Bản tin cải cách hành chính ngày 22/11/2017

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH. 1

1.  Dự kiến sử dụng mã số công dân thay cho mã số thuế. 1

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG.. 2

2.  Hà Nội: Hơn 8,5 triệu hồ sơ hành chính được tiếp nhận qua một cửa, một cửa liên thông. 2

LĨNH VỰC CẢI CÁCH. 3

3.  Công nghệ hóa công tác chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội 3

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH. 4

4.  Tiếp khách ngoại, chỉ được dùng rượu, bia nội?. 4

5.  Tinh giản bộ máy không chỉ nhằm vào nhân viên. 5

6.  13 pháp nhân liên quan tới Việt Nam trong “Hồ sơ Paradise”. 6

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH. 7

7.  Ngại dịch vụ nộp thuế điện tử, doanh nghiệp vùng cao lo điều gì?. 7

8.  “Xây dựng Chính phủ điện tử dù khó khăn nhưng vẫn có thể làm được”. 9

TIN THẾ GIỚI 12

9.  Hong Kong (Trung Quốc) dẫn đầu khu vực trong việc thu hút nhân tài 12

10.  Châu Âu đi đầu trong việc thu hút, phát triển và giữ chân nhân tài 12


CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Dự kiến sử dụng mã số công dân thay cho mã số thuế

Dự thảo sửa đổi, bổ sung luật Quản lý thuế đưa ra đề xuất sử dụng mã số công dân thay cho mã số thuế, khi mã số công dân đã được cấp cho toàn bộ dân cư.

Theo tờ trình của Bộ Tài chính về sửa đổi luật Quản lý thuế, mã số thuế cá nhân hiện nay được cấp dựa trên mã số công dân và số chứng minh nhân dân. Hiện tại mã số công dân bắt đầu được triển khai trên diện rộng tuy nhiên vẫn còn không ít cá nhân sử dụng số chứng minh nhân dân cũ (10 số) trong giao dịch. Do vậy gây ra sự không đồng nhất, chưa đảm bảo tính duy nhất đối với mã số cá nhân của toàn bộ người dân. Theo đề án cấp mã công dân, dự kiến đến năm 2020 sẽ cấp mã công dân cho toàn bộ dân cư.

Việc triển khai áp dụng mã số công dân thay cho mã số thuế sẽ cắt giảm thủ tục hành chính, cơ sở dữ liệu được tập trung và thống nhất, đảm bảo chặt chẽ tính duy nhất mã số của từng cá nhân.

Tuy nhiên về giải pháp công nghệ thông tin khi sử dụng mã số công dân thay cho mã số thuế cần phải xây dựng hệ thống kết nối thông tin từ cơ sở dữ liệu mã công dân với cơ sở dữ liệu của ngành thuế, đảm bảo việc tự động trong truyền nhận thông tin. (Thanh Niên 21/11) Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Hà Nội: Hơn 8,5 triệu hồ sơ hành chính được tiếp nhận qua một cửa, một cửa liên thông

Theo tin từ UBND TP Hà Nội, sau hơn 1 năm triển khai thực hiện Quyết định số 07 ngày 8/3/2016 của UBND TP ban hành quy định thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông trong giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức tại các cơ quan hành chính Nhà nước thuộc TP, việc thực hiện các cơ chế này đã góp phần làm thay đổi cơ bản mối quan hệ chính quyền - người dân, xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.

Cụ thể, thực hiện Quyết định này đến nay, các cơ quan, đơn vị thuộc TP (bao gồm cả các đơn vị hiệp quản) đã tiếp nhận hơn 8,5 triệu hồ sơ thủ tục hành chính (TTHC), trong đó: Các sở, cơ quan tương đương sở tiếp nhận 0,7 triệu hồ sơ; UBND cấp huyện 0,4 triệu hồ sơ; UBND cấp xã 4,5 triệu hồ sơ; còn lại là các đơn vị hiệp quản. Tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn đạt cao, với tỷ lệ toàn TP là 98,93%, trong đó khối sở và cơ quan tương đương sở đạt 98,39%, cấp huyện đạt 98,73%, cấp xã đạt 99,66%.

Đáng chú ý, các hồ sơ TTHC của cá nhân, tổ chức đều được các cơ quan, đơn vị tập trung xem xét, giải quyết kịp thời, đúng quy định. Một số lĩnh vực hầu như không có hồ sơ bị quá hạn, như công thương, đăng ký kinh doanh, văn hóa thông tin…

Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của các cơ quan, đơn vị cũng đã thực hiện tốt chức năng theo dõi, đôn đốc quá trình giải quyết hồ sơ của các phòng, ban chuyên môn và phối hợp trong xử lý các hồ sơ liên thông. Việc tiếp nhận, chuyển hồ sơ, giải quyết hồ sơ và trả kết quả đều được cập nhật, công khai trên phần mềm một cửa điện tử; cá nhân, tổ chức đến nộp hồ sơ đều được hướng dẫn, cấp mã tra cứu hồ sơ để theo dõi quá trình giải quyết hồ sơ. Riêng với những hồ sơ giải quyết trước hạn, các đơn vị đã chủ động thông báo để cá nhân, tổ chức biết. Cá nhân, tổ chức khi đến giao dịch tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả được đón tiếp và hướng dẫn chu đáo, lịch sự, góp phần đưa mức độ hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước thuộc TP được nâng lên.

Đáng chú ý, một số cơ quan, đơn vị còn gửi “Thư chúc mừng” của chính quyền khi cấp giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn (như quận Hà Đông, quận Nam Từ Liêm…). Hoặc đối với những hồ sơ bị quá hạn giải quyết hoặc theo quy định phải thực hiện xin lỗi do sơ suất trong quá trình tiếp nhận, xử lý hồ sơ, nhiều cơ quan đã nghiêm túc thực hiện việc xin lỗi người dân, doanh nghiệp. Lãnh đạo UBND TP đánh giá, việc xin lỗi này đã tạo chuyển biến mạnh mẽ trong tư duy và nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức khi thực hiện nhiệm vụ, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính. (Kinh Tế & Đô Thị 21/11) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Công nghệ hóa công tác chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm Xã hội Việt Nam vừa phối hợp với Tổng công ty Bưu điện Việt Nam (VNPost) tổ chức tổng kết công tác thí điểm phương án ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội.

Trước đó, từ tháng 5/2017, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam và VNPost đã thực hiện thí điểm ứng dụng công nghệ thông tin trong chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng bằng tiền mặt tại huyện Thanh Trì (Hà Nội) và huyện Bình Giang (Hải Dương).

Theo đó, tại đây, có 19.272 người hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội bằng tiền mặt, trong đó Thanh Trì có 16.022 người và Bình Giang có 3.705 người. Đến nay, phía VNPost đã phát hành được 19.086 thẻ chi trả lương hưu điện tử (Hà Nội là 15.964 thẻ, Hải Dương là 3.122 thẻ), trong đó có 14.971 thẻ có ảnh.

Để phát hành thẻ chi trả, cơ quan bảo hiểm xã hội đã cung cấp dữ liệu thông tin của người thụ hưởng cho VNPost để cập nhật làm cơ sở phát hành thẻ và thực hiện quản lý người hưởng. Hiện VNPost vẫn đang tiến hành chụp ảnh người thụ hưởng, bổ sung thông tin để hoàn thiện dữ liệu người thụ hưởng, đảm bảo khi người thụ hưởng làm thủ tục nhận lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng chỉ cần sử dụng thẻ chi trả.

Đến nay, hạ tầng công nghệ thông tin về cơ bản đã đáp ứng việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng bằng tiền mặt cho người thụ hưởng. Trong thời gian tới, VNPost sẽ tiếp tục hoàn thiện công cụ chi trả offline để hỗ trợ tốt nhất cho công tác cập nhật thông tin, hình ảnh người thụ hưởng để phục vụ việc cấp thẻ và thực hiện chi trả.

Theo đánh giá của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, mặc dù còn một số hạn chế, tồn tại nhất định, nhưng phương án này đã cho thấy hiệu quả rõ nét, nhất là góp phần thực hiện cải cách thủ tục hành chính, linh hoạt về thời gian, địa điểm nhận tiền, tạo điều kiện thuận lợi cho người thụ hưởng.

“Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội giúp các cơ quan quản lý nắm chính xác thông tin của người thụ hưởng, được hầu hết người thụ hưởng đồng tình, đánh giá cao”, đại diện Bảo hiểm Xã hội Việt Nam cho hay.

Từ kết quả thí điểm, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam và VNPost thống nhất sẽ mở rộng thí điểm trên toàn thành phố Hà Nội và tỉnh Hải Dương trong quý I/2018. Theo kế hoạch, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam sẽ hướng dẫn, kiểm tra và giám sát việc thí điểm, cập nhật dữ liệu người thụ hưởng, kịp thời cung cấp dữ liệu cho

Về phía VNPost, đơn vị sẽ chuẩn bị cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin, đào tạo nhân lực, đảm bảo khắc phục những hạn chế; đồng thời, tổ chức khảo sát, lấy ý kiến người thụ hưởng về nguyện vọng nhận tiền qua các hình thức: Tài khoản cá nhân, tiền mặt, sử dụng thẻ chi trả...; tuyên truyền đến người hưởng về hình thức nhận tiền lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng bằng tiền mặt qua thẻ chi trả.

Bên cạnh đó, VNPost cũng sẽ tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các tỉnh đủ điều kiện triển khai để 2 cơ quan thống nhất lựa chọn mở rộng các địa bàn khác.

Phát biểu tại lễ tổng kết, bà Nguyễn Thị Minh, Tổng giám đốc Bảo hiểm Xã hội Việt Nam đánh giá cao sự nỗ lực của VNPost trong việc ứng dụng công nghệ thông tin và thí điểm chi trả lương hưu bằng thẻ chi trả. Đồng thời, đề nghị VNPost chỉ đạo các đơn vị trực thuộc phối hợp chặt chẽ hơn nữa với các đơn vị thuộc Bảo hiểm Xã hội Việt Nam để tiếp tục khảo sát, lấy ý kiến nhân dân, từ đó khắc phục những tồn tại, hạn chế, nâng cao hiệu quả công tác chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội... (Đầu Tư Chứng Khoán 22/11) Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Tiếp khách ngoại, chỉ được dùng rượu, bia nội?

Cơ quan nhà nước chỉ dùng đồ uống là rượu, bia… sản xuất trong nước để tiếp khách quốc tế. Đó là quy định tại dự thảo thông tư đang được Bộ Tài chính lấy ý kiến rộng rãi, dự kiến sẽ có hiệu lực từ đầu năm sau.

Tại dự thảo thông tư quy định chế độ tiếp khách nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam, chế độ hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam, Bộ Tài chính đề nghị các cơ quan nhà nước, đơn vị phải thực hành tiết kiệm trong việc tiếp khách trong nước; việc tổ chức tiếp khách phải đơn giản, không phô trương hình thức.

Thành phần tham dự chỉ là những người trực tiếp liên quan. Không sử dụng ngân sách nhà nước để mua quà tặng đối với các đoàn khách đến làm việc. Mọi khoản chi tiêu tiếp khách phải đúng chế độ, tiêu chuẩn, đối tượng theo quy định. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị tổ chức tiếp khách phải trực tiếp chịu trách nhiệm nếu để xảy ra việc chi tiêu sai quy định.

Ủng hộ đề xuất của Bộ Tài chính, trao đổi với Tuổi Trẻ Online, ông Nguyễn Mai Bộ, Ủy viên thường trực Ủy ban Quốc phòng - An ninh của Quốc hội, cho rằng chủ trương là để tiết kiệm. Một chai rượu ngoại có giá trị vài ba chục triệu đồng. Tiêu pha như thế bằng tiền ngân sách thì rất xót xa tiền của dân. Nếu biết xót xa tiền thuế của dân, của nước thì sẽ góp phần lành mạnh hơn cho xã hội trong điều kiện chưa chấm dứt được việc tiếp khách có bia, rượu.

Tại buổi thảo luận ở tổ về tình hình kinh tế - xã hội của Quốc hội hôm 24-10 vừa qua, đại biểu Nguyễn Sĩ Cương (Ninh Thuận) đã phải nói thẳng là tình trạng chi tiêu ở ta còn lãng phí vô cùng. Ông Cương nhắc lại việc mà ông nói không thể quên được là khi đi khảo sát để làm Luật chính quyền địa phương, đến một địa phương ở miền Trung, khi nói đến ngân sách của địa phương, một vị phó chủ tịch tỉnh nói một tháng tiếp khoảng 30 đoàn của Trung ương.

"Đoàn ở Trung ương đến địa phương thì vừa chiêu đãi, vừa liên hoan. Tình trạng chi tiêu ăn uống biết dùng từ gì cho chính xác. Chiêu đãi mời cơm nếu giảm được thì chi tiêu hành chính sẽ giảm nhiều. Không cần đến mức uống chai rượu bằng giá trị cả một con trâu" ông Cương nhấn mạnh. (Tuổi Trẻ 21/11) Về đầu trang

Tinh giản bộ máy không chỉ nhằm vào nhân viên

Trả lời chất vấn của Quốc hội mới đây, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thừa nhận bộ máy hành chính vẫn còn cồng kềnh, đồng thời nêu quyết tâm từ nay đến năm 2021, mỗi năm giảm ít nhất 2,5% biên chế trong cả hệ thống chính trị. Để thực hiện mục tiêu này, một trong các nhiệm vụ Chính phủ ưu tiên thực hiện là rà soát, hoàn thiện các quy định về công tác cán bộ; kiên quyết sàng lọc, thay thế những người yếu về năng lực, kém về phẩm chất đạo đức, tín nhiệm thấp mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác…

Lý do để Thủ tướng khẳng định quyết tâm này là vì công tác cải cách hành chính nhìn chung còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu; tổ chức bộ máy nhiều nơi vẫn cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả. Tinh thần hành động quyết liệt đã được thể hiện rõ trong chỉ đạo điều hành của Chính phủ, nhưng vẫn còn tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, “thờ ơ”, đùn đẩy trách nhiệm lên cấp trên. Việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm, năng lực của một bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Vẫn còn hiện tượng nhũng nhiễu, cửa quyền, vô cảm, chưa ứng xử, thực thi công vụ theo quy định; còn tình trạng lợi ích nhóm, tham nhũng, lãng phí gây bức xúc dư luận. Vì vậy, tinh giản biên chế, loại ra khỏi bộ máy những cán bộ công chức yếu kém để bộ máy hoạt động mạnh hơn, hiệu quả hơn là yêu cầu mang tính cấp thiết.

Hơn 10 năm qua, công cuộc tinh giản biên chế của chúng ta chưa thành công khi các con số được Bộ Nội vụ đưa ra cho thấy bộ máy càng tinh giản lại càng phình to. Thành tích tinh giản lại chỉ tập trung vào đối tượng nghỉ hưu, nghỉ mất sức hoặc nghỉ chế độ. Các mục tiêu, nhiệm vụ liên quan đến vấn đề tinh giản biên chế giao cho các bộ, ngành, địa phương liên tục bị lỗi hẹn, khiến công tác này rơi vào bế tắc. Điều dư luận quan tâm là tinh giản vài ba lao động hợp đồng, công chức viên chức “quèn” không hoàn thành nhiệm vụ hoặc vi phạm là việc đã khó, còn với những người là lãnh đạo không có năng lực liệu có đơn giản? Lâu nay, nhiều người quan niệm, cứ ngồi được vào ghế lãnh đạo trong một cơ quan là “ấm chân”, không lo bị mất việc.

Dư luận xã hội từng râm ran về nạn chạy chức chạy quyền, và cho đó là nguyên nhân một số người kém về năng lực, đạo đức lại giữ các vị trí lãnh đạo. Có người tồn tại trong hệ thống không phải do tài năng hay vì cơ quan thiếu nhân lực trầm trọng, mà là do nhiều yếu tố khác. Đây chính là lực lượng cản phá lớn nhất đối với việc cải cách năng lực của hệ thống hành chính. Vấn đề là với những người được giao trọng trách, ngồi vào những vị trí then chốt, nhưng yếu năng lực chuyên môn, kém nhạy bén, thiếu quyết đoán để có thể đưa ra các quyết sách đúng đắn, không điều hành, sử dụng lao động đúng với sở trường chuyên môn, thậm chí còn là mầm mống của sự chia rẽ bè phái trong nội bộ… Có tiêu chí nào xếp họ vào nhóm đối tượng chính để tinh giản biên chế hay không?

Không ít lần trên nghị trường, các đại biểu Quốc hội công khai nói về tình trạng “lạm phát cấp phó” ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, địa phương. Có những đơn vị chỉ có lãnh đạo, người làm quản lý mà không có nhân viên. Và thực tế đã có nhiều bộ, ngành, địa phương phải “tự gọt chân mình”. Nhưng đó chỉ là kết quả sau quá trình vào cuộc quyết liệt của các ngành chức năng.

Công tác cải cách hành chính có hiệu quả hay không phải bắt nguồn từ người đứng đầu. Người đứng đầu có sát sao, mẫu mực, có trình độ, năng lực, dám chịu trách nhiệm… thì mới thúc đẩy được tiến trình này. Nếu không thì bộ máy hành chính vẫn sẽ mãi mãi cồng kềnh, kém hiệu quả; công tác điều hành của Chính phủ vẫn sẽ rơi vào tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, “thờ ơ”, đùn đẩy trách nhiệm lên cấp trên như Thủ tướng đã nhận định trong phiên trả lời chất vấn tại Quốc hội mà thôi.

Muốn bộ máy hành chính hoạt động có hiệu quả, ngoài tinh giản biên chế còn phải đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý. Phát triển chính phủ điện tử để hạn chế thói nhũng nhiễu, cửa quyền, vô cảm, thấy sai vẫn làm của một bộ phận cán bộ, công chức. Đặc biệt là phải kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy những cán bộ lãnh đạo yếu kém năng lực phẩm chất, không vì nể nang mà chờ hết nhiệm kỳ, chờ đến tuổi nghỉ hưu. (Baogialai.com.vn 22/11) Về đầu trang

13 pháp nhân liên quan tới Việt Nam trong “Hồ sơ Paradise”

Hơn 10 ngày sau khi công bố thông tin chấn động về "Hồ sơ Paradise" phanh phui các chiêu trò trốn thuế của những người giàu nhất thế giới, Liên đoàn Nhà báo điều tra quốc tế (ICIJ) đã công khai các dữ liệu này để ai cũng có thể tra cứu tìm xem các tổ chức, cá nhân nào nằm trong "danh sách đen".

ICIJ vốn đã duy trì cơ sở dữ liệu chứa hàng loạt hồ sơ tiết lộ chuyện trốn thuế, che giấu tài sản như "Hồ sơ Panama" hay "Hồ sơ Bahamas" (cùng công bố năm 2016) và "Hồ sơ Offshore Leaks" (công bố năm 2013) tại địa chỉ https://offshoreleaks.icij.org.

Ngày 17-11, trang web này được cập nhật thêm dữ liệu liên quan đến 25.000 pháp nhân có liên quan đến "Hồ sơ Paradise".

Tìm với từ khóa "Vietnam", kết quả cho thấy có 13 pháp nhân, chủ yếu là các công ty bình phong đăng ký tại quần đảo Cayman, quần đảo British Virgin và 25 tên cá nhân có liên quan đến "Hồ sơ Paradise".

Tính luôn cả dữ liệu cập nhật mới nhất từ "Hồ sơ Panama" và "Hồ sơ Offshore Leaks", có 32 pháp nhân và 214 cá nhân liên quan đến Việt Nam trong trang tìm kiếm của ICIJ.

"Hồ sơ Paradise" gồm 13,4 triệu tài liệu là kết quả cuộc điều tra công phu của một nhóm nhà báo toàn cầu, sử dụng dữ liệu do Công ty luật Appleby rò rỉ.

Báo Süddeutsche Zeitung (Đức) tiếp cận các dữ liệu này đầu tiên, trước khi chia sẻ với ICIJ và một mạng lưới gồm hơn 380 nhà báo ở 67 quốc gia. (Tuổi Trẻ 21/11) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Ngại dịch vụ nộp thuế điện tử, doanh nghiệp vùng cao lo điều gì?

Thừa nhận lợi ích của dịch vụ khai nộp thuế điện tử nhưng một số doanh nghiệp vùng cao vẫn tỏ ra e ngại với hình thức này bởi những lý do có thể không phải là lớn với doanh nghiệp ở thành phố lớn.

Ông Phạm Văn Quyết, Phó Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn số 10 Lai Châu (Lai Châu) nhẩm tính, doanh nghiệp ông đã thực hiện kê khai, nộp thuế điện tử từ năm 2013 và dịch vụ này được ông cho là “cải cách rõ rệt”. “Trước đây dùng bản kê thủ công có thể mất 3 ngày nhưng bây giờ chỉ mất vài tiếng,” ông Quyết tính toán.

Cũng theo ông, vài năm trước, doanh nghiệp tới kỳ nộp thuế phải tới ngân hàng và “thường cuối tuần là khó.” Tuy nhiên, hiện tại, vị lãnh đạo Công ty trách nhiệm hữu hạn số 10 Lai Châu cười bảo “tôi vẫn trêu anh em là bây giờ nộp thuế nửa đêm cũng được.

Là người trực tiếp tham gia trong từ khâu kê khai tới nộp thuế của công ty, ông Vũ Thanh Sơn, Kế toán trưởng Công ty Xăng dầu Điện Biên (tỉnh Điện Biên) cũng thừa nhận, những cải cách thủ tục hành chính thuế trong đó dịch vụ nộp thuế điện tử khiến công việc của ông nhẹ nhàng hơn nhiều.

Vấn đề theo ông là khi kê khai nộp thuế điện tử, người nộp thuế sẽ hạn chế đi lại và tiếp xúc trực tiếp với cán bộ thuế, điều này không những giúp tiết kiệm thời gian mà còn tạo sự tiện lợi. “Trước đây, có khi giám đốc đi vắng không ký được lại phải đợi sang ngày hôm sau, tiền giữ lại lại phải báo cáo tập đoàn,” ông Sơn nói.

Tuy vậy, vấn đề vướng theo ông Sơn là chương trình phần mềm thuế thường thay đổi, cập nhật và có khi bản cập nhật lại không tương thích với hệ điều hành của máy tính tại doanh nghiệp. Mặc dù nhận được sự giúp đỡ từ phía ngành thuế ngay sau đó nhưng ông Sơn cũng bày tỏ mong muốn chương trình giữ được sự ổn định trong thời gian dài hơn.

Tiện lợi rõ ràng là có nhưng một số doanh nghiệp tại các tỉnh miền núi lại có không ít tâm tư với dịch vụ nộp thuế điện tử.

Thí điểm dịch vụ nộp thuế điện tử từ tháng 6/2014 nhưng tới hiện tại, ông Đặng Quang Hưng, Phó cục trưởng Cục Thuế tỉnh Sơn La thống kê, hiện mới có chỉ tiêu về tỷ lệ doanh nghiệp đăng ký nộp thuế điện tử đạt yêu cầu là 95% số doanh nghiệp trên địa bàn.

Hai tiêu chí khác theo yêu cầu của ngành thuế là số lượng chứng từ nộp thuế điện tử và số tiền thực nộp vào ngân sách Nhà nước bằng hình thức điện tử theo lãnh đạo ngành thuế tỉnh Sơn La hiện vẫn chưa chạm tới con số 95%.

Thừa nhận nguyên nhân một phần do địa hình chia cắt, liên lạc khó khăn nhưng chính ông Hưng cũng không ngần ngại nêu lên thực tế còn một số doanh nghiệp tỏ ra không mặn mà, mặc cho cơ quan chức năng đã vận động tuyên truyền.

Vấn đề theo ông là các doanh nghiệp khi tham gia nộp thuế điện tử sẽ phải bỏ khoản chi phí khoảng 1 triệu đồng mỗi năm cho nhà cung cấp dịch vụ chữ ký số.

Khoản tiền này theo vị Phó cục trưởng Cục Thuế tỉnh Sơn La ban đầu là 1,5 triệu đồng. Sau khi cơ quan thuế làm việc với các nhà cung cấp, mức giá được giảm bớt còn khoảng 1 triệu đồng mỗi năm. Tuy vậy, ông thừa nhận, số tiền này vẫn khiến một số doanh nghiệp tại Sơn La ngần ngại.

Vấn đề tương tự cũng xuất hiện ở một tỉnh khu vực Tây Bắc khác là Điện Biên. Ông Bùi Mạnh Chuyển, Phó Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Điện Biên nêu lên câu chuyện ở địa phương mình rằng, do số lượng doanh nghiệp không nhiều như ở các thành phố lớn nên người nộp thuế hầu như không phải xếp hàng, đợi chờ để nộp thuế.

Chính vì không có áp lực về thời gian nên không ít doanh nghiệp cho rằng, việc thực hiện dịch vụ bằng giấy như truyền thống cũng không tốn nhiều thời gian và có khi… còn nhanh hơn điện tử.

“Có khi người ta đến 2-3 phút gửi tờ khai là xong nên khi triển khai thuế điện tử cũng có khó khăn, doanh nghiệp phải đăng ký chữ ký số, hàng năm mất phí hơn 1 triệu đồng, một năm có 4 quý, tức là gần 300.000 đồng mỗi tờ khai nên họ không mặn mà,” ông Chuyển lên tiếng.

Nói về kinh nghiệm tại địa phương mình, một trong những nơi có tỷ lệ doanh nghiệp tham gia nộp thuế điện tử cao, ông Nguyễn Minh Tuấn, Trưởng phòng Tin học, Cục Thuế tỉnh Lai Châu cho rằng, nếu doanh nghiệp không dùng dịch vụ nộp thuế điện tử thì không có chế tài bởi vậy “không gì bằng sự ủng hộ từ phía doanh nghiệp.”

Vấn đề theo ông là không để nhiệm vụ này “một mình ngành thuế độc lập tác chiến” mà cần có sự tham gia vận động của chính quyền. Ngoài ra, ngay trong nội tại ngành thuế, ông Tuấn kể kinh nghiệm phối hợp tốt giữa các phòng và dịch vụ liên quan.

“Với doanh nghiệp mới thành lập, họ bộ phân tuyên truyền là được hướng dẫn luôn. Chúng tôi gọi các đơn vị cung cấp dịch vụ chữ ký số sang ngay, chúng tôi cũng kết hợp ngay với phòng tin học để hướng dẫn cho doanh nghiệp,” ông Tuấn nói. (VietnamPlus.vn 22/11) Về đầu trang

“Xây dựng Chính phủ điện tử dù khó khăn nhưng vẫn có thể làm được”

Thiếu tướng Nguyễn Việt Thế khẳng định việc xây dựng hệ thống mạng nội bộ cho Chính phủ điện tử dù khó khăn song với cơ sở hạ tầng và trình độ, năng lực công nghệ thông tin đã phát triển lên một bước mới như hiện nay thì Việt Nam hoàn toàn có thể làm được.

Nghị quyết 36a/NQ-CP của Chính phủ về xây dựng Chính phủ điện tử, nhiệm vụ xây dựng hệ thống thông tin điện tử thông suốt, kết nối liên thông văn bản điện tử, dữ liệu điện tử Chính phủ đến cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và 100% dịch vụ công được cung cấp trực tuyến, xây dựng Cổng dịch vụ công quốc gia tại địa chỉ duy nhất trên Internet được xem là những nội dung trọng yếu của cải cách thủ tục hành chính quốc gia.

Trao đổi với phóng viên báo Giáo Dục & Thời Đại, Thiếu tướng Nguyễn Viết Thế, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội internet Việt Nam (VIA), nguyên Cục trưởng Cục Tin học - Nghiệp vụ của Bộ công an khẳng định, việc xây dựng Chính phủ điện tử dù khó khăn song với cơ sở hạ tầng, trình độ công nghệ thông tin như hiện nay thì Việt Nam vẫn có thể làm được.

Vấn đề sử dụng Internet nói chung và mạng xã hội nói riêng ở Việt Nam trong mối tương quan với vấn đề an ninh quốc gia đang được dư luận đặc biệt quan tâm. Ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào?

Sau 20 năm kể từ khi Internet chính thức có mặt tại Việt Nam, phải nói đến nay đã có những bước phát triển vượt bậc. Hiện nay nếu nói không cần Internet thì e rằng là không ổn. Chính phủ cần phải tạo điều kiện để Internet phát triển lành mạnh. Gần đây nổi lên vấn đề về đảm bảo an ninh mạng, an ninh chủ quyền quốc gia trên Internet, đây là một vấn đề đang được quan tâm.

Trung Quốc đã xây dựng được mạng Baidu để thay cho Google và họ cũng làm một mạng xã hội riêng có chức năng như Facebook để dành riêng cho người dùng nội địa Trung Quốc.

Hiện nay cũng có thông tin Trung Quốc cũng đang đàm phán với Facebook để xây dựng Facebook riêng cho Trung Quốc để đảm bảo an ninh quốc gia nhưng lại vẫn đáp ứng được nhu cầu dùng mạng xã hội của người dân.

Đây là mô hình và cách làm mà Việt Nam nên tham khảo. Tôi cho rằng Việt Nam nên đi theo hướng này, tức là cần phải xây dựng một hệ thống mạng nội bộ dùng riêng cho mình.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là hạn chế hay cấm đoán Internet cùng các dịch vụ của các công ty nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam. Bên cạnh việc xây dựng hệ thống mạng nội bộ, vẫn phải song song phát triển các dịch vụ khác hiện đã có.

Về quy định một số công ty như Google, Youtube, Facebook phải đặt máy chủ tại Việt Nam theo ông có khả thi?

Gần đây có ý kiến cho rằng nên cấm Facebook, Google, Youtube vì các công ty này không đặt máy chủ ở Việt Nam thì rõ ràng là không ổn vì không phù hợp với các thông lệ quốc tế. Có lẽ là không cấm được điều này. Chúng ta phải chấp nhận cùng chung sống và cùng chia sẻ thông tin với nhau.

Chính Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm khi phát biểu cũng đã nói rất rõ điều này, thể hiện rất rõ quan điểm của Bộ Công an đó là không cấm internet hay mạng xã hội ở Việt Nam.

Nhưng từ đó mà trọng trách đặt ra cho cơ quan chức năng sẽ nặng nề hơn là phải làm sao vừa đảm bảo an ninh mạng nhưng vẫn phải đảm bảo được môi trường để Internet phát triển, để Internet vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, vừa là nơi kết nối với thế giới.

Chúng ta không thể đóng cửa được, không thể tách biệt mình với thế giới bên ngoài, nhất là trong xu thế chung toàn cầu hóa mạnh mẽ như hiện nay.

Ông nhận xét thế nào về chủ trương xây dựng Chính phủ điện tử hiện nay và về ý kiến cho rằng trong khoảng 5 – 7 năm nữa, Việt Nam sẽ xây dựng được một mạng xã hội riêng, có thể thay thế mạng xã hội Facebook?

Trước hết, tôi cho rằng ý kiến trong vòng 5 – 7 năm nữa Việt Nam sẽ xây dựng được một mạng xã hội thay cho Facebook hoàn toàn có thể làm được vì năng lực, trình độ về công nghệ thông tin của Việt Nam hiện nay đã được cải thiện rất nhiều so với trước.

Thậm chí hiện nay trình độ công nghệ thông tin của Việt Nam còn vượt xa nhiều nước. Ví dụ như chỉ số đánh giá cho mức độ sẵn sàng công nghệ thông tin, thế giới đánh giá Việt Nam ở mức cao. Các bảng xếp hạng các chỉ số của Việt Nam đều ở thứ hạng tốt.

Thêm vào đó, hiện nay các tập đoàn, công ty công nghệ của Việt Nam đã trưởng thành hơn cách đây 10 – 15 năm trước rất nhiều, hoàn toàn có thể đảm nhận được trọng trách này.

Hiện nay, Chính phủ đề ra mục tiêu xây dựng Chính phủ điện tử, thì phải khẳng định là muốn làm điều này dứt khoát hạ tầng mạng của mình phải mạnh.

Chúng tôi cũng đã tham khảo mô hình và cách làm của các đại diện nhà mạng nước ngoài như của Mỹ, Nga hay Trung Quốc về việc xây dựng Chính phủ điện tử, cụ thể là tin học hóa các thủ tục hành chính thì đều có mạng tách bạch với internet, có mạng nội bộ dùng riêng của Chính phủ.

Thực ra hệ thống mạng nội bộ đã được Bộ Công an triển khai từ nhiều năm nay rồi. Bộ Công an đã xây dựng được một hệ thống mạng nội bộ riêng, chỉ dùng trong Bộ Công an mà không kết nối internet bên ngoài.

Xây dựng Chính phủ điện tử thì việc đầu tiên là cần phải xây dựng một hệ thống mạng nội bộ. Vấn đề là làm như thế nào, làm được đến đâu thì lại phụ thuộc vào điều kiện năng lực, vật lực của mình.

Hiện nay tôi được biết một số công ty công nghệ của Việt Nam, nhất là công ty viễn thông như Viettel, FPT, CMC có năng lực và nhân lực rất tốt. Tôi cho rằng họ có đủ năng lực để xây dựng mạng nội bộ này. Đó là mạng nội bộ dùng riêng để xây dựng Chính phủ điện tử, đảm bảo an ninh an toàn mà không cần kết nối Internet.

Để các công ty chuyên về công nghệ viễn thông và tin học trong nước có thể phát huy được hết năng lực của mình vào quá trình xây dựng hệ thống mạng nội bộ cho Chính phủ điện tử, theo ông cần phải có những giải pháp cụ thể gì?

Về cụ thể hóa chủ trương xây dựng mạng nội bộ như thế nào thì phải căn cứ vào chiến lược của Bộ Thông tin và Truyền thông. Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký đề án tầm nhìn đến năm 2030 về xây dựng Chính phủ điện tử. Một Chính phủ muốn mạnh, một đất nước mạnh thì cần phải hiện đại. Như vậy, có thể thấy chủ trương của Chính phủ là hoàn toàn đúng đắn.

Hiện nay hình thức đầu tư theo mô hình công – tư kết hợp (PPP) đang rất phổ biến, vừa giảm nhẹ được gánh nặng về vốn, nhân lực cho nhà nước lại vừa tạo cơ hội để các doanh nghiệp phát triển năng lực, thì đầu tư xây dựng mạng nội bộ cũng nên làm theo hình thức này.

Vừa rồi tôi được biết tập đoàn CMC cũng đã để nghị được làm dữ liệu điện tử cho thành phố Hà Nội và họ cũng đang bắt đầu triển khai rồi, tôi tin là họ sẽ thành công.

Ngoài ra, các công ty khác như Viettel, FPT rất có năng lực về cái này thì nhà nước cũng nên tạo hành lang thông thoáng để cho họ có thể hợp tác và thực hiện.

Nên khuyến khích các công ty công nghệ Việt Nam học thêm các công ty nước ngoài để hoàn thiện thêm về trình độ năng lực. Tôi lấy ví dụ như Cốc Cốc hiện nay đã xây dựng hệ thống tìm kiếm cũng rất ổn, dựa theo Google chẳng hạn, đó cũng là một sự sáng tạo.

Tôi tin rằng, với trình độ CNTT, nhân lực và vật lực như hiện nay, chúng ta hoàn toàn có thể xây dựng thành công hệ thống hành chính công trực tuyến của Chính phủ điện tử. (Giáo Dục & Thời Đại 21/11) Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

Hong Kong (Trung Quốc) dẫn đầu khu vực trong việc thu hút nhân tài

Hong Kong (Trung Quốc) đã dẫn đầu khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong việc thu hút các nhân tài hàng đầu trong năm 2017.

Bảng xếp hạng mới được công bố bởi Viện Quản lý phát triển quốc tế (IMD) có trụ sở tại Thụy Sĩ cho thấy: Hong Kong (Trung Quốc) đã dẫn đầu khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong việc thu hút các nhân tài hàng đầu trong năm 2017.

Với 77,9 điểm, Hong Kong (Trung Quốc) đã vượt qua Singapore với khoảng cách khá sít sao, đồng thời bỏ xa các nền kinh tế khác trong khu vực. Đây cũng là hai cái tên châu Á duy nhất góp mặt trong top 15 nền kinh tế có khả năng thu hút nhân tài hàng đầu thế giới năm nay. Quốc gia đứng đầu danh sách này vẫn là Thuỵ Sĩ.

Bảng xếp hạng của IMD sẽ đánh giá khả năng một quốc gia hay vùng lãnh thổ có thể phát triển, thu hút và giữ chân các nhân tài, dựa trên các thước đo như cơ sở hạ tầng, các chương trình đào tạo nghề, sự di chuyển của du học sinh, chất lượng cuộc sống và động lực của người lao động. (VTV.vn 21/11)Về đầu trang

Châu Âu đi đầu trong việc thu hút, phát triển và giữ chân nhân tài

Bảng xếp hạng Nhân tài thế giới 2017 do trường đào tạo chuyên ngành kinh doanh hàng đầu thế giới IMD của Thụy Sĩ công bố ngày 20/11 cho thấy các nền kinh tế châu Âu vẫn đi đầu thế giới trong việc thu hút, phát triển và giữ chân nguồn lực nhân tài hàng đầu thế giới.

Danh sách 10 nước đứng đầu trong Bảng xếp hạng Nhân tài thế giới 2017 lần lượt là Thụy Sĩ, Đan Mạch, Bỉ, Áo, Phần Lan, Hà Lan, Na Uy, Đức, Thụy Điển và Luxembourg.

Tiêu chí đánh giá bảng xếp hạng này dựa trên 3 yếu tố gồm mức độ đầu tư, phát triển, sức hấp dẫn và tính sẵn sàng, tập trung trong một loạt các lĩnh vực như giáo dục, đào tạo nghề, đào tạo tại chỗ, kỹ năng ngôn ngữ, chi phi sinh hoạt, chất lượng cuộc sống, thu nhập và thuế thu nhập.

Theo IMD, dù là nền kinh tế số 1 châu Âu nhưng Đức chỉ đứng vị trí khiêm tốn thứ 8 trong danh sách này là do nước này bị tác động bởi cuộc khủng hoảng kinh tế tại châu Âu, từ đó dẫn đến việc giảm đầu tư cho ngành giáo dục. Tuy nhiên, IMD vẫn khẳng định Đức là một những nước "xuất khẩu" nhiều nhân tài nhất và cũng là nước thu hút nhiều nhân tài từ khắp nơi trên thế giới.

Tại khu vực Đông Âu, Estonia đứng thứ 29 trong bản xếp hạng và tiếp theo đó là Litva đứng thứ 33 và Ba Lan đứng thứ 34. Thành tích của các nước này chủ yếu được ghi nhận trong lĩnh vực đầu tư và phát triển, trong khi đó Estonia "ghi điểm" nhờ yếu tố sẵn sàng.

Dù xếp thứ 16 trong bảng xếp hạng, nhưng Mỹ đang đứng trước nguy cơ mất đi sức cạnh tranh nếu cường quốc này không tăng cường đầu tư vào lĩnh vực giáo dục công. So với nhiều nước khác, Mỹ vẫn chiếm lợi thế lớn về việc thu hút các nhân tài nước ngoài thông qua yếu tố về chất lượng cuộc sống, cơ hội thăng tiến trong công việc, mức lương cao.

Trong khi đó, các nước khu vực Mỹ Latinh đang đối mặt với những thách thức trong việc phát triển và giữ chân lực lượng lao động chuyên môn cao do thiếu đầu tư vào giáo dục và "chảy máu" chất xám.

Với vị trí thứ 44 trong bảng xếp hạng nói trên, Chile vẫn là quốc gia Mỹ Latinh thể hiện sự "tiến bộ" nhất trong việc thu hút nhân tài. Tiếp sau là Argentina (50), Brazil (52), Colombia (55), Mexico (56), Peru (57) và Venezuela (63) - vị trí sau cùng trong bảng xếp hạng.

Trong nhóm các nền kinh tế mới nổi BRICS, Nam Phi giữ vị thứ 48, Ấn Độ thứ 51, Brazil thứ 52, xếp sau Trung Quốc thứ 40 và Nga thứ 43.

Qatar xếp vị trí thứ 22 trong Bảng xếp hạng Nhân tài thế giới 2017. Các Tiểu vương quốc Arab thống nhất đứng vị trí 25 trong danh sách này. (TTXVN/Vietnam+ 21/11)Về đầu trang./.

More

Lượt truy cập: 12.052.373 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này