mỹ... Ta nối liền ta trong bể dọc thời gian / Câu thơ thế kỷ hai mươi liền hơi với hồn cha ông trong Truyện Kiều, Chinh Phụ” (Chế Lan Viên).
Suy nghĩ về cội nguồn dân tộc, các nhà thơ thường gợi lại nòi giống lạc Hồng của Tổ quốc nhằm động viên sức mạnh toàn dân cùng chung ý chí đánh đuổi kẻ thù xâm lược, bảo vệ đất nước và hai chữ đồng bào. Nguyễn Khoa Điềm nghĩ về mảnh đất ông cha “Đất là nơi Rồng ở / Lạc Long quân và Âu Cơ / Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng”. Trần Vàng Sao bày tỏ tình cảm của một người yêu nước mình “Một tấm lòng cũng trứng Âu Cơ / Một tiếng nói cũng đầy hồn Thánh Gióng”. Huy Cận có những cảm nhận khái quát về sức sống và nét đẹp văn hóa của dân tộc “Sống vững chãi bốn nghìn năm sừng sững / Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa / Trong và thật sáng hai bờ suy tưởng / Sống hiên ngang mà nhân ái chan hoà”. Khi đất nước cùng ra trận, giữa đau thương, bom đạn, hình tượng Tổ quốc trở nên đẹp hơn, thiêng liêng hơn trong chiều sâu văn hóa dân tộc, trong vẻ đẹp dịu dàng, đôn hậu ẩn chứa nét đẹp nhân văn. Đây là những cảm nhận tinh tế, thấm thía về Tổ quốc: “Ta đã yêu Việt Nam đẹp, Việt Nam thơ bát ngát câu Kiều, bờ tre, mái rạ / Mái đình cong cong như bàn tay em gái giữa đêm chèo / Cánh cò Việt Nam trong hơi mát xẩm xoan cò lả / Cái đôn hậu nhân tình trong nét chạm chùa Keo” (Chế Lan Viên). Nghĩ về Tổ quốc, Nguyễn Khoa Điềm luôn nghĩ đến mảnh đất quê hương mang truyền thống văn hóa lịch sử đã nuôi dưỡng mình suốt một thời trai trẻ: “Lũ chúng tôi lớn lên / Con gái học về còn biết ra sông gánh nước / Con trai còn biết Lục Vân Tiên và đọc thơ mụ Đội cho bà / Qua hoàng thành cha ông gọi tên tôi ù ù trong họng súng thần công / Hịch Cần Vương tưởng còn vang qua chín cửa / Sắc đẹp nghìn xưa thắm từng trang lịch sử”. Hình tượng Tổ quốc còn được hiện lên trong những di tích văn hóa lịch sử: “Hiện ra gác Khuê Văn xưa xa bên giếng hoa trầm mặc / Hiện ra phượng múa rồng chầu thịnh vượng một triều vua (...) một pho tượng Thủ đô đi sơ tán, đã gặp một vị La Hán chùa Tây Phương” (Trinh Đường). Nhân vật cổ tích cũng góp phần làm phong phú cho hình tượng Tổ quốc: “Ôi đất nước của vạn nghìn cô Tấm / Xé vỏ thị bà Tiên ra mà làm chuyện bất ngờ” (Chế Lan Viên). Hình tượng Tổ quốc còn là vẻ đẹp sáng trong của tiếng Việt mà mỗi người dân Việt Nam luôn có ý thức làm cho tiếng Việt phong phú “Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ / Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn / Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá / Tiếng Việt ơi tiếng Việt ân tình” (Lưu Quang Vũ). Niềm tự hào về nền văn hiến, trong cách ứng xử giàu chất nhân văn cũng được các nhà thơ vun đắp trong hình tượng Tổ quốc: “Có manh áo cộc tre nhường cho con” (Nguyễn Duy), “Khi ta đến gõ lên từng cánh cửa / Thì tin yêu chân thật đón ta vào” (Nguyễn Khoa Điềm), “Mặt đất ra sao mà thúc vào điệu lý / Khuôn mặt ra sao mà suốt thời đánh Mỹ / Lý ngựa ô hát đến mê người / Mỗi bước bồn chồn về em đó, em ơi” (Phạm Ngọc Cảnh).
 
Chi phối bởi cảm quan sử thi, như một “siêu thể loại”, sử thi thành phương thức chủ đạo của thơ chống Mỹ. Hiện thực chiến tranh, khí thế hào hùng là bối cảnh kích thích tư duy sử thi. Mặc dù giọng trữ tình vẫn là chủ đạo ở một số nhà thơ chống Mỹ, thì chất sử thi vẫn có ý nghĩa như “một khí quyển tinh thần” (9) chi phối cách viết tràn đầy tinh thần lạc quan. Yến Lan cảm nhận thấy chiến thắng của ta trên chính nền đổ vỡ do bom đạn giặc Mỹ gây ra “Hà Nội đi trên mảnh vụn đuy ra / Nghe âm vang trên ngọn cỏ cây già”. Còn Bằng Việt như thấy “Chùa Một Cột đổ trên đầu giặc Pháp / Lại nở xoè trọn vẹn đóa sen”. Các nhà thơ chống Mỹ tìm thấy trong cội nguồn bền vững của đời sống văn hóa dân tộc niềm vui, sự yêu tin tràn trề: “Vành vạnh Vầng - Trăng - Nghìn - Năm vẫn là gương mặt Việt Nam cười / Một tục ngữ hò khoan bốn mùa trong suốt / Mặt chú Tễu, tiếu lâm, Hứng dừa, Hề gậy reo vui... Xanh trên mâm pháo là trời xanh ta bất khuất... Phóng tên lửa lên trời xanh bật ngọn đàn bầu than vãn năm xưa / Tiếng hò ơ ở các bến đò hoang thành khẩu hiệu Điện Biên, Ấp Bắc / Ngôi sao lưu lạc cô đơn đã hóa nên vì sao chói lọi trên cờ” (Chế Lan Viên). Cảm hứng về lịch sử thực ra các nhà thơ chống Mỹ muốn nói tới thực tại. Lịch sử văn hóa dân tộc được “ý thức trong tính bất biến, tính lặp lại và kéo dài” (10) của thời gian và không gian. “Quá khứ, tương lai soi mình trong hiện tại” (Tố Hữu), Chế Lan Viên khẳng định hiện tại được biểu hiện ở một tầm vóc và chiều cao mới “Những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả / Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn”.
 
Từ cái nhìn văn hóa lịch sử, các nhà thơ chống Mỹ đã khám phá Tổ quốc trong cội nguồn dân tộc, truyền thống nhân văn cao đẹp, thế giới nghệ thuật phong phú, thế giới tâm hồn và tính cách của dân tộc Việt Nam. ở đây đã có sự thấm nhuần “quan niệm về Tổ quốc văn hóa, văn hiến, lịch sử, trong cảm hứng sáng tạo, trong tâm hồn và tài năng của mỗi nhà thơ” (11). Nguồn mạch văn hóa truyền thống có có sức mạnh to lớn trong suy nghĩ, cách nhìn, cách cảm của các nhà thơ chống Mỹ khi xây dựng hình tượng Tổ quốc.
_______________
1, 5, 6, 8, 10, 11. Nguyễn Duy Bắc, Bản sắc dân tộc trong thơ ca Việt Nam hiện đại, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1998.
2, 3. Nguyễn Văn Long, Văn học Việt Nam trong thời đại mới, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002.
4. Mã Giang Lân, Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2000.
7. Chế Lan Viên, Nghĩ cạnh dòng thơ, Nxb Văn học, Hà Nội, 1981; Những ngày nổi giận, Nxb Văn học, Hà Nội, 1966.
9. Vũ Tuấn Anh, Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945-1995, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1997.
 
Theo Tạp chí Văn hóa nghệ thuật

More

Lượt truy cập: 12.072.020 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này