Bản tin cải cách hành chính ngày 22/4/2020

Font size : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1. Hà Nội: Khẩn trương kết nối, tích hợp 249 dịch vụ công trực tuyến trên Cổng dịch vụ công quốc gia

2. Bà Rịa - Vũng Tàu: 26 thủ tục hành chính cấp tỉnh thực hiện mô hình hẹn giờ

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

3. Đề xuất cắt giảm 50% kinh phí đi công tác nước ngoài

4. Cải cách thủ tục hành chính đưa lao động ra nước ngoài theo hợp đồng

5. Sớm triển khai Cổng Dịch vụ công của Bộ Tư pháp

6. Lùi thời hạn khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư

7. Bộ TN&MT: Khẩn trương triển khai thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử 

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

8. Quan chức nghỉ hưu không trả nhà công vụ: Có cần cưỡng chế?

9. Công bộc 'mượn' nhà

10. 45/63 tỉnh, thành thu hồi tài sản tham nhũng dưới mức trung bình

         

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Hà Nội: Khẩn trương kết nối, tích hợp 249 dịch vụ công trực tuyến trên Cổng dịch vụ công quốc gia

UBND thành phố Hà Nội đã ban hành văn bản số 1392/UBND-THCB nêu chỉ đạo của Chủ tịch UBND thành phố yêu cầu các sở, ban, ngành thành phố, UBND các quận, huyện, thị xã tập trung thực hiện tốt việc triển khai kết nối, tích hợp dịch vụ công trực tuyến thành phố trên Cổng dịch vụ công quốc gia.

Chủ tịch UBND thành phố yêu cầu thực hiện tiếp nhận các dịch vụ công trực tuyến của thành phố đã được tích hợp, kết nối trên Cổng dịch vụ công quốc gia đúng thời gian quy định, tránh để tình trạng chậm trễ trong việc tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính.

Văn phòng UBND thành phố được giao chủ trì, phối hợp với các sở: Du lịch, Quy hoạch - Kiến trúc, Giáo dục và Đào tạo, Nội vụ, Giao thông - Vận tải, Công Thương, Ngoại vụ, Tài chính, Khoa học và Công nghệ, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tư pháp, Lao động - Thương binh và Xã hội, Thông tin và Truyền thông, Văn hóa và Thể thao, Xây dựng, Công an thành phố và các cơ quan, đơn vị liên quan triển khai kết nối, tích hợp trên Cổng dịch vụ công quốc gia đối với 249 dịch vụ công trực tuyến.

Văn phòng UBND thành phố cũng cần tiếp tục phối hợp với các sở, ban, ngành rà soát, đề xuất danh mục, lộ trình các dịch vụ công trực tuyến sẽ kết nối, tích hợp trên Cổng dịch vụ công quốc gia trong tổng số dịch vụ công trực tuyến của thành phố theo Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 1-1-2020 của Chính phủ, báo cáo UBND thành phố kết quả thực hiện. (Hanoimoi.com.vn 21/4, Tiến Thành) Về đầu trang

Bà Rịa - Vũng Tàu: 26 thủ tục hành chính cấp tỉnh thực hiện mô hình hẹn giờ

UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu vừa ban hành Quyết định công bố danh mục tên các thủ tục hành chính cấp tỉnh thực hiện mô hình hẹn giờ, hướng dẫn kê khai, tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả thủ tục hành chính tại nhà qua hệ thống bưu chính công ích trên địa bàn tỉnh.

Theo đó, có 26 thủ tục hành chính(TTHC) cấp tỉnh thực hiện mô hình hẹn giờ hướng dẫn kê khai, tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả thủ tục hành chính tại nhà qua hệ thống bưu chính công ích trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu gồm: Sở Tư pháp: 02 TTHC; Sở Giáo dục và Đào tạo: 01 TTHC; Sở Khoa học và Công nghệ: 01 TTHC; Sở Thông tin và Truyền thông : 01 TTHC; Sở Văn hóa và Thể thao: 05 TTHC; Sở Tài nguyên và Môi trường: 09 TTHC; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: 07 TTHC. Thời gian triển khai từ tháng 7/2020.

Việc triển khai mô hình hẹn giờ hướng dẫn kê khai, tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả thủ tục hành chính (TTHC) tại nhà trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã được Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 184/KH-UBND ngày 26/12/2019 nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các cấp chính quyền, cải thiện cách thức thực hiện, đổi mới phương thức phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước trong việc tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết TTHC qua dịch vụ bưu chính công ích cho tổ chức, cá nhân; nhằm tiết kiệm chi phí, thời gian và tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện các TTHC theo quy định; giảm áp lực cho Trung tâm hành chính công cấp tỉnh, Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả cấp huyện trong việc tiếp nhận và trả kết quả TTHC.

Mô hình hẹn giờ được thực hiện như sau: Cá nhân, tổ chức có nhu cầu được hẹn giờ hướng dẫn kê khai, tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả tại nhà có thể liên hệ với Trung tâm Hành chính công qua điện thoại hoặc các hình thức thích hợp khác để đặt yêu cầu được hướng dẫn kê khai, tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết TTHC tại nhà theo thời gian thuận tiện.

Nhân viên bưu điện trực tiếp trao đổi, hẹn giờ cụ thể và đi đến nhà người dân hướng dẫn kê khai các biểu mẫu và nhận hồ sơ, các khoản phí, lệ phí,... theo quy định. Hồ sơ được nhân viên bưu điện chuyển đến Trung tâm Hành chính công để tiếp nhận chuyển về các sở, ngành tỉnh giải quyết.

Sau thời gian giải quyết theo quy định nhân viên bưu điện nhận kết quả giải quyết hồ sơ tại Trung tâm Hành chính công và chuyển trả kết quả giải quyết này đến nhà người dân theo địa chỉ được cung cấp. (Thuonghieucongluan.com.vn 21/4, Bảo Trần – Lê Vũ) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Đề xuất cắt giảm 50% kinh phí đi công tác nước ngoài

Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) đã xây dựng và trình Chính phủ phê duyệt Dự thảo Nghị quyết về các nhiệm vụ, giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công trong bối cảnh đại dịch Covid-19.

Một trong những nội dung quan trọng được đưa ra tại Dự thảo Nghị quyết là cắt giảm kinh phí hội họp, và kinh phí đi công tác trong và ngoài nước.

Cụ thể, Bộ KH&ĐT đề xuất: Các bộ, cơ quan trung ương, địa phương cắt giảm chi thường xuyên (giảm 30% kinh phí hội họp, đi công tác trong nước, 50% kinh phí đi công tác nước ngoài) để dành nguồn cho các nhiệm vụ cấp bách khác; tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp đã được giao tại Nghị quyết số 02/NQ-CP để đẩy mạnh việc cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.

Bộ KH&ĐT cũng đề nghị hạn chế tối đa các hoạt động thanh kiểm tra doanh nghiệp trong thời gian dịch bệnh.

Trong thời gian trước mắt, các cơ quan chức năng cần "cử đầu mối và thiết lập đường dây nóng để tiếp nhận những kiến nghị về diễn biến và các tình huống cấp bách, phát sinh của dịch Covid-19 ảnh hưởng đến người dân và doanh nghiệp để kịp thời xử lý hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền để xử lý kịp thời", dự thảo Nghị quyết nêu rõ./. (Vov.vn 21/4, Trần Ngọc) Về đầu trang

Cải cách thủ tục hành chính đưa lao động ra nước ngoài theo hợp đồng

Dự thảo Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sửa đổi) cần bảo đảm cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho người lao động, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước trong lĩnh vực này. Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất quan điểm như vậy khi cho ý kiến vào dự thảo luật, chiều 20-4.

Covid-19: Chính thức công bố dịch, dự kiến hỗ trợ hộ nghèo và người lao động bị mất việc do dịch bệnh / Người lao động mất việc do dịch COVID-19 có thể được hỗ trợ 1,8 triệu đồng/tháng

Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung thay mặt Chính phủ trình bày Tờ trình dự án luật, trong đó nêu rõ: Trong 5 năm gần đây, mỗi năm có hơn 130.000 người lao động ra nước ngoài làm việc, góp phần đáng kể nâng cao thu nhập, đời sống của người dân, cải thiện chất lượng nguồn lao động thông qua một bộ phận lao động tiếp cận với máy móc và công nghệ tiên tiến, cơ chế quản lý hiện đại, tác phong công nghiệp, nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho người lao động.

Bộ trưởng Lê Vĩnh Tân cho rằng, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng hiện hành quy định điều kiện cấp giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài còn chưa chặt chẽ, chưa phù hợp với hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.

Việc sửa đổi Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là nhằm tiếp tục cải cách cách thủ tục hành chính, mở rộng, nâng cao quyền tự chủ của doanh nghiệp trong hoạt động đầu tư kinh doanh; loại bỏ, sửa đổi những quy định không còn phù hợp hoặc gây khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp; bổ sung các quy định cụ thể, rõ rành, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Tuy nhiên, trình bày Báo cáo Thẩm tra sơ bộ dự án Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sửa đổi), Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội Nguyễn Thúy Anh cho rằng, dự thảo luật chưa làm rõ được yêu cầu tạo thuận lợi, hỗ trợ, bảo vệ người lao động, mà thiên về việc “bảo vệ” cơ quan quản lý nhà nước.

Cụ thể, về giấy phép cho doanh nghiệp hoạt động dịch vụ, Thường trực Ủy ban Về các vấn đề xã hội cho rằng, việc sửa đổi quy định giấy phép hoạt động dịch vụ không thời hạn sang có thời hạn 5 năm dẫn tới việc bổ sung quy định về gia hạn giấy phép. Báo cáo đánh giá tác động cho rằng, việc thay đổi này để tạo thuận tiện trong quản lý nhà nước, bảo đảm đánh giá năng lực của doanh nghiệp dịch vụ và góp phần bảo vệ quyền lợi của người lao động nhưng chưa thuyêt phục, chưa làm rõ liệu quy định như vậy có làm phát sinh thủ tục hành chính, gây khó khăn cho doanh nghiệp hoạt động dịch vụ không.

Bên cạnh đó, việc giao nhiệm vụ cho đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp theo dự luật, cũng có ý kiến cho rằng, việc giữ quy định doanh nghiệp dịch vụ được giao nhiệm vụ cho không quá 3 đơn vị phụ thuộc được hoạt động dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài có thể hạn chế quyền tự do kinh doanh. Dự luật cũng bổ sung thêm các điều kiện mà đơn vị phụ thuộc phải đáp ứng thì mới được hoạt động dịch vụ.

Thường trực Ủy ban Về các vấn đề xã hội cho rằng, quy định về hợp đồng cung ứng lao động là rào cản về thủ tục hành chính với doanh nghiệp, đã đến lúc cần chuyển sang chế độ báo cáo để doanh nghiệp chủ động thực hiện, khi ký hợp đồng với mỗi đối tác khác nhau thì chỉ thực hiện việc đăng ký lần đầu và không nhất thiết yêu cầu doanh nghiệp phải đăng ký thẩm định với nhiều hợp đồng đơn lẻ, gây tốn kém và dễ phát sinh tiêu cực trong quản lý, tạo cơ chế xin cho không cần thiết.

Cho ý kiến về dự án luật, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đề nghị, dự luật cần chú trọng đến việc cải cách thủ tục hành chính để minh bạch, thuận lợi cho doanh nghiệp được cấp phép đưa lao động ra nước ngoài làm việc; đồng thời xử lý nghiêm mọi hành vi lợi dung đưa người lao động ra nước ngoài để trục lợi bất chính, vô trách nhiệm với người lao động.

Phó chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu nêu ý kiến, việc sửa đổi luật cần bảo đảm cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho cả người lao động, doanh nghiệp lẫn cơ quan quản lý nhà nước.

Đây là lần đầu tiên, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án luật này. Sau khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến, dự án luật sẽ được hoàn thiện lại trước khi trình Quốc hội cho ý kiến lần đầu tại Kỳ họp thứ chín sắp tới. (Doanhnghiepvn.vn 21/4, Nguyệt Minh) Về đầu trang

Sớm triển khai Cổng Dịch vụ công của Bộ Tư pháp

Chiều 21/4, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã chủ trì cuộc họp về tình hình triển khai thực hiện Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính và Dịch vụ công trực tuyến tại Bộ Tư pháp.

Tại cuộc họp, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tịnh biểu dương và ghi nhận Văn phòng Bộ chỉ mới tiếp nhận nhiệm vụ nhưng đã vào việc kịp thời, hoàn thành tốt công việc. Đồng thời yêu cầu chỉnh sửa, gia cố thêm để thân thiện, gần gũi hơn, bổ sung những chức năng trên Cổng Dịch vụ công của Bộ; thực hiện một cửa và một cửa liên thông, phân quyền cho các vùng miền một cách phù hợp để phần mềm được triển khai, đạt được kết quả tích cực.

Thứ trưởng cũng đề nghị Văn phòng Bộ cần đẩy nhanh tiến độ, sớm hoàn thiện phần mềm để có thể thực hiện được trong thực tế. Bổ sung thêm những yêu cầu, mã số khách hàng cho thống nhất, để kiểm soát được chất lượng. Về việc thực hiện thủ tục hành chính của Trung tâm Lý lịch Tư pháp Quốc gia, Thứ trưởng đề nghị sớm có điều chỉnh, nâng cấp phần mềm, triển khai đến tận địa phương, trong đó phần mềm để tăng cường được phải làm sao để công khai, minh bạch, có tính trách nhiệm hơn nữa.

Thứ trưởng đề nghị Thủ trưởng các đơn vị đã quán triệt đến toàn thể cán bộ, công chức, viên chức của đơn vị yêu cầu nhiệm vụ thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông theo các văn bản của Văn phòng Chính phủ và Bộ Tư pháp. Đồng thời tiếp tục triển khai thực hiện tốt cơ chế một cửa, một cửa liên thông theo Kế hoạch thực hiện Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính và Đề án tổ chức thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ Tư pháp và các đơn vị thuộc Bộ.

Ngoài ra, Văn phòng Bộ phải phối hợp cùng với Cục Công nghệ thông tin, các đơn vị liên quan sớm triển khai Cổng Dịch vụ công của Bộ (phiên bản mới), để sớm được vận dụng triển khai trên toàn quốc. Vấn đề khai sinh, khai tử là vấn đề của Bộ, phải đưa lên Cổng thông tin của Bộ.   (Baophapluat.vn 21/4, Thanh Trà) Về đầu trang

Lùi thời hạn khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình, Trưởng ban chỉ đạo thực hiện Đề án tổng thể đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân và các cơ sở dữ liệu có liên quan đến quản lý dân cư giai đoạn 2013-2020, tại cuộc họp mới đây.

Theo thông báo, Bộ Công an cần khẩn trương thực hiện các bước xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để đưa vào vận hành thử nghiệm cuối năm 2020, sử dụng, khai thác từ năm 2021, tiếp tục hoàn thiện trong giai đoạn 2022-2025.

Dữ liệu này phải được kết nối, chia sẻ để phục vụ việc giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công, trước hết là Cổng Dịch vụ công quốc gia, Cổng Dịch vụ công, Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh theo quy định.

Cùng với đó, Bộ Công an khẩn trương thực hiện kết luận của Thủ tướng về bố trí vốn, điều chỉnh chủ trương đầu tư và phương án lựa chọn nhà thầu thực hiện dự án cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Ngoài nguồn vốn do Bộ Công an đã chủ động cân đối, nguồn vốn còn lại Bộ Công an phối hợp chặt chẽ với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính đề xuất bố trí vào nguồn vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng.

Đồng thời, Bộ Công an, Bộ Tư pháp cần tiếp tục triển khai cấp số định danh cá nhân tại các địa phương theo đúng quy định của Luật Căn cước công dân, Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Trong quá trình nhập dữ liệu công dân, Bộ Công an phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp và chính quyền các địa phương để bảo đảm thông tin chính xác. Đối với các trường hợp thiếu, sai sót thông tin, Bộ Công an, Bộ Tư pháp chỉ đạo cơ quan, đơn vị có liên quan thông tin cho công dân và phối hợp chặt chẽ với công dân trong đính chính, sửa đổi, bổ sung thông tin còn thiếu hoặc chưa chính xác trước khi cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Phó Thủ tướng thường trực Trương Hòa Bình giao Bộ Công an báo cáo Thủ tướng Chính phủ về việc đề xuất Ủy ban Thường vụ Quốc hội lùi thời hạn khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư theo quy định của Luật Căn cước công dân cho đến khi hoàn thành xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Cùng với đó, giải trình cụ thể các vấn đề liên quan trong tháng 4 năm 2020. (Plo.vn 21/4, T. Phan) Về đầu trang

Bộ TN&MT: Khẩn trương triển khai thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử

Sáng 21/4, tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ TN&MT Trần Quý Kiên đã có buổi làm việc trực tuyến với các Tổng cục, các Cục, Vụ Pháp chế, Văn phòng Bộ về việc triển khai thực hiện Nghị định số 45/2020/NĐ-CP về thực hiện thủ tục hành chính (TTHC) trên môi trường điện tử.

Nghị định số 45/2020/NĐ-CP về thực hiện TTHC trên môi trường điện tử được Chính phủ ban hành vào ngày 08/4/2020. Nghị định này quy định việc thực hiện TTHC trên môi trường điện tử. Nội dung của Nghị định không điều chỉnh việc thực TTHC theo cơ chế một cửa quốc gia, một cửa ASEAN và kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Bên cạnh đó, Nghị định quy định các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương rà soát, điều chỉnh, nâng cấp, hoàn thiện các TTHC đã được cung cấp trên môi trường điện tử để đáp ứng các quy định tại Nghị định này trước ngày 31/12/2020. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 22/5/2020.

Theo Văn phòng Bộ TN&MT, hiện nay các đơn vị trực thuộc Bộ đang thực hiện 116 TTHC trên môi trường điện tử, trong đó, Tổng cục Môi trường có 34 TTHC; Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam 16 TTHC; Tổng cục Quản lý đất đai 4 TTHC; Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam 15 TTHC; Tổng cục Khí tượng thuỷ văn 7 TTHC; Cục Quản lý tài nguyên nước 21 TTHC; Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam 4 TTHC; Cục Biến đổi khí hậu 13 TTHC; Cục Viễn thám Quốc gia 1 TTHC và  Văn phòng Hội đồng đánh giá Trữ liệu khoáng sản Quốc Gia 01 TTHC.

Về cung cấp dịch vụ công trực tuyến (DVC), hiện Bộ đã đưa vào triển khai 104 DVCTT mức độ 3, 4 trên Cổng Dịch vụ công của Bộ, trong đó có 72 DVC mức độ 3; 32 DVC mức độ 4 (đạt tỷ lệ 30,8% trên tổng số DVCTT cung cấp).

Văn phòng Bộ cũng đã phối hợp Cục Công nghệ thông tin và Dữ liệu TNMT rà soát, dự kiến trong tháng 4 - 5 sẽ cung cấp thêm 22 DVC mức độ 4, nâng tổng số DVCTT mức 4 được cung cấp là 54 (đạt tỷ lệ 51,9% tổng số DVCTT cung cấp). Tổng cục Môi trường thêm 5 TTHC; Tổng cục Địa chất khoáng sản Việt Nam 4 TTHC; Tổng cục Khí tượng thuỷ văn 01 TTHC; Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam 3 TTHC; Tổng cục Quản lý Đất đai 2 TTHC; Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam 6 TTHC; Cục Viễn thám Quốc gia 1 TTHC.

Văn phòng Bộ cũng cho biết, dự kiến, Bộ sẽ triển khai 7 nội dung thực hiện Nghị định 45 như: Xây dựng và triển khai giải pháp bảo đảm phương thức thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ; Số hóa kết quả giải quyết thủ tục hành chính còn hiệu lực thuộc thẩm quyền giải quyết để đảm bảo việc kết nối chia sẻ dữ liệu trong giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường điện tử; Công khai danh mục và tổ chức việc tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường điện tử thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ trên Cổng dịch vụ công.

Đồng thời, quản lý, định kỳ kiểm tra, khắc phục sự cố, rà soát, tăng cường các biện pháp bảo đảm an ninh, an toàn thông tin đối với Cổng Dịch vụ công, Hệ thống thông tin một cửa của Bộ; Thanh tra, kiểm tra hoạt động thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử lĩnh vực tài nguyên và môi trường theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, sẽ truyền thông, tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ; Kiểm tra, báo cáo hình, kết quả thực hiện Nghị định theo chức năng nhiệm vụ, được giao.

Tại buổi làm việc, các đại biểu đã cơ bản nhất trí với kế hoạch triển khai thực hiện Nghị định số 45/2020/NĐ-CP do Văn phòng Bộ xây dựng, đồng thời khẳng định trong thời gian tới sẽ tiếp tục nâng hồ sơ tiếp nhận TTHC, DVC trực tuyến lên cấp độ 3 - 4. Ngoài ra, các đại biểu đóng góp ý kiến vào kế hoạch triển khai; một số thuận lợi, khó khăn trong việc triển khai thực hiện một số TTHC tại các lĩnh vực của đơn vị trên môi trường điện tử.

Biểu dương và đánh giá cao việc xây dựng kế hoạch và đóng góp ý kiến của các đơn vị trực thuộc, Thứ trưởng Trần Quý Kiên cho rằng, Văn phòng Bộ cần tổng hợp các ý kiến của Tổng cục, Cục và các đơn vị có liên quan nhằm hoàn thiện kế hoạch triển khai thực hiện Nghị định số 45/2020/NĐ-CP để sớm thống nhất trình  Bộ trưởng Bộ TN&MT ban hành kế hoạch triển khai Nghị đinh.

“Tinh thần là Bộ TN&MT là một trong những Bộ đi đầu, gương mẫu trong việc triển khai thực hiện Nghị định số 45/2020/NĐ-CP về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử ”- Thứ trưởng nhấn mạnh.

Thứ trưởng cũng lưu ý, với những khó khăn về việc thực hiện TTHC trên môi trường điện tử của một lĩnh vực của đơn vị Văn phòng Bộ, Vụ Pháp chế, Cục Công nghệ thông tin và Dữ liệu tài nguyên môi trường cần tập trung nghiên cứu, tìm giải pháp tháo gỡ nhằm đẩy mạnh thực hiện công việc này trong thời gian tới theo đúng tinh thần của Nghị định 45. (Baotainguyenmoitruong.vn 21/4, Trường Giang) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Quan chức nghỉ hưu không trả nhà công vụ: Có cần cưỡng chế?

Việc thu hồi nhà công vụ khi các cựu quan chức nghỉ hưu đã được quy định rõ và trách nhiệm thuộc Bộ Xây dựng - đơn vị được giao quản lý tài sản công.

Ngày 20/4, lãnh đạo Bộ Xây dựng cho biết vừa ký loạt thông báo gửi 12 cựu cán bộ yêu cầu trả lại nhà công vụ của Chính phủ tại chung cư CT1-CT2, khu đô thị Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội. Các cựu quan chức cấp cao này được Chính phủ giao nhà ở công vụ khi đang đương chức. Theo quy định, sau khi nghỉ hưu phải trả lại nhà công vụ cho Nhà nước.

Danh sách các cựu quan chức nói trên bao gồm: nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, 3 Phó Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam đã nghỉ hưu, nguyên Phó Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, nguyên Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp, nguyên Tổng biên tập Báo điện tử Đảng cộng sản.

Thông báo yêu cầu trả nhà công vụ đã được Bộ Xây dựng gửi tới 12 vị cựu quan chức này không phải một lần nhưng đến nay việc trả nhà vẫn chưa được thực hiện.

Về tiêu chuẩn nhà công vụ, hầu hết các cựu quan chức nêu trên đều có hệ số phụ cấp chức vụ khi đang công tác từ 1,3 trở lên, đảm nhận chức danh thứ trưởng hoặc chức danh tương đương hàm thứ trưởng, có tiêu chuẩn thuê căn hộ nhà ở công vụ tại đô thị là căn hộ loại 2, diện tích sử dụng từ 100 - 115m2.

Câu chuyện nhà công vụ gây xôn xao dư luận nhiều năm qua, không ít trường hợp các cựu quan chức “chậm” trả nhà công vụ khi đã nghỉ hưu. Có trường hợp sau khi về hưu đi ở nơi khác nhưng vẫn giữ nhà mong chờ một đặc quyền.

Theo GS Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, trách nhiệm quản lý nhà công vụ là thuộc Bộ Xây dựng, theo nguyên lý bình thường không phải thông báo để giục trả mà phải ra quyết định hành chính thu hồi nhà công vụ khi hết thời hạn sử dụng. Nếu cựu quan chức không thực hiện quyết định thu hồi thì tiến hành cưỡng chế.

GS Đặng Hùng Võ cho rằng, có vấn đề về “ngại” với các cựu quan chức hay sự cả nể khi có quen biết. Tuy nhiên, cần tách bạch việc thân quen với câu chuyện pháp luật. Việc quản lý nhà công vụ đã có quy định rõ ràng trong Luật Nhà ở thì cứ luật mà thực hiện. Việc cựu quan chức không trả lại nhà công vụ sau khi về hưu người dân đã có ý kiến phàn nàn rất nhiều, có sự bất bình đẳng, người dân có sự so sánh và sự so sánh đó là đúng.

“Chúng ta phải ý thức được rằng nhà công vụ được xây bằng tiền ngân sách, đó là đóng góp của người dân, người dân nghèo cũng có chút mồ hôi tại các nhà công vụ của quan chức đang ở. Nhà công vụ là ngân sách Nhà nước và ngân sách Nhà nước đang bị thiệt hại bởi sự quản lý lỏng lẻo của Bộ Xây dựng” - GS Đặng Hùng Võ nói./. (Vov.vn 22/4, Phương Hoài) Về đầu trang

Công bộc 'mượn' nhà

Chuyện thời còn chưa xưa lắm, có một giai thoại vui mà cánh sinh viên quê ở Việt Trì (Phú Thọ) hay kể cho nhau đó là: Thời bao cấp, anh bạn ở cùng phòng “mượn bánh xà phòng”. Chuyện là, mỗi lần giặt quần áo, anh bạn này lại quên xà phòng và thường ới bạn bên cạnh hỏi “mượn”. Nhưng giặt xà phòng thì sẽ hao, nếu cứ “mượn” mãi thì bánh xà phòng sẽ bay đi hết.

Năm 2017, truyền thông từng rộ lên việc một ông bộ trưởng khi về hưu đã hết tiêu chuẩn được thuê vẫn chưa trả nhà công vụ được cấp lúc đương nhiệm. Vụ việc sau hồi ồn ào và được dư luận hỏi thăm đã dịu xuống khi cựu bộ trưởng lên tiếng nhất trí trả lại nhà, thanh minh vì lí do khách quan nên chậm trả (tất nhiên, việc trả chỉ được thực hiện sau khi báo chí vào cuộc mổ xẻ kỹ).

Còn hai ngày nay, câu chuyện mượn nhà một lần nữa lại được “xới” lại khi Bộ Xây dựng đột nhiên gửi “trát” thông báo đòi nhà công vụ đã được cấp cho 12 cựu quan chức khi họ đang trong thời gian làm việc. Họ vốn là những người giữ những vị trí, công việc quan trọng trong các cơ quan Đảng, đoàn, Quốc hội. Lạ là, người ít nhất  thì lần thứ hai nhận được thông báo, còn  hầu hết đều đã nhận tới 3-4 lần.

12 cựu quan chức mà Bộ Xây dựng "đòi nhà", chủ yếu mang hàm thứ trưởng và tương đương đã bị nêu đích danh về việc chây ỳ trong trả nhà công vụ. Sẽ có câu hỏi đặt ra là phải chăng các công bộc này quên hay không muốn trả? Thực tế, cũng đặng chẳng đừng, Bộ Xây dựng mới phải công khai danh tính 12 người được phân nhà công vụ này.

Và đúng như dự đoán, họ đã lập tức liên lạc với cơ quan công quyền bày tỏ cam kết, “hứa” sẽ trả lại nhà đang đi mượn, có người còn xin khất chờ dịch COVID-19 qua đi sẽ trả ngay.  Tuy nhiên, phóng viên tìm gặp thì trong  12  cựu quan chức này, chỉ một người  bắt máy thừa nhận có sự chậm trễ vì muốn chờ cơ chế hóa giá để mua lại nhà; số còn lại tìm cách “né” giới truyền thông.

Nhà công vụ là một phần cấu thành chế độ, chính sách hỗ trợ cán bộ trong giai đoạn trước đây. Việc Chính phủ cấp nhà công vụ cho  các “công bộc” của dân mượn (hay thuê với giá tượng trưng) trong  thời gian họ đương nhiệm không nằm ngoài mục đích là cấp dịch vụ cần thiết bảo đảm cho họ yên tâm “an cư” và dốc lòng vì dân, vì nước. Còn nay, khi họ đã về hưu thì xét đến cùng, những công bộc đó sẽ không còn lí do để “găm” giữ nhà công vụ. Nếu họ cố tình giữ và ở, nó cũng đồng nghĩa họ vẫn đang cố tình tiêu tiền từ ngân sách Nhà nước - bản chất là tiền thuế của người dân nộp.

Ông Lê Như Tiến, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh thiếu niên và Nhi đồng Quốc hội trả lời truyền thông nói rất đúng rằng: “Khi họ thôi làm công vụ rồi thì phải trả lại tài sản cho Nhà nước. Việc rõ như ban ngày thế, làm sao chây ỳ được".  (Tienphong.vn 22/4, Khánh Huyền) Về đầu trang

45/63 tỉnh, thành thu hồi tài sản tham nhũng dưới mức trung bình

Thực tế này chỉ ra việc thu hồi và khắc phục về kinh tế do tham nhũng gây ra vẫn rất khó khăn, nỗ lực trong các năm qua của các địa phương trong cả nước chưa tương xứng với kỳ vọng và yêu cầu của việc xử lý hành vi tham nhũng.

Báo cáo Đánh giá công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN) cấp tỉnh 2018 (PACA INDEX 2018) do Thanh tra Chính phủ vừa công bố nhấn mạnh như vậy.

Tương tự như các năm trước, năm 2018 đánh giá kết quả xử lý các hành vi tham nhũng tập trung vào 3 nội dung cụ thể: (1) đánh giá kết quả xử lý kỷ luật hành chính đối với cá nhân, tổ chức đã xảy ra tham nhũng; (2) kết quả điều tra, truy tố, xét xử tội phạm tham nhũng của các cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh và (3) hiệu quả của địa phương trong việc thu hồi tiền, tài sản, đất đai bị tham nhũng thông qua các biện pháp hành chính, hình sự.

Điểm số trung bình toàn quốc ở nội dung này là 14,487/25 đạt 57,95 % so với yêu cầu (tăng 1,21% so với số điểm năm 2017). So với các kỳ đánh giá trước, năm 2018 là năm đầu tiên về xử lý hành vi tham nhũng có tỉnh đạt điểm tối thiểu (Tuyên Quang, Ninh Thuận đạt 0 điểm).

Trong 3 nội dung thành phần đánh giá, điểm về xử lý hình sự chiếm tỷ lệ cao nhất (bình quân đạt 8,616/10, đạt 86,16% so với yêu cầu), tiếp theo là xử lý hành chính (bình quân đạt 2,437/5, đạt 48.74% so với yêu cầu), cuối cùng là điểm về nội dung thu hồi tài sản (bình quân đạt 3,434/10, đạt 34,34% so với yêu cầu).

Kết quả xử lý hành chính về hành vi tham nhũng có xu hướng giảm và chỉ đạt 48,74% so với yêu cầu, số tỉnh không có kết quả xử lý hành chính là 13 tỉnh (tăng 3 tỉnh so với năm 2017). Đối với 30 tỉnh có kết quả xử lý hành chính ở mức cao (đạt trên 70%), có 13 tỉnh đạt điểm tối đa, giảm 3 tỉnh so với năm 2017.

Về kết quả xử lý hình sự, năm 2018 có 56 tỉnh đạt kết quả xử lý hình sự ở mức cao (đạt trên 70%), tăng 3 tỉnh so với số lượng năm 2017, tương ứng với tổng điểm tăng 3,23% so với năm 2017, đạt ở mức 8.59/10. Có 2 tỉnh không có kết quả về xử lý hình sự đối với tội phạm tham nhũng (Ninh Thuận, Tuyên Quang).

Báo cáo nhận định, việc phát hiện hành vi tham nhũng chủ yếu qua công tác điều tra, truy tố, xét xử là tương đồng với kết quả ở mức cao của việc xử lý hình sự. Việc đánh giá phản ánh năm 2018 các địa phương tiếp tục tập trung nhiều nỗ lực và đạt kết quả khả quan hơn trong việc phát hiện và xử lý hình sự đối với tội phạm tham nhũng.

Tuy xử lý hình sự có tăng hơn nhưng tỷ lệ thu hồi tài sản tham nhũng năm 2018 có xu hướng giảm nhẹ, đạt 34,34% so với yêu cầu, giảm 1,38% so với năm 2017.

Có 3 tỉnh không có kết quả thu hồi tài sản tham nhũng (Ninh Thuận, Quảng Ngãi, Tuyên Quang). Trên bình diện cả nước, đa số các tỉnh (45/63 tỉnh, chiếm gần 72% cả nước) có kết quả thu hồi tài sản tham nhũng dưới mức trung bình (dưới 50%). Việc thu hồi đất đai do hành vi tham nhũng vẫn duy trì ở mức thấp, được ghi nhận ở mức 0,61/5 điểm, chỉ đạt 12,2% so với yêu cầu. Thực tế này chỉ ra việc thu hồi và khắc phục về kinh tế do tham nhũng gây ra vẫn rất khó khăn, nỗ lực trong các năm qua của các địa phương trong cả nước chưa tương xứng với kỳ vọng và yêu cầu của việc xử lý hành vi tham nhũng.

So với năm trước, năm 2018 có khoảng cách khá xa đối với khoảng điểm trong xử lý hành vi tham nhũng: TP Hồ Chí Minh đạt tối đa (21,04 điểm) trong khi Tuyên Quang không có báo cáo đạt được điểm tại nội dung này. Có tới 13 tỉnh không xử lý hành chính. Các tỉnh Bạc Liêu, Ninh Thuận, Quảng Ngãi tuy có ghi nhận trong xử lý hành chính, xử lý hình sự nhưng báo cáo không có số liệu về thu hồi tài sản tham nhũng. Nhìn chung, điểm số trung bình năm 2018 tăng nhẹ so với 2017 là do nhiều địa phương thực hiện quyết liệt, mạnh mẽ hơn trong việc xử lý hình sự đối với tội phạm tham nhũng.

So sánh kết quả xử lý hành vi tham nhũng năm 2018 với các năm trước: Kết quả xử lý hành vi tham nhũng năm 2018 có xu hướng tăng hơn đã phản ánh nỗ lực lớn của các cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án nhân dân các cấp trong việc điều tra, truy tố, xét xử tội phạm tham nhũng tại các địa phương. Có thể nói, sự nỗ lực này tạo tiền đề thuận lợi cho việc thu hồi tài sản do hành vi tham nhũng vào các năm tiếp theo.

Nhìn chung, chỉ số xử lý hành vi tham nhũng trong 3 năm liên tiếp gần đây có kết quả khả quan, năm sau cao hơn năm trước, cho thấy tính chủ động của địa phương trong việc xử lý tội phạm tham nhũng. Bên cạnh đó, kết quả xử lý tội phạm tham nhũng có xu hướng tiến triển hơn so với kết quả đánh giá của các chỉ số khác.

So với năm 2017, năm 2018 điểm đánh giá công tác PCTN bình quân cả nước thấp hơn (chỉ đạt 59,56 điểm, giảm 2,02 điểm so với năm 2017); các kết quả về (A) quản lý Nhà nước, (B) thực hiện các biện pháp phòng ngừa và (C) phát hiện các hành vi tham nhũng đều thấp hơn năm trước nhưng nội dung (D) xử lý hành vi tham nhũng tại các địa phương tiếp tục được duy trì ở mức cao và có xu hướng tiếp tục tăng.

Đối với với điểm chuẩn tại thang điểm đánh giá, tỷ trọng điểm xử lý hành vi tham nhũng lên tới gần 60%, thể hiện ngày càng đạt được kết quả tốt so với yêu cầu.

Xét riêng trong 4 nội dung theo bộ chỉ số đánh giá công tác PCTN, chỉ số đánh giá về xử lý hành vi tham nhũng, bao gồm việc thu hồi tài sản do tham nhũng, luôn cho thấy là công tác khó khăn, phức tạp.

Tuy nhiên, qua đánh giá từ năm 2016 đến nay, nội dung này càng chiếm tỷ trọng cao so với tổng điểm bình quân. Điều này phản ánh cụ thể hiệu quả trong quyết tâm chỉ đạo đấu tranh với tội phạm tham nhũng do Đảng, Chính phủ lãnh đạo trong những năm gần đây - báo cáo chỉ rõ.

Trong một khía cạnh khác, 4 nhóm chỉ số đánh giá công tác PCTN cấp tỉnh, thì nhóm chỉ số của Phần C (Phát hiện các hành vi tham nhũng) và Phần D (Xử lý các hành vi tham nhũng) được coi là nhóm chỉ số đánh giá thực tế công tác đấu tranh với tội phạm tham nhũng tại các địa phương. Có thể thấy, từ khi thực hiện đánh giá, việc phát hiện các hành vi tham nhũng không có mối quan hệ tỷ lệ thuận với việc xử lý hành chính, hình sự và thu hồi tài sản tham nhũng. Nói cách khác, sự gia tăng trong xử lý hành vi tham nhũng có xu hướng không phụ thuộc vào việc phát hiện hành vi tham nhũng. Giảm điểm phát hiện hành vi tham nhũng nhưng điểm xử lý hành vi tham nhũng vẫn tăng. Cụ thể, so với năm đầu tiên đánh giá công tác PCTN, điểm phát hiện hành vi tham nhũng giảm 10,65% (ở mức 89,35%), trong khi điểm xử lý hành vi tham nhũng tăng 37,47% (ở mức 137,47%).

Báo cáo chỉ rõ: Việc đánh giá công tác PCTN nói chung, đánh giá chỉ số phát hiện và xử lý tham nhũng nói riêng đã bám khá sát thực tế tại các địa phương (ý kiến của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Hội nghị toàn quốc về công tác PCTN:  “Công tác phát hiện, xử lý các vụ việc, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, kinh tế được đẩy mạnh và có những chuyển biến tích cực, rõ nét, được coi là điểm sáng trong công tác PCTN thời gian gần đây”). Tuy nhiên, sự tỷ lệ nghịch giữa nội dung phát hiện và xử lý tham nhũng cũng cho thấy việc phát hiện hành vi tham nhũng qua công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, giải quyết tố cáo tham nhũng... tại các địa phương không cải thiện mà có dấu hiệu giảm; trong khi việc xử lý hình sự có dấu hiệu tăng do thực tế nhiều vụ án về tham nhũng còn tồn đọng, phức tạp, kéo dài; việc xử lý các tội phạm về hành vi tham nhũng tập trung vào những vụ án lớn theo chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN. Đồng thời cũng có thể thấy tính quan trọng, cấp thiết của Chỉ thị số 10/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ nhằm góp phần đẩy mạnh hơn nữa việc rà soát, phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng tại cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc giải quyết công việc hàng ngày của người dân và doanh nghiệp. (Thanhtra.com.vn 21/4) Về đầu trang./.

 

     Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.029.671 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này