Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin cải cách hành chính ngày 28/8/2020
1. Không nhập vốn đầu tư công trên Tabmis sẽ không tiêu được tiền
2. Hơn 99% hồ sơ được Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Tiền Giang giải quyết đúng hạn
3. Hà Tĩnh lắp thiết bị đánh giá sự hài lòng của người dân tại các quầy giao dịch hành chính
4. Tổng cục Thuế: Không có hiện tượng bôi trơn khi giải quyết thủ tục hành chính thuế
5. Bộ Tài chính tiếp tục đứng đầu mức độ ứng dụng công nghệ thông tin năm 2019
6. Dấu ấn GTVT 75 năm: Cắt giảm gần 70% điều kiện kinh doanh vì dân, doanh nghiệp
7. Người học lái xe có thể tự học lý thuyết tại nhà
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
8. Sử dụng căn cước công dân gắn chíp điện tử: Vẫn còn những băn khoăn
9. Nỗ lực cải thiện mức độ hài lòng của doanh nghiệp
10. Hủy đề xuất rút ngắn thời hạn giấy phép lái xe, lạm bàn chính sách cài cắm "lợi ích nhóm"
11. Kẽ hở ở các "thiên đường" đổi tiền lấy quốc tịch trên thế giới
CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH
Không nhập vốn đầu tư công trên Tabmis sẽ không tiêu được tiền
Tại hội nghị với các bộ, ngành về giải ngân vốn vay ODA, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà cho biết, nếu các bộ, ngành không nhập kế hoạch vốn trên hệ thống Tabmis sẽ không thanh toán được, nghĩa là không tiêu được tiền.
Theo bà Mai Thị Thùy Dương - Phó Vụ trưởng Vụ Đầu tư, cuối tháng 7, Bộ Tài chính đã có cuộc họp về đẩy nhanh giải ngân ghi thu ghi chi vốn ODA. Lãnh đạo Bộ Tài chính đã chỉ đạo Vụ Đầu tư rà soát việc nhập kế hoạch vốn trên Tabmis của các bộ, ngành.
Vụ Đầu tư đã có công văn gửi các bộ, ngành đẩy nhanh nhập kế hoạch vốn trên Tabmis. Đến nay, về cơ bản các bộ, ngành đã thực hiện nghiêm túc nhập nguồn vốn nước ngoài vào hệ thống Tabmis.
Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà cho biết, khi đã phân bổ dự toán cho các ban quản lý dự án, nếu không đưa vào Tabmis thì không thanh toán được, có nghĩa là không tiêu được tiền, bởi vì đây là hệ thống tự động.
“Khi đã phân bổ cho các dự án thì phải nhập vào Tabmis. Đôi khi các bộ, ngành quên hoặc không để ý”, Thứ trưởng Trần Xuân Hà nói.
Để thúc đẩy giải ngân nguồn vốn đầu tư công nguồn vay nước ngoài, Bộ Tài chính ngay từ đầu năm đã đề nghị các bộ, ngành đẩy nhanh tiến độ, kịp thời giải ngân và nhập vào hệ thống Tabmis. Thời điểm nửa năm, mới chỉ có 7/12 bộ nhập và phân bổ 100% dự toán vốn vay nước ngoài trên Tabmis; 4/12 bộ đã nhập và phân bổ trên 70% dự toán.
Trên thực tế, tình hình nhập và phân bổ dự toán vốn vay nước ngoài trên hệ thống Tabmis đã có nhiều cải thiện, đặc biệt sau khi có các văn bản đôn đốc từ Bộ Tài chính và sau khi có các giải pháp rà soát, chỉ đạo sát sao từ các cơ quan chủ quản.
Trong bối cảnh những tháng đầu năm, do các đơn vị chậm trễ, nên Bộ Tài chính đã kiến nghị các cơ quan chủ quản khẩn trương rà soát phân bổ chi tiết dự toán đến từng dự án, đảm bảo sát tiến độ, nhu cầu giải ngân của dự án và kịp thời nhập vào hệ thống Tabmis để có cơ sở giải ngân. (Thoibaotaichinhvietnam.vn 27/8, Minh Anh)Về đầu trang
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Hơn 99% hồ sơ được Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Tiền Giang giải quyết đúng hạn
Trong 6 tháng đầu năm 2020 Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Tiền Giang đã tiếp nhận hơn 306.000 hồ sơ thủ tục hành chính. Trong đó, có hơn 21.600 hồ sơ là tiếp nhận trực tuyến (chiếm 7,01%). Số hồ sơ đã giải quyết là hơn 283.000, trong đó có 282.766 hồ sơ giải quyết đúng hạn.
Tại Hội nghị sơ kết tình hình hoạt động Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Tiền Giang 6 tháng đầu năm 2020 mới đây, ông Lê Văn Hưởng - Chủ tịch UBND tỉnh Tiền Giang đánh giá cao những kết quả bước đầu mà Trung tâm đạt được. Đồng thời cũng nhấn mạnh: Các sở, ngành cần thực hiện tốt quy chế làm việc tại Trung tâm từ biên chế tổ chức đến cơ chế hoạt động. Cần phân công luân phiên cán bộ làm việc tại Trung tâm và tập huấn cho cán bộ làm việc tại Trung tâm.
Cán bộ tiếp dân phải trực suốt tại Trung tâm, không được chểnh mảng trước dân, chấn chỉnh ngay thái độ chưa chuẩn mực của cán bộ đối với dân. Song song đó, các đơn vị cần phối hợp giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Chung tay phát triển cơ quan hoàn thiện, hiện đại hơn. Chú trọng đẩy mạnh tư vấn, truyền thông về dịch vụ hành chính công trực tuyến để người dân tiếp cận dịch vụ trên Trung tâm nhiều hơn nữa.
Để phục vụ nhu cầu tiếp nhận hồ sơ từ người dân nhanh chóng, Trung tâm đã bố trí 16 quầy tiếp nhận. Tất cả hồ sơ thủ tục hành chính được tiếp nhận từ người dân và doanh nghiệp đều được số hoá lên hệ thống một cửa của tỉnh, đảm bảo an toàn, đúng quy đị và trả kết quả đúng hạn các hồ sơ gửi về qua bưu điện.
Nhờ vậy mà Trung tâm nhận được nhiều đánh giá tích cực về mức độ hài lòng đối với thái độ của công chức, viên chức, về cơ sở vật chất qua thiết bị đánh giá mức độ hài lòng của tổ chức, cá nhân đối với công chức, viên chức tại Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả.
Qua kết quả báo cáo, lãnh đạo các sở ngành có ý kiến cho rằng cần có chế độ riêng và trang bị đồng phục cho cán bộ làm việc tại Trung tâm. Đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền cho người dân biết đến các dịch vụ phục vụ của Bưu điện; Chủ trương về việc tiến hành thu phí, lệ phí bằng hình thức điện tử… (Baophapluat.vn 28/8, PV)Về đầu trang
Hà Tĩnh lắp thiết bị đánh giá sự hài lòng của người dân tại các quầy giao dịch hành chính
Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Hà Tĩnh vừa triển khai thiết bị đánh giá sự hài lòng của người dân ngay tại các quầy giao dịch của các sở, ban, ngành tại trung tâm trên 6 nội dung.
Theo đó, để tiếp tục đánh giá sát mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp đối với sự phục vụ của các sở, ban, ngành trong giải quyết thủ tục hành chính (TTHC), Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh đã tiến hành triển khai thiết bị đánh giá sự hài lòng của người dân ngay tại tất cả các quầy giao dịch TTHC.
Ông Hoàng Tùng Phong - Phó Giám đốc Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh cho biết: Việc triển khai hệ thống đánh giá nhằm thực hiện đúng nội dung của Thông tư 01/2018 của Văn phòng Chính phủ về hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTHC.
Thiết bị sẽ cho phép người dân, doanh nghiệp đến giao dịch đánh giá trên 6 nội dung gồm: tổng thời gian giải quyết TTHC so với quy định; thời gian thực hiện của từng cơ quan đơn vị tham gia giải quyết TTHC; số lần phải liên hệ nơi tiếp nhận hồ sơ để hoàn thiện hồ sơ TTHC; số lượng cơ quan, đơn vị phải liên hệ để hoàn thiện hồ sơ TTHC; công khai thủ tục hành chính; thái độ của cán bộ, công chức, viên chức khi hướng dẫn, lập hồ sơ, tiếp nhận hồ sơ và giải quyết TTHC.
Trước đó, vào tháng 9/2019, Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh đã triển khai hệ thống đo lường sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp đối với cán bộ, công chức công tác tại trung tâm trên 5 cấp độ: rất kém, kém, trung bình, tốt, rất tốt.
Theo đánh giá, việc triển khai thiết bị đánh giá sự hài lòng ngay tại tất cả các quầy giao dịch của các sở, ban, ngành và thông qua 6 nội dung sẽ giúp người dân đánh giá được một cách chi tiết, cụ thể hơn về các quy trình trong xử lý TTHC của các đơn vị, giúp UBND tỉnh nắm bắt được những vướng mắc, bất cập trong giải quyết TTHC của các đơn vị để chấn chỉnh kịp thời. (Baohatinh.vn 27/8, Phúc Quang)Về đầu trang
LĨNH VỰC CẢI CÁCH
Tổng cục Thuế: Không có hiện tượng bôi trơn khi giải quyết thủ tục hành chính thuế
Ngày 27/8, Tổng cục Thuế cho biết không có hiện tượng vòi vĩnh, bôi trơn khi giải quyết thủ tục hành chính thuế như phản ánh của báo chí về việc để một chiếc xe ôtô lăn bánh hợp pháp trên đường, ngoài những khoản phí theo quy định, người dân phải bỏ ra một khoản tiền không hề nhỏ cho những loại phí không tên.
Theo báo cáo của Cục Thuế Hà Nội, bộ phận "một cửa" của Chi cục Thuế Đông Anh có nhiệm vụ tiếp nhận các hồ sơ, thủ tục hành chính thuế, do người nộp thuế nộp trực tiếp tại cơ quan thuế, bao gồm: hồ sơ nộp lệ phí trước bạ ôtô, xe máy, hồ sơ thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất, các văn bản giấy tờ khác.
Tại bộ phận “một cửa” có hai camera giám sát trực tiếp chuyển hình ảnh về bộ phận hành chính và lãnh đạo Chi cục Thuế theo dõi. Mọi thủ tục hành chính, đặc biệt là xử lý hồ sơ nộp lệ phí trước bạ ôtô, xe máy đều được giải quyết nhanh chóng, chính xác.
Liên quan đến thủ tục khai, nộp lệ phí trước bạ, trong những năm qua ngành thuế đã triển khai mạnh các dự án ứng dụng công nghệ thông tin trong thu nộp thuế. Điều này nhằm cải cách thủ tục hành chính, giảm thời gian chi phí và tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp.
Trong năm 2020, Tổng cục Thuế đã tích hợp 120 thủ tục hành chính về thuế lên cổng dịch vụ công quốc gia; đạt 130% kế hoạch được giao, qua đó, đã tạo điều kiện tốt nhất cho người dân và doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế với ngân sách Nhà nước.
Tổng cục Thuế mong muốn, người dân, doanh nghiệp sẽ tăng cường thực hiện các thủ tục hành chính trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia. Qua đó, giảm thời gian chi phí khi thực hiện nghĩa vụ thuế với ngân sách Nhà nước; đồng thời, hạn chế tối đa việc tiếp xúc không cần thiết với cán bộ thuế, góp phần nâng cao tính minh bạch trong quá trình thực hiện công vụ.
Đặc biệt, dịch vụ công thứ 1.000 cung cấp trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia được công bố ngày 19/8/2020 là dịch vụ kê khai, nộp lệ phí trước bạ và nộp tờ khai đăng ký ô tô, xe máy. Để có được kết quả này, từ năm 2016, Tổng cục Thuế đã phối hợp với Cục Đăng kiểm-Bộ Giao thông Vận tải, Cục Cảnh sát giao thông để chia sẻ tích hợp dữ liệu. Đầu năm 2020, đã hoàn thành việc triển khai thí điểm tại Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh.
Ngành thuế đã nỗ lực không ngừng đổi mới, nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin, tích hợp hệ thống quản lý thuế với hệ thống cổng thông tin dịch vụ quốc gia. Do đó, người dân có thể vào khai lệ phí trước bạ điện tử, sau khi khai xong người dân nhận được tin nhắn thông báo mã hồ sơ, số tiền để thực hiện nộp điện tử ngay trên Cổng. Toàn bộ thời gian làm thủ tục chỉ mất từ 10-15 phút thay vì mất nửa ngày nếu nộp hồ giấy như trước đây.
Cùng với việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ngành thuế đã tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng tại địa phương, cơ quan công an kiểm tra, kiểm soát, không để xảy ra tình trạng “cò mồi” tại trụ sở cơ quan thuế, nhất là việc thực hiện thủ tục liên quan đến trước bạ nhà đất, ôtô, xe máy.
Bên cạnh đó, Tổng cục Thuế thường xuyên đào tạo, giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ công chức, đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành quy định và lề lối làm việc, xử lý nghiêm các trường hợp sai phạm. (TTXVN/Bnews.vn 27/8, Thùy Dương)Về đầu trang
Bộ Tài chính tiếp tục đứng đầu mức độ ứng dụng công nghệ thông tin năm 2019
Bộ Tài chính tiếp tục xếp vị trí số 1 trong 17 bộ, cơ quan ngang bộ về xếp hạng mức độ ứng dụng công nghệ thông tin năm 2019, với việc đạt tổng điểm 0,9291.
Theo kết quả đánh giá, xếp hạng mức độ ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) của cơ quan nhà nước năm 2019 vừa được Cục Tin học hóa, Bộ Thông tin và Truyền thông công bố, với việc đạt tổng điểm 0,9291, Bộ Tài chính tiếp tục xếp vị trí số 1 trong 17 bộ, cơ quan ngang bộ được đánh giá năm 2019.
Bốn vị trí tiếp theo vẫn lần lượt thuộc về các Bộ: Công Thương, Thông tin và Truyền thông, Y tế và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Cụ thể, Bộ Tài chính liên tiếp dẫn đầu ở các chỉ số thành phần gồm: Hạ tầng kỹ thuật; trang/cổng thông tin điện tử; cung cấp dịch vụ công trực tuyến; nguồn nhân lực cho ứng dụng CNTT.
Theo đánh giá của Cục Tin học hóa, về tổng thể, chỉ số mức độ ứng dụng CNTT trung bình của khối bộ năm 2019 tăng mạnh so với năm 2018 (năm 2018 là 0,69; năm 2019 là 0,82). Tất cả các chỉ số thành phần trung bình năm 2019 đều tăng so với năm 2018.
Trong đó, chỉ số về hạ tầng kỹ thuật CNTT và ứng dụng CNTT trong hoạt động của các bộ, cơ quan ngang bộ năm 2019 tăng nhiều nhất so với năm 2018.
Điều này chứng tỏ rằng năm 2019, các bộ, cơ quan ngang bộ đã chú trọng hơn trong việc đầu tư hạ tầng kỹ thuật và triển khai nhiều ứng dụng phục vụ phát triển Chính phủ điện tử. (Thoibaotaichinhvietnam.vn 27/8, Đức Minh)Về đầu trang
Dấu ấn GTVT 75 năm: Cắt giảm gần 70% điều kiện kinh doanh vì dân, doanh nghiệp
Áp dụng công nghệ thông tin hiện đại, đơn giản hóa nhiều thủ tục hành chính, giảm thời gian giải quyết, hạn chế tối đa các biểu hiện tiêu cực là những kết quả thiết thực, nổi bật của ngành GTVT trong những năm qua nhằm phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Lãnh đạo Bộ GTVT cho biết, quan điểm chỉ đạo của Bộ là luôn lấy doanh nghiệp, người dân làm trung tâm, động lực phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thúc đẩy, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, người dân tham gia hoạt động kinh doanh và giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp, người dân trong việc tuân thủ các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh trong lĩnh GTVT.
Chính vì vậy, trong thời gian qua, Bộ GTVT đã kịp thời cắt giảm, đơn giản hóa những quy định không cần thiết, không hợp lý, không hợp pháp, là rào cản gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, người dân trong các văn bản QPPL hiện hành, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả và bảo đảm mục tiêu quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp, đặc biệt là bảo đảm tính công khai, minh bạch trong việc thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến hoạt kinh doanh trong lĩnh vực GTVT.
Theo đó, tính đến thời điểm hiện tại, Bộ GTVT đã cắt giảm 384 điều kiện trên tổng số 570 điều kiện kinh doanh thuộc lĩnh vực của Ngành. Riêng quý I/2020, Bộ đã đơn giản, sửa đổi 13 thủ tục hành chính và bãi bỏ 5 thủ tục hành chính. Các thủ tục hành chính sau khi được công bố đều được Bộ GTVT cập nhật và công khai trên Cơ sở Dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính để người dân, doanh nghiệp tra cứu thực hiện.
Về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, kiểm tra chuyên ngành, Bộ GTVT đã hoàn thành rà soát, cắt giảm 50% số mặt hàng thuộc danh mục mặt hàng kiểm tra chuyên ngành.
Bộ GTVT cũng thực hiện đầy đủ các nguyên tắc cải cách về quản lý, kiểm tra chuyên ngành như áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro dựa trên đánh giá phân tích về mức độ tuân thủ của doanh nghiệp và mức độ, quy mô rủi ro của hàng hóa; chuyển mạnh sang hậu kiểm, chủ yếu thực hiện tại giai đoạn lưu thông hàng hóa tại thị trường nội địa; minh bạch về danh mục mặt hàng kiểm tra chuyên ngành kèm mã hồ sơ ở cấp độ chi tiết về chế độ quản lý và chi phí.
Giai đoạn từ nay đến năm 2025, Bộ sẽ tiếp tục cắt giảm, đơn giản hóa ít nhất 20% số quy định và cắt giảm ít nhất 20% chi phí tuân thủ quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh, đồng thời giảm tối đa số lượng văn bản hiện hành có quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ.
Ngoài ra, Bộ cũng sẽ kiểm soát chặt chẽ việc ban hành văn bản có quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực GTVT trên cơ sở các quy định pháp luật, nhất là các văn bản hành chính, Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Nghị định của Chính phủ; ngăn chặn việc phát sinh những quy định không cần thiết, không hợp lý, không hợp pháp và gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, người dân.
Theo thống kê của Trung tâm Công nghệ thông tin (Bộ GTVT), trong tổng số 453 thủ tục hành chính của ngành GTVT, có 366 thủ tục thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ và gần 90 thủ tục liên quan đến các địa phương. Trong 6 tháng đầu năm, tỷ lệ hồ sơ giải quyết trực tuyến trên tổng số hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính của Bộ đạt 20% trở lên, 30% dịch vụ công trực tuyến thực hiện ở mức độ 4; Cổng Dịch vụ công Bộ GTVT cung cấp giao diện cho các thiết bị di động; 100% dịch vụ công được hỗ trợ giải đáp thắc mắc cho người dân, doanh nghiệp. (Tapchicongthuong.vn 28/8, Thùy Dương)Về đầu trang
Người học lái xe có thể tự học lý thuyết tại nhà
Đây là một trong những nội dung đáng chú ý trong dự thảo Luật Bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ... vừa được Bộ Công an trình Chính phủ.
Theo đó, Bộ đề xuất người học lái xe được lựa chọn tự học kiến thức về Luật Giao thông đường bộ nhưng phải đăng ký tại cơ sở đào tạo để được ôn luyện, kiểm tra. Kết thúc khóa học, người học được kiểm tra, cấp giấy chứng nhận hoàn thành chương trình.
Theo quy định hiện nay, học viên học môn lý thuyết (trừ hạng B1) tại các cơ sở đào tạo được theo dõi bằng thiết bị giám sát vân tay. Học viên học tập trung theo đúng số giờ quy định để đảm bảo đủ điều kiện thi sát hạch.
Theo báo điện tử Pháp luật TP.HCM, hiện nay, việc đào tạo, sát hạch giấy phép lái xe do Bộ GTVT quy định, từ tháng 5 học lý thuyết môn học pháp luật giao thông đường bộ đối với học viên học lái ô tô (trừ hạng B1) tại các cơ sở đào tạo lái ô tô được theo dõi bằng thiết bị giám sát vân tay, đồng nghĩa học viên học tập trung theo đúng số giờ quy định để đảm bảo đủ điều kiện thi sát hạch lái xe.
Bên cạnh đó, các cơ sở đào tạo, sát hạch giấy phép lái xe cũng phải trang bị phần mềm theo dõi bằng vân tay mới đủ điều kiện đào tạo, sát hạch lái xe. Tại TP.HCM, từ ngày 11/5 (thời gian các học viên quay trở lại học lái xe sau dịch COVID-19), một số cơ sở không trang bị phần mềm này đã không được tuyển sinh theo quy định. (VTV.vn 28/8)Về đầu trang
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Sử dụng căn cước công dân gắn chíp điện tử: Vẫn còn những băn khoăn
Đề xuất của Bộ Công an về việc căn cước công dân (CCCD) sẽ được gắn chíp điện tử điện tử thay vì mã vạch như hiện nay đang là vấn đề nhận được sự quan tâm của dư luận. Theo đại diện Bộ Công an, thẻ căn cước gắn chíp điện tử sẽ đáp ứng được yêu cầu cải cách hành chính, phát triển Chính phủ điện tử… Nhiều người dân và chuyên gia đồng tình ủng hộ, tuy nhiên một số nêu ý kiến, nên xem xét về hiệu quả, tính bảo mật thông tin cá nhân.
Trước đó tại phiên thảo luận về dự thảo Luật Cư trú (sửa đổi) của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 10/8, đại diện Bộ Công an cho hay, bộ này đang đề xuất gắn chíp điện tử điện tử vào thẻ CCCD thay vì mã vạch như hiện nay. Việc gắn chíp điện tử sẽ giúp truy vấn thông tin nhanh, thuận lợi hơn, được tích hợp thêm dữ liệu của công dân để có thể sử dụng cho nhiều giao dịch, giải quyết nhiều thủ tục.
Về vấn đề này, theo Thiếu tướng Tô Văn Huệ, Cục trưởng Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội (Bộ Công an), Luật CCCD có hiệu lực từ 1/1/2016, Bộ Công an triển khai thực hiện việc cấp CCCD (có mã vạch) tại 16 địa phương như Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hà Nam... Tính đến thời điểm hiện tại, đã cấp được khoảng 16 triệu thẻ CCCD. Bên cạnh đó, người dân cũng đang sử dụng một số loại giấy tờ tùy thân khác như chứng minh nhân dân (CMND) 12 số và CMND 9 số. Trước đó, khi triển khai Dự án Luật CCCD, Bộ Công an đã tính toán đến 2 phương án sử dụng mã vạch hay gắn chíp điện tử. Tuy nhiên, do nhiều hạn chế về hạ tầng kỹ thuật thông tin, kinh phí và nhu cầu của xã hội đối với chíp điện tử chưa phổ biến như hiện nay. Thời điểm đó, sử dụng phôi thẻ chíp điện tử phải mua ở nước ngoài với giá thành cao. Hiện nay, một số DN trong nước đã có thể chủ động sản xuất chíp nên giá thành giảm nhiều.
Cũng theo vị đại diện, sử dụng thẻ CCCD sử dụng chip điện tử điện tử có nhiều ưu điểm hơn so với mã vạch. Trước hết, độ bảo mật cao hơn, có thể lưu trữ được nhiều trường thông tin hơn, có thể tích hợp thêm các thông tin của các bộ, ngành khác về bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bằng lái xe… và phù hợp với xu thế công nghệ số như hiện nay so với việc sử dụng thẻ mã vạch CCCD. Thẻ CCCD có gắn chíp điện tử có lượng thông tin lưu trữ lớn hơn nhiều lần so với thẻ CCCD mã vạch, có thể lưu trữ nhiều loại giấy tờ có giá trị khác…
Đáng chú ý, khi thẻ CCCD gắn chíp điện tử có tích hợp đầy đủ các thông tin, lúc đó người dân thực hiện giao dịch và làm các thủ tục sẽ không phải mang nhiều loại giấy tờ, mà chỉ cần dùng thẻ CCCD có gắn chíp điện tử sẽ thực hiện được các giao dịch. Đặc biệt, mức độ bảo mật của chíp điện tử rất cao nên thông tin định danh của công dân được lưu trên CCCD gắn chíp điện tử là không thể thay đổi và không thể giả mạo, việc đối sánh, sinh trắc học có thể được thực hiện ngay trên chíp, hạn chế tối đa giả mạo danh tính. Ngoài ra, việc xác thực danh tính có thể thực hiện offline mà không cần đường truyền Internet...
Mới đây, Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội (Bộ Công an) cũng đã có văn bản gửi công an 16 địa phương đề nghị tạm dừng tuyên truyền tới người dân việc cấp đổi CMND sang thẻ căn cước công dân hiện tại (có mã vạch), nhằm tiến tới cấp và sử dụng thẻ CCCD gắn chíp điện tử. Tại Hà Nội, trong những ngày qua, lượng người đến Phòng Cảnh sát Quản lý Hành chính về trật tự xã hội (PC06, Công an TP Hà Nội) cấp đổi CMND sang thẻ CCCD mã vạch đã giảm nhiều.
Theo cán bộ Phòng PC06, lượng người đến làm thủ tục cấp đổi giảm tới 50%. Đối với những người không biết thông tin về việc sắp tới sẽ cấp CCCD gắn chíp điện tử, vẫn đến để làm thủ tục cấp đổi CMND sang thẻ CCCD mã vạch. Những trường hợp này cán bộ công an đều giải thích để người dân hiểu và khuyến cáo chưa nên đổi vào thời điểm này. Tuy nhiên, đối với những trường hợp người dân thật sự cần thiết phải cấp đổi, cấp lại, cấp mới CCCD để phục vụ các giao dịch dân sự, PC06 vẫn tiến hành cấp bình thường...
Nhận định về việc dùng thẻ CCCD gắn chíp điện tử, một số chuyên gia cho rằng, ngoài các thông tin, dữ liệu cá nhân phục vụ cho cơ quan quản lý thì thẻ gắn chíp điện tử có thể được tích hợp tài khoản ngân hàng, thẻ ATM, ví điện tử… Việc sử dụng CCCD gắn chíp điện tử còn giúp quản lý, giám sát từ xa hỗ trợ cho người dân cũng như công tác quản lý. Khả năng tương tác, kết nối và truy xuất các dữ liệu từ chíp điện tử cũng nhanh hơn...
Ở một khía cạnh khác, một số ý kiến của người dân, chuyên gia cho rằng, cơ quan chức năng cần tính toán kỹ lưỡng việc cấp CCCD có gắn chíp điện tử. Bởi trong nhiều năm qua, khi việc thay thế CMND bằng CCCD (có mã vạch) vẫn chưa kết thúc, thì có đề án đổi CCCD sang gắn chíp điện tử. Về vấn đề này, Luật sư Hoàng Tùng, Văn phòng luật sư Trung Hoà (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết: Bên cạnh những ưu điểm của CCCD gắn chíp điện tử là tích hợp nhiều thông tin liên quan của một công dân trong chiếc thẻ thì câu hỏi đặt ra là an toàn, bí mật thông tin của công dân khi sử dụng thẻ gắn chíp điện tử được bảo đảm như thế nào?
“Việc sử dụng CCCD có mã vạch hay CMND đều không có vấn đề gì. Tuy nhiên với CCCD có gắn chíp điện tử điện tử thì ai sẽ là người được tra cứu, hoặc kiểm tra những thông tin của công dân trên chiếc thẻ. Liệu rằng chủ nhân chiếc thẻ có bị theo dõi hay lấy trộm thông tin từ những nơi phải trình thông tin cá nhân, như: Đi máy bay, lưu trú, du lịch… và đặc biệt vấn đề bảo mật thông tin trước tội phạm công nghệ cao. Ai được quyền trích xuất thông tin từ chíp điện tử? Hay người dân dùng thẻ trong tâm trạng lo lắng trước vấn đề bảo mật thông tin cá nhân?”- Luật sư Hoàng Tùng băn khoăn.
Cùng quan điểm, TS Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương cho rằng, Bộ Công an phải chứng minh được việc gắn chíp điện tử trên thẻ CCCD sẽ đem lại hiệu quả ra sao, vấn đề an toàn, bảo mật như thế nào cho người dân. Đặc biệt là sự an toàn trước tội phạm công nghệ cao. TS Lê Đăng Doanh cũng chia sẻ, hiện nay trong bối cảnh dịch Covid -19 diễn biến phức tạp, kinh tế Nhà nước và thu nhập của người dân bị ảnh hưởng, không ít trường hợp lâm vào cảnh khó khăn thì có lẽ, nên xem xét tính cần thiết của việc đổi thẻ mới này. Vì chỉ trong vài năm mà phải làm nhiều thủ tục chuyển đổi, như căn cước chuyển đổi từ năm 2016 đến nay, mới 4 năm thì có cần thiết phải thay đổi hay không. Bởi chuyển đổi sang CCCD gắn chíp điện tử sẽ tốn khoản chi phí không hề nhỏ! (Kinhtedothi.vn 28/8, Đạt Lê – Thẩm Hồng)Về đầu trang
Nỗ lực cải thiện mức độ hài lòng của doanh nghiệp
Báo cáo đánh giá về mức độ hài lòng của doanh nghiệp (DN) và thời gian thực hiện thủ tục hành chính (TTHC) qua Cơ chế một cửa quốc gia vừa được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố mới đây cho thấy, 95% số DN đánh giá dễ thực hiện đối với các tính năng cơ bản như: Tạo tài khoản và đăng nhập, xem và in hồ sơ trên Cổng một cửa quốc gia (Cổng MCQG). Tuy nhiên, vẫn có một tỷ lệ đáng kể DN gặp khó khăn khi sử dụng, cũng như một số bất cập cần được khắc phục để tạo thuận lợi hơn cho DN.
Báo cáo được tổng hợp và phản ánh ý kiến từ gần 3.100 DN về 12 TTHC, dịch vụ công có tần suất thực hiện nhiều nhất trên Cổng MCQG, thuộc phạm vi quản lý của các bộ: Công thương, Giao thông vận tải, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT), Khoa học và Công nghệ, Y tế. Kết quả khảo sát cho thấy, phần lớn các chức năng cơ bản trên Cổng MCQG hoạt động tốt, tuy nhiên, nhiều DN gặp vướng mắc khi sử dụng các dịch vụ sâu hơn trên Cổng MCQG. Ðơn cử, 27% số DN cho biết chưa hài lòng với tình trạng hoạt động thiếu ổn định; 20% số DN phản ánh tốc độ xử lý tác vụ trên Cổng MCQG còn chậm,…
Báo cáo cũng chỉ ra rằng, các TTHC thuộc hai bộ Công thương, NN và PTNT dễ thực hiện hơn so với các thủ tục thuộc ba bộ còn lại. Thủ tục "cấp chứng nhận xuất xứ ưu đãi C/O" và "Cấp Giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật nhập khẩu, quá cảnh và vận chuyển nội địa" là hai thủ tục dễ tiến hành nhất với chỉ khoảng 15% số DN cho biết có gặp khó khăn. Có 26% số DN gặp trở ngại với thủ tục "Kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu". Các thủ tục "Cấp giấy phép nhập khẩu trang thiết bị y tế" và "Cấp số tiếp nhận phiếu công bố sản phẩm mỹ phẩm nhập khẩu" của Bộ Y tế có tỷ lệ DN gặp khó khăn trong thực hiện lần lượt ở mức 34% và 29%.
Trưởng ban Pháp chế VCCI Ðậu Anh Tuấn cho rằng, nguyên nhân chính của những khó khăn nêu trên là do hệ thống xử lý thủ tục của các bộ quản lý chuyên ngành chưa "điện tử" hoàn toàn, tình trạng một số DN bị yêu cầu sửa đổi hồ sơ từ ba đến bốn lần còn xảy ra nhiều; thời gian các bộ, ngành xử lý hồ sơ tương đối lâu,… Thậm chí, một số DN cho biết, có những thủ tục DN vừa phải thực hiện qua cổng điện tử vừa phải đến tận nơi thực hiện là điều không hợp lý. Vì vậy, thời gian tới, cần cải thiện chức năng và sự vận hành của Cổng MCQG, khắc phục những trục trặc về đăng ký và sử dụng chữ ký số; nâng cấp các chức năng giải đáp vướng mắc cho DN khi giải quyết TTHC; bổ sung các dịch vụ giá trị gia tăng hỗ trợ DN. Bên cạnh đó, tiếp tục thúc đẩy việc phát triển hệ thống công nghệ thông tin tập trung phục vụ triển khai cơ chế một cổng quốc gia. Nâng cấp kỹ thuật và bảo trì thường xuyên để Cổng MCQG hoạt động ổn định, tăng tốc độ xử lý tác vụ và giải quyết trục trặc kỹ thuật. Nhất là, cần bổ sung chức năng thanh toán điện tử trên Cổng MCQG nhằm tạo thuận lợi hơn cho DN thực hiện TTHC.
Việt Nam hiện là một trong những nền kinh tế có độ mở lớn nhất thế giới. Do đó, việc tạo thuận lợi thương mại, nhất là cải cách về TTHC xuất, nhập khẩu là cách thức để Việt Nam đón nhận các cơ hội từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Cộng đồng DN cũng ghi nhận những nỗ lực của Chính phủ và các bộ, ngành khi đưa ra nhiều giải pháp, như: Ðơn giản hóa TTHC, áp dụng thủ tục hải quan điện tử, triển khai hệ thống quản lý giám sát hải quan tự động để hỗ trợ tốt hơn cho hoạt động xuất, nhập khẩu của DN. Nhiều ý kiến cho rằng, việc triển khai Cổng MCQG đã mang lại những thay đổi tích cực về thời gian và chi phí thực hiện TTHC cho DN, tuy nhiên, sự thay đổi này không đồng đều giữa các thủ tục và các bộ, ngành.
Cụ thể, có 10 trong số 12 TTHC ghi nhận thời gian DN phải dành ra để thực hiện thủ tục đã giảm đi. Số ngày tiết kiệm được so với phương thức truyền thống khoảng từ một đến ba ngày và số ngày giải quyết thủ tục nhìn chung đều nằm trong khoảng thời hạn theo quy định của các văn bản pháp luật. Có tám TTHC ghi nhận chi phí giảm đáng kể so với phương thức cũ. Chính vì vậy, để tạo thuận lợi hơn nữa cho DN sử dụng Cổng MCQG, cộng đồng DN cho rằng, các bộ, ngành cần tiếp tục rà soát, sửa đổi các quy định còn bất cập, gây phiền hà cho DN, đồng thời cắt giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho DN, đơn giản hóa các khâu TTHC và giảm bớt các giấy tờ không cần thiết.
Theo Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam Trương Văn Cẩm, Cổng MCQG phải kết nối đồng bộ các hệ thống của từng bộ, ngành, tránh việc DN phải tương tác nhiều hệ thống và chuyển đổi dữ liệu qua mạng. Vì vậy, rất cần sự vào cuộc của tất cả các bên thì cơ chế một cửa quốc gia mới vận hành hiệu quả, thông suốt. Cùng với đó, thiết bị công nghệ cho cả hệ thống cần được đồng bộ hóa để vận hành trôi chảy, giải đáp vướng mắc cho DN khi thực hiện TTHC và cung cấp thêm một số tiện ích hỗ trợ DN trên Cổng MCQG.
Có thể thấy, việc thực hiện thủ tục trên Cổng MCQG liên quan tới rất nhiều cơ quan, đơn vị, cho nên việc đồng bộ các thủ tục giữa các cơ quan cần sớm triển khai để hỗ trợ mạnh mẽ hơn cho DN. Theo đó, thời gian tới, cần đẩy nhanh việc triển khai các TTHC mới trên Cổng MCQG theo kế hoạch, đẩy mạnh việc minh bạch thông tin về tiến độ giải quyết TTHC, nâng cao chất lượng các giải đáp thắc mắc của DN. Mặt khác, tiếp tục cải thiện tính công khai kết quả giải quyết thủ tục, thống nhất và đơn giản hóa các biểu mẫu, giấy tờ dễ hiểu với DN và thực hiện chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành trong giải quyết thủ tục cho DN. Nghiên cứu mở "kho dữ liệu" dùng chung để các cơ quan liên quan có thể sử dụng khi giải quyết TTHC. Ðặc biệt, cần áp dụng triệt để hồ sơ văn bản điện tử, loại bỏ hiện tượng vừa làm thủ tục trên Cổng MCQG, vừa nộp hồ sơ giấy tại cơ quan quản lý chuyên ngành. (Nhandan.com.vn 28/8, Minh Khôi)Về đầu trang
Hủy đề xuất rút ngắn thời hạn giấy phép lái xe, lạm bàn chính sách cài cắm "lợi ích nhóm"
Mấy ngày qua, đề xuất rút ngắn thời hạn GPLX từ 10 năm xuống 5 năm của bộ Công an trở thành tâm điểm của dư luận. Đề xuất này vấp phải sự phản đối từ các nhà chuyên môn khi vừa đưa ra ít ngày, sau đó lại hủy bỏ. Xung quanh câu chuyện cơ quan soạn thảo luật đưa ra đề xuất gây trang tranh cãi, PV Người Đưa Tin Pháp Luật đã có cuộc trao đổi với GS.TS Từ Sỹ Sùa, giảng viên cao cấp trường đại học GTVT.
PV: Thời gian qua, việc cơ quan soạn thảo luật đưa ra những quy định gây tranh cãi xảy ra khá phổ biến. Thậm chí , có đề xuất “sáng đưa- chiều rút” tương tự như việc rút ngắn thời hạn GPLX từ 10 năm xuống 5 năm mà bộ Công an đưa ra. Ông nghĩ sao về thực trạng này?
GS.TS Từ Sỹ Sùa: Ngay ban đầu tiếp cận với đề xuất rút ngắn thời hạn GPLX mà bộ Công an đề xuất, tôi đã thấy có sự bất cập và không khả thi. Tôi cũng thẳng thắn đặt ra câu hỏi với nhà báo: Vì sao lại đưa ra đề xuất rút ngắn thời hạn của GPLX, liệu có xảy ra việc trục lợi chính sách?
Việc xây dựng văn bản luật đều cần phải có sự nghiên cứu, tổ chức các cuộc hội thảo để lấy ý kiến rộng rãi, đặc biệt là phải tham khảo ý kiến của chính người trong cuộc. Xác định thời hạn GPLX cần phải tính toán một cách kỹ lưỡng, thận trọng bởi đây là vấn đề gây ảnh hưởng đến rất nhiều người, phải căn cứ vào thực tiễn, luận cứ khoa học. Cụ thể với đề xuất rút ngắn thời hạn GPLX mà bộ Công an đưa ra trước đó, người ảnh hưởng trực tiếp, cần lấy ý kiến chính là những người học và được cấp GPLX. Đồng thời, khi đưa ra đề xuất, bộ Công an cần tham khảo thời hạn GPLX đang áp dụng tại các nước trên thế giới để đối chiếu, so sánh với tình hình trong nước. Qua đó mới có thể đưa ra một sự lựa chọn phù hợp và khoa học nhất.
PV: Nói như vậy, bất kỳ một chính sách nào được đưa ra cần có phân tích đánh giá tác động, thưa ông?
GS.TS Từ Sỹ Sùa: Đúng vậy, một đề xuất đưa ra cần dựa trên đánh giá tác động và nghiên cứu thực tiễn. Đối chiếu với đề xuất trước đó của bộ Công an trong dự thảo luật Đảm bảo trật tự ATGT, thời hạn của GPLX rút ngắn xuống 5 năm, việc rút ngắn nhằm mục đích gì?
Trong 10 năm chỉ phải đổi lại GPLX 1 lần thì nay phải đổi hai lần gây phiền toái, tốn kém cho người dân. Việc làm thủ tục cấp đổi GPLX ngoài việc phải khám sức khoẻ lại cho lái xe thì chi phí tiền lệ phí cấp đổi cũng sẽ gây tốn kém cho người dâu. Đặc biệt là việc người dân phải tốn nhiều thời gian đi lại. Đối với người còn trẻ, sức khỏe ổn định mà rút thời hạn xuống 5 năm sẽ gây lãng phí, tốn kém, không cần thiết cho người dân. Thời hạn GPLX hạng B giữ nguyên như hiện nay là hợp lý. Nếu cơ quan quản lý Nhà nước có mục đích rõ ràng trong đổi GPLX là cập nhật kiến thức cho người dân thì việc đổi mới có ý nghĩa.
GS.TS Từ Sỹ Sùa: Nhiều PV: Mặc dù đề xuất đã được bãi bỏ nhưng có luồng ý kiến cho rằng, nhiều vụ TNGT liên quan đến sách hạch GPLX, việc rút ngắn này sẽ kiểm soát lái xe tốt hơn và đề xuất cũng “có lý”, thưa ông?
người cho rằng, điều quan trọng nhất trong công tác đào tạo và cấp GPLX không phải là câu chuyện thời hạn bằng lái kéo dài bao lâu mà là có giảm được TNGT hay không. Tuy nhiên, không thể căn cứ vào số ít hiện tượng, số vụ tai nạn để minh họa và áp vào cho số đông.
Rõ ràng, với một chính sách đưa ra mà gây phiền hà cho dân thì phải rút lại là đúng. Bởi trong quá trình thực tiễn, chính sách đó đang ổn định thì không nên thay đổi. Còn nếu muốn thay đổi thì phải có sự thuyết phục, sự phân tích khoa học và tuyệt đối không được “cài cắm” lợi ích nhóm. Còn nếu không cần thiết thì có thể thực hiện chương trình bổ túc kiến thức bằng các khóa bồi dưỡng, chứ không nhất thiết cứ phải rút ngắn thời hạn GPLX xuống còn 5 năm mới là hiệu quả.
Ông Lê Hồng Sơn, nguyên Cục trưởng cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (bộ Tư pháp) nhận định: Việc tuân thủ quy trình, cơ chế soạn thảo, ban hành văn bản hiện nay chưa nghiêm chỉnh. Để tránh tình trạng văn bản không đi vào đời sống, theo ông Sơn, căn cơ nhất là rà soát tổng thể hệ thống pháp luật; công tác lấy ý kiến cộng đồng, thẩm định, thẩm tra phải được hoàn thiện hơn, để nghe nhiều tai, góp ý nhiều chiều, với sự giám sát độc lập từ phía người dân, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội. Song song đó, cần tách bạch giữa bộ phận làm chính sách và bộ phận thực thi chính sách. Bởi nếu vừa trực tiếp thực thi, vừa đồng thời làm chính sách dễ dẫn đến “cài cắm” lợi ích. Ngoài ra, phải có cơ chế ràng buộc trách nhiệm với những tổ chức, cá nhân đưa ra những văn bản pháp quy kém hiệu quả, khả năng thực thi thấp...
PV: Vậy theo ông, làm sao xóa bỏ tình trạng xây dựng văn bản “trên trời”, vừa đề xuất đã phải rút?
GS.TS Từ Sỹ Sùa: Tôi nhớ, một vị ĐBQH từng lên tiếng “không thể không quản lý được thì đưa ra những đề xuất rất buồn cười để dư luận ồn lên, không đáng có”. Từ những tranh cãi xung quanh một số văn bản pháp luật thời gian gần đây cho thấy, vấn đề chất lượng văn bản pháp luật còn thấp hoặc quá lạc hậu. Thực tế này đòi hỏi các bộ, ngành phải coi việc rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật thuộc lĩnh vực được phân công là nhiệm vụ trọng tâm. Trong đó, nhất thiết phải xây dựng cơ chế ràng buộc trách nhiệm của những người soạn thảo văn bản vô lý, thiếu tính khả thi. (Khoe365.nguoiduatin.vn 28/8)Về đầu trang
TIN THẾ GIỚI
Kẽ hở ở các "thiên đường" đổi tiền lấy quốc tịch trên thế giới
Việc một số nước cho công dân nước ngoài nhập tịch thông qua đầu tư làm dấy lên lo ngại về nguy cơ tội phạm hay quan tham lợi dụng kẽ hở để biến đây thành các thiên đường trú ẩn.
Sau cuộc bầu cử tổng thống năm 2016, từng có nhiều người Mỹ tính chuyện rời bỏ đất nước đến mức trang web nhập cư của Canada đã bị sập vì quá tải. Xu hướng này hiện nóng trở lại vào thời điểm cận kề cuộc bầu cử lãnh đạo Nhà Trắng năm nay. Theo một cuộc khảo sát mới đây của YouGov, 31% người Mỹ được hỏi tiết lộ quan tâm đến việc nhập cư vào nước khác, nếu ứng cử viên tổng thống họ ủng hộ không giành chiến thắng.
Theo tạp chí Forbes, khi dịch bệnh giới hạn việc đi lại và sức mạnh hộ chiếu đang nắm giữ bị giảm sút, không có gì ngạc nhiên nếu ngày càng nhiều người Mỹ tìm hiểu cách thức có được hộ chiếu thứ hai, cơ hội nhập cư vào một quốc gia khác hay đơn giản là quyền đi đến nhiều nơi một cách tự do hơn. Xu hướng không chỉ rộ lên ở Mỹ mà còn xuất hiện tại nhiều nơi khác.
Các chuyên gia cho biết, quá trình xét cấp quốc tịch nhìn chung khá phức tạp. Bạn thường phải mất tới ít nhất 5 năm sinh sống tại một quốc gia nào đó mới có đủ điều kiện đăng ký xin nhập tịch nước ấy. Ngoài ra, tới 1/2 số quốc gia trên thế giới không chấp nhận tình trạng song tịch, đồng nghĩa bạn sẽ phải từ bỏ quyền công dân của nước đang có hộ chiếu, mới được phép nhập quốc tịch vào đất nước họ.
Tuy nhiên, vẫn có một số ít quốc gia sẵn sàng chào đón công dân nước khác nhập tịch với một khoản phí nhất định, thông qua những chương trình có tên gọi chính thức là "cấp quyền công dân và hộ chiếu thứ hai thông qua hoạt động đầu tư".
Thống kê mới nhất tính đến hết tháng 7/2020 của Forbes cho thấy, nhóm này bao gồm một số nước thuộc vùng Caribbe (St. Kitts & Nevis, St. Lucia, Antigua & Barbuda, Dominica, Grenada), một số nước ở châu Âu (Bồ Đào Nha, Malta, Cộng hòa Síp, Áo, Moldova, Montenegro, Thổ Nhĩ Kỳ), New Zealand, Jordan và Vanuatu.
Juerg Steffen, Tổng giám đốc điều hành công ty Mỹ Henley & Partners chuyên cung cấp dịch vụ hỗ trợ nhập quốc tịch nước ngoài nhấn mạnh, lĩnh vực này hiện khá phát triển do cung và cầu đều tăng. "Ngày càng có nhiều quốc gia và những người giàu có coi việc nhập cư thông qua đầu tư là một lợi thế cạnh tranh. Đây còn được xem như một giải pháp bảo đảm an toàn tối thiểu trong một thế giới đầy biến động hiện nay”, ông Steffen nói.
Theo BBC, các chương trình cấp quốc tịch thông qua hoạt động đầu tư (CBI) đã tồn tại từ nhiều thập kỷ qua, chủ yếu nhằm giúp các nước tăng thu ngân sách. Luật sư Thụy Sỹ Christian Kalin ước tính, đây là ngành công nghiệp mang lại tổng doanh thu toàn cầu tới 25 tỷ USD mỗi năm.
Mỗi nước có yêu cầu khác nhau cho các chương trình CBI, cho phép người nước ngoài đầu tư vào các dự án bất động sản và các hoạt động kinh doanh, mua nhà hoặc tài trợ tiền trực tiếp cho chính phủ để đổi lấy việc được cấp hộ chiếu hay quyền công dân.
Những chương trình như vậy được biết đến nhiều nhất ở vùng Caribbe, nơi sở hữu các bãi biển cát trắng tuyệt đẹp với đòi hỏi đầu tư tối thiểu ở mức thấp và không yêu cầu người muốn nhập tịch phải sinh sống tại đó một thời gian. Thủ tục xét duyệt cấp quốc tịch nhanh chóng, chỉ trong vòng vài tháng cũng là yếu tố hấp dẫn các nhà đầu tư.
Ví dụ, ở đảo quốc Antigua & Barbuda, bạn chỉ cần bỏ ra 100.000USD (hơn 2,3 tỷ đồng) quyên tặng vào quỹ phát triển đất nước cộng với một khoản đầu tư bất động sản để được cấp ngay các hộ chiếu dành cho gia đình có 4 người. Những người mang hộ chiếu Antigua & Barbuda hiện được miễn thị thực đến 151 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Trong khi đó, các nước giàu đang "ra giá" quốc tịch cao hơn nhiều. Ví dụ, để được cấp hộ chiếu New Zealand, các nhà đầu tư cần chi ít nhất 2 triệu USD (hơn 46,3 tỷ đồng) trong vòng 4 năm. Việc trở thành công dân của Cộng hòa Síp đòi hỏi các khoản đóng góp và đầu tư bất động sản trung bình 2,5 triệu USD (gần 58 tỷ đồng), trong khi chi phí để được cấp hộ chiếu Áo tối thiểu là 3,5 triệu USD (trên 81,1 tỷ đồng).
Đáng chú ý, các chương trình CBI đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế của những "thiên đường mua bán quốc tịch". Tại St. Kitt & Nevis, hộ chiếu là mặt hàng xuất khẩu lớn nhất và doanh thu từ việc bán quốc tịch cho người nước ngoài được tin là đã giúp nước này thoát khỏi tình trạng nợ nần cũng như thổi bùng cơn sốt xây dựng. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), lượng tiền thu được từ chương trình trong năm 2014 tương đương 14% GDP của St. Kitt & Nevis. Một ước tính khác cho rằng, tỷ lệ này lên đến 30% GDP của đảo quốc trong năm 2015.
Tương tự, doanh thu từ các chương trình CBI lên tới 10% GDP đã giúp Dominica có thêm nguồn ngân sách đáng kể để phục hồi kinh tế trước sự tàn phá của của 2 cơn bão hủy diệt Erika và Maria trong các năm 2015, 2017.
Kể từ khi bắt đầu được triển khai vào thập niên 1980, các chương trình CBI đã vấp phải không ít ý kiến phản đối, với lí do chúng thiên vị nhóm người giàu có.
BBC trích dẫn ví dụ về Andrew Henderson, một doanh nhân Mỹ rủng rỉnh tiền bạc đang nắm trong tay tới 4 hộ chiếu và dự định sưu tầm cuốn hộ chiếu thứ 5. Ông Henderson thừa nhận, việc có nhiều quốc tịch cho phép ông đi lại đây đó tự do hơn, có nhiều cơ hội làm ăn hơn với mức thuế phải đóng thấp hơn ở nhiều nước.
Trước chính sách "đổi tiền lấy quốc tịch" hợp pháp, dễ dàng và nhanh chóng dành cho các nhà đầu tư ở một số nước, nhiều người cũng lo ngại CBI có thể bị các đối tượng tham nhũng, rửa tiền, trốn thuế và thậm chí cả các phần tử khủng bố ngoại quốc lợi dụng để có được nơi trú ẩn an toàn, trốn tránh sự trừng phạt của luật pháp.
Thực tế, theo báo The Economist, Low Taek Jho, nhà tài phiệt Malaysia đang có tên trong danh sách truy nã của Kuala Lumpur vì liên quan đến bê bối thất thoát hàng tỷ USD tại Quỹ đầu tư nhà nước 1MDB, đã được St. Kitt & Nevis cấp hộ chiếu. Mehul Choksi, một tỷ phú Ấn Độ bị New Delhi truy nã vì dính líu tới vụ lừa đảo trị giá 2 tỷ USD tại Ngân hàng quốc gia Punjab, đã chuyển đến Antigua & Barbuda vào tháng 1/2018 sau khi được cấp quyền công dân danh dự vào năm trước đó.
Ngoài ra, chương trình CBI của St. Kitt & Nevis đã gặp rắc rối với Bộ Tài chính Mỹ khi các điệp viên Iran bị tố dùng hộ chiếu của đảo quốc để rửa tiền cho các ngân hàng tại Tehran, vi phạm lệnh trừng phạt của Washington. Một phóng sự điều tra độc quyền do hãng tin Al Jazeera thực hiện gần đây cũng cho thấy, Cộng hòa Síp đã tạo điều kiện cho nhiều chính khách, quan chức ngoại quốc đang bị điều tra hoặc tình nghi "có nguy cơ tham nhũng cao" mua quốc tịch.
Dù Hiệp hội Các tổ chức biên giới Borderpol thống kê chỉ khoảng 1% số cá nhân được các chính phủ phê duyệt CBI có liên quan đến hoạt động phi pháp, nhưng giới quan sát đã lên tiếng báo động về những lỗ hổng dễ bị bọn tội phạm khai thác để qua mặt hệ thống xét duyệt di dân thông thường.
Để giải quyết vấn đề, tháng 1/2019, Ủy ban châu Âu (EC) đã ban hành báo cáo về các chương trình CBI, công nhận việc các nước thành viên Liên minh châu Âu (EU) có quyền cấp hộ chiếu cho những nhà đầu tư đủ điều kiện và không có hồ sơ "mờ ám". Song, cơ quan này cũng nhấn mạnh đến các rủi ro liên quan và kêu gọi chính phủ các nước minh bạch về việc xét duyệt CBI.
Bên cạnh đó, EC thành lập một nhóm chuyên gia đến từ các nước thành viên để phát triển một bộ kiểm tra an ninh chung và đề xuất các bước quản trị tốt những chương trình này.
Dù liên minh chưa có quy định và chế tài xử phạt các nước thành viên để xảy ra bê bối CBI, nhưng các quốc gia EU khẳng định đang và sẽ siết chặt mọi quy trình sàng lọc, thẩm định những người xin nhập tịch.
Jonathan Cardona, Giám đốc chương trình của Malta cho biết, chính phủ nước này đã duyệt cấp 900 hộ chiếu trong vòng 4 năm, nhưng từ chối 22% số người nộp đơn đăng ký, chủ yếu vì sự thiếu rõ ràng về nguồn gốc tài sản, thu nhập của họ. Trong khi đó, tháng 7/2020, Cộng hòa Síp đã chính thức thông qua luật tước quyền công dân của những người nhập tịch nếu họ phạm tội nghiêm trọng. (Vietnamnet.vn 27/8, Tuấn Anh)Về đầu trang./.