Bản tin cải cách hành chính ngày 23/11/2020

Font size : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1. 20 tỉnh, thành phố chi trả trợ cấp người có công qua bưu điện

2. Bình Phước: Bứt phá trong cải cách thủ tục hành chính để phục vụ nhân dân

3. Quảng Ninh: Cải thiện thực chất chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

4. An Giang: Châu Đốc đẩy mạnh cải cách hành chính trong hệ thống chính trị

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

5. Sửa quy định về nộp thuế nhằm hạn chế chiếm dụng ngân sách

6. Bộ NN-PTNT tiếp tục cải cách tinh gọn tổ chức bộ máy

7. Triển khai hệ thống miễn giảm hoàn thuế và không thu thuế điện tử

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

8. Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức cuối năm: 10 thông tin cần biết

9. Chuyển biến nhận thức từ Chỉ thị số 10

         

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

20 tỉnh, thành phố chi trả trợ cấp người có công qua bưu điện

Theo thống kê của Bộ LĐ-TB&XH, cả nước có 20 tỉnh, thành phố đã triển khai thí điểm chi trả trợ cấp ưu đãi người có công hàng tháng qua hệ thống bưu điện. Tổng số tiền chi trả trợ cấp ưu đãi người có công từ năm 2016 đến nay lên đến 5.800 tỷ đồng.

Bộ LĐ-TB&XH cho biết, nhằm đổi mới công tác chi trả trợ cấp ưu đãi cho người có công với cách mạng theo phương thức hiện đại, nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, tạo sự minh bạch cũng như giảm tải áp lực cho cán bộ xã, phường trong điều kiện Chính phủ yêu cầu tinh giản biên chế, từ năm 2016, cơ quan này đã phối hợp với Bưu điện Việt Nam thí điểm chi trả qua hệ thống Bưu điện.

Sau 3 năm thực hiện, từ chỗ thí điểm tại 6 địa phương, nay con số này đã lên tới 20 tỉnh, thành phố. Theo khảo sát của Bộ LĐ-TB&XH tại 20 địa phương, tỉ lệ hài lòng của người hưởng theo phương thức chi trả mới đều đạt khá cao.

Theo số liệu thống kê, đến tháng 11/2019, toàn quốc đã triển khai thí điểm chi trả trợ cấp ưu đãi người có công hàng tháng qua hệ thống bưu điện tại 20 tỉnh, thành phố. Trong đó, 16 tỉnh đã thực hiện bàn giao công tác chi trả trợ cấp ưu đãi người có công qua hệ thống bưu điện trên địa bàn toàn tỉnh, còn lại 04 tỉnh mới triển khai thí điểm tại địa bàn một số huyện, cụ thể: Quảng Ninh, Ninh Thuận, Thái Nguyên thí điểm tại 3 huyện, Nghệ An thí điểm tại 5 huyện.

Tính từ thời điểm triển khai của mỗi tỉnh đến 30/9/2019, cơ quan Bưu điện đã triển khai chi trả 3.476.125 lượt đối tượng hưởng với số tiền chi trả gần 5.800 tỷ đồng.

Đối với chi trả trợ cấp ưu đãi người có công một lần, 8/20 tỉnh đã thực hiện chi trả qua bưu điện bao gồm: An Giang, Đà Nẵng, Sóc Trăng, Nghệ An, Đăk Nông, Hưng yên, Quảng Ninh, Thanh Hóa với tổng số tiền chi trả trợ cấp một lần xấp xỉ 96 tỷ đồng cho 135.384 lượt đối tượng hưởng.

Theo ông Phạm Quang Phụng, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch và tài chín (Bộ LĐ-TB&XH)mô hình chi trả qua Bưu điện đã tách việc chi trả chế độ với công tác quản lý đối tượng, góp phần giảm công việc cho cán bộ chi trả xã, phường để họ có thời gian tập trung cho công tác chuyên môn nghiệp vụ.

Từ đó đẩy nhanh tiến độ xác lập hồ sơ đối tượng, đảm bảo tốt hơn công tác thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng. Đồng thời góp phần cải cách thủ tục hành chính và tinh giản biên chế theo chỉ định của Chính phủ.

Đặc biệt, việc chi trả này cũng tách bạch trong việc chi trả và tham mưu hồ sơ hưởng chế độ chính sách cho đối tượng, tránh được những rủi ro có thể xảy ra trong việc thực hiện chính sách người có công, bên cạnh đó nguồn tiền chi trả được quản lý chặt chẽ, đảm bảo an toàn hơn.

Bộ LĐ-TB&XH cho biết, với hiệu quả ban đầu được đánh giá tốt, cơ quan này sẽ xin ý kiến Chính phủ mở rộng mô hình chi trả trợ cấp người có công qua hệ thống bưu điện tại nhiều địa phương hơn nữa trong thời gian tới. (An ninh Thủ đô 23/11, tr7, An Nhiên)Về đầu trang

Bình Phước: Bứt phá trong cải cách thủ tục hành chính để phục vụ nhân dân

Một trong những bứt phá của Công an tỉnh Bình Phước trong năm 2020 được ghi nhận chính là tập trung thực hiện cải cách hành chính (CCHC). Các đơn vị chức năng đã chủ động đề xuất áp dụng các biện pháp có lợi cho người dân, giảm thiểu thời gian đi lại, tiết kiệm các chi phí không cần thiết.

Kết quả mức độ hài lòng của cá nhân, tổ chức trong giải quyết TTHC năm 2020 của Công an tỉnh Bình Phước đã có sự cải thiện rõ rệt, từ 82,58% năm 2019 đã đạt 100% trong năm 2020.

Theo lãnh đạo Công an tỉnh Bình Phước, năm 2019, công tác CCHC gặp một số khó khăn như thiếu kinh phí và người thực hiện, cơ sở vật chất tại một số đơn vị chưa đảm bảo dẫn đến kết quả mức độ hài lòng của cá nhân, tổ chức trong giải quyết TTHC năm 2019 của Công an tỉnh không cao (chỉ đạt 82,58%, xếp hạng thứ 59/63). Trước tình hình trên, ngay từ đầu năm 2020, Công an tỉnh Bình Phước đã tổ chức hội nghị nhằm chỉ rõ những hạn chế, thiếu sót để rút kinh nghiệm và đưa ra các giải pháp nâng cao kết quả giải quyết TTHC trong Công an tỉnh.

Nhờ sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng ủy - lãnh đạo Công an tỉnh, các đơn vị đã tích cực, chủ động thực hiện CCHC, nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công theo yêu cầu của Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020 và Chỉ thị số 06/CT-BCA-V19 của Bộ trưởng Bộ Công an về việc đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC giai đoạn 2011-2020 trong CAND. Do đó, chất lượng của nhiều dịch vụ công trong Công an tỉnh đã được nâng lên đáng kể.

Công tác CCHC nói chung và kết quả đo lường sự hài lòng của người dân năm 2020 nói riêng cho thấy sự phục vụ của các đơn vị thuộc Công an tỉnh Bình Phước đối với người dân, tổ chức thông qua cung ứng dịch vụ công ngày càng tốt hơn và người dân, tổ chức ngày càng hài lòng hơn; không còn sự phàn nàn của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan, tổ chức có chức năng giải quyết TTHC trong Công an tỉnh Bình Phước.

Lãnh đạo Công an tỉnh Bình Phước cho biết theo xếp hạng của Bộ Công an, kết quả mức độ hài lòng của cá nhân, tổ chức trong giải quyết TTHC năm 2020 của Công an tỉnh Bình Phước đã có sự cải thiện rõ rệt, từ 82,58% năm 2019 (xếp hạng thứ 59/63 toàn quốc), sang năm 2020 đã đạt 100% (xếp hạng thứ 8/63). (Cand.com.vn 22/11, Nguyễn Cảnh)Về đầu trang

Quảng Ninh: Cải thiện thực chất chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

Một trong những nhiệm vụ quan trọng trong thực hiện nâng cao chất lượng cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh được tỉnh Quảng Ninh đưa ra là tiếp tục cải thiện thực chất các thành phần trong chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI).

Năm 2019 là năm thứ 3 liên tiếp Quảng Ninh bảo vệ thành công ngôi vị quán quân PCI với 73,4 điểm, tăng 3,04 điểm so với năm 2018 và đạt điểm số cao nhất từ trước đến nay. Theo phân tích của các chuyên gia khi thực hiện khảo sát PCI năm 2019, cơ bản các chỉ số thành phần trong chỉ số PCI của tỉnh Quảng Ninh đều có sự cải thiện rõ nét.

Trong đó đáng chú ý là có 8/10 chỉ số thành phần tiếp tục được nâng cao. Có 82% doanh nghiệp cho biết vướng mắc, khó khăn được tháo gỡ kịp thời và 93% doanh nghiệp hài lòng với phản hồi, cách giải quyết của các cơ quan chính quyền tỉnh. Có 76% doanh nghiệp đánh giá thời gian giải quyết thủ tục hành chính được rút ngắn hơn so với quy định, 82% doanh nghiệp cho biết cán bộ thân thiện trong quá trình giải quyết thủ tục cho doanh nghiệp và 87% doanh nghiệp đánh giá cán bộ giải quyết công việc hiệu quả.

Đặc biệt là có đến 89% doanh nghiệp đánh giá “UBND tỉnh vận dụng pháp luật linh hoạt nhằm tạo môi truờng kinh doanh thuận lợi cho khu vực kinh tế tư nhân” (tăng 5% so với năm 2018) và 82% doanh nghiệp nhận định “UBND tỉnh năng động, sáng tạo trong giải quyết vấn đề mới phát sinh” (tăng 10% so với năm 2018).

Điều đó có thể thấy chất lượng cải thiện các chỉ số thành phần PCI của tỉnh Quảng Ninh đã có sự tăng trưởng vững chắc, thực chất trong những năm qua. Điều này khẳng định quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền tỉnh Quảng Ninh luôn nỗ lực không ngừng để cải thiện thực chất, hiệu quả chỉ số PCI.

Trong một hội thảo gần đây, ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) nhận xét: Theo kết quả PCI năm 2019 Quảng Ninh đứng đầu với tổng điểm cao, tuy nhiên trong thang điểm 100 thì dư địa để phát triển vẫn còn nhiều đòi hỏi tỉnh cần tiếp tục triển khai những giải pháp, cách làm mới và hiệu quả hơn nữa.

Để đảm bảo các chỉ số thành phần trong bộ chỉ số PCI tiếp tục đi vào thực chất, thời gian qua, UBND tỉnh Quảng Ninh đã có những giải pháp quyết liệt như phân công rõ các sở, ngành, địa phương trong việc chịu trách nhiệm đối với từng chỉ số thành phần của PCI, nhất là các cơ quan có các chỉ số thành phần cần tập trung cải thiện nhanh như: Sở Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm nâng cao chỉ số về chi phí gia nhập thị trường, Sở Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm về chỉ số tiếp cận đất đai, Thanh tra tỉnh chịu trách nhiệm về chỉ số chi phí không chính thức… (Daidoanket.vn 21/11, Phương Nhung)Về đầu trang

An Giang: Châu Đốc đẩy mạnh cải cách hành chính trong hệ thống chính trị

Những năm qua, TP. Châu Đốc (An Giang) đã được UBND tỉnh xếp loại là đơn vị cấp huyện đứng đầu về chỉ số cải cách hành chính (CCHC). Để thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ XII (nhiệm kỳ 2020-2025) và nâng cao hơn nữa chất lượng giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) phục vụ cán bộ, đảng viên, người dân, doanh nghiệp, Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố đã xây dựng và ban hành kế hoạch đẩy mạnh CCHC trong hệ thống chính trị thành phố (giai đoạn 2020-2025).

Thực hiện nghị quyết, kết luận, chỉ thị của Trung ương về đẩy mạnh CCHC, cải cách TTHC và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, những năm qua, Ban Chấp hành Đảng bộ TP. Châu Đốc đã quan tâm lãnh, chỉ đạo thực hiện việc đẩy mạnh CCHC trong hệ thống chính trị, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Mặc dù là đơn vị cấp huyện nhiều năm liền đứng đầu tỉnh về chỉ số CCHC nhưng TP. Châu Đốc không thỏa mãn với những kết quả đạt được. Lãnh đạo, cán bộ địa phương đã thẳng thắn nhìn nhận, đánh giá và cho rằng, công tác CCHC vẫn còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển; TTHC của các cơ quan Đảng chưa được triển khai đồng bộ so với khối chính quyền; chất lượng thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” trong giải quyết TTHC ở một số đơn vị và phường, xã chưa thực sự đảm bảo; tình trạng giải quyết hồ sơ chậm trễ, quá thời hạn quy định vẫn tồn tại. 

“Để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước và toàn xã hội. Hướng đến xây dựng một nền hành chính trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, đảm bảo quản lý thống nhất, thông suốt, có hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu vì nhân dân phục vụ và sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Châu Đốc phấn đấu 100% cơ quan, đơn vị, phường, xã xây dựng và niêm yết danh mục bộ TTHC theo quy định. 100% các văn bản ban hành theo đúng cấp độ, đúng thể thức, đúng thẩm quyền, đúng tiến độ thời gian; hạn chế thấp nhất việc thay đổi, nợ đọng văn bản theo quy định. 100% hồ sơ, tài liệu phục vụ hội nghị gửi đến đại biểu đúng thời gian theo quy định.

Hệ thống thông tin chỉ đạo, điều hành, trao đổi thông suốt, kịp thời từ thành phố đến các cơ quan, đơn vị và phường, xã. Phấn đấu 100% các văn bản, tài liệu (trừ tài liệu mật) chính thức trao đổi giữa các cơ quan được thực hiện dưới dạng điện tử. 100% hồ sơ tiếp nhận, cập nhật, xử lý trên phần mềm một cửa điện tử; 50% hồ sơ giải quyết theo dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4; 90% người dân và doanh nghiệp hài lòng về việc giải quyết TTHC. (Baoangiang.com.vn 23/11, Thu Thảo)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Sửa quy định về nộp thuế nhằm hạn chế chiếm dụng ngân sách

Trước đây, doanh nghiệp (DN) có thể lợi dụng quy định về tính tiền chậm nộp để chờ đến đầu năm sau (thời hạn nộp thuế quý IV của năm trước) mới nộp thuế. Tuy nhiên với quy định mới tại Nghị định 126/2020/NĐ-CP, người nộp thuế nộp thiếu số thuế phải tạm nộp 3 quý đầu năm (75%) thì phải nộp tiền chậm nộp tính trên số thuế nộp thiếu. Theo Tổng cục Thuế, quy định này không phải tận thu mà nhằm hạn chế chiếm dụng tiền ngân sách.

Tổng cục Thuế cho biết, thực hiện chủ trương cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính cho DN, Tổng cục Thuế đã báo cáo Bộ Tài chính trình Chính phủ ban hành Nghị định 91/2014/NĐ-CP ngày 1/10/2014 và trình Bộ Tài chính ban hành Thông tư 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014.

Theo các văn bản này, Bộ Tài chính đã bãi bỏ quy định về kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) tạm tính hàng quý và kê khai quyết toán theo năm, thay bằng quy định tạm nộp thuế TNDN hàng quý và kê khai quyết toán theo năm. DN căn cứ vào số thuế TNDN của năm trước và dự kiến kết quả sản xuất kinh doanh (SXKD) trong năm để xác định số thuế TNDN tạm nộp các quý trong năm sát với thực tế kết quả SXKD.

Quy định về tính tiền chậm nộp đối với việc thực hiện tạm nộp thuế được xác định theo thời điểm hạn nộp thuế quý IV của DN. Trường hợp tổng số thuế tạm nộp trong kỳ tính thuế thấp hơn số thuế TNDN phải nộp theo quyết toán từ 20% trở lên, thì DN phải nộp tiền chậm nộp đối với phần chênh lệch từ 20% trở lên giữa số thuế tạm nộp, với số thuế phải nộp theo quyết toán, tính từ ngày tiếp sau ngày cuối cùng của thời hạn nộp thuế quý IV của DN, đến ngày thực nộp số thuế còn thiếu so với số quyết toán.

Tuy nhiên, thực tế triển khai Nghị định 91/2014/NĐ-CP, cho thấy, bên cạnh các DN đã tuân thủ tốt quy định tạm nộp thuế TNDN, còn nhiều DN không tuân thủ và lợi dụng quy định về tính tiền chậm nộp này, không thực hiện tạm nộp hàng quý, mà để dồn đến thời hạn nộp thuế của quý IV, thông thường vào ngày 30/1 năm sau mới nộp thuế vào ngân sách nhà nước (NSNN).

Tổng cục Thuế cho rằng, số thu thuế TNDN phát sinh phải nộp trong năm ngân sách trước bị chiếm dụng và nộp vào năm ngân sách sau, gây ảnh hưởng đến cân đối NSNN hàng năm. Đồng thời, không đảm bảo sự công bằng trong việc thực thi pháp luật thuế giữa các DN tuân thủ tốt và các DN không tuân thủ.

Để khắc phục hạn chế nêu trên, Chính phủ đã quy định về tính tiền chậm nộp đối với thuế TNDN tạm nộp trong năm, kê khai quyết toán cuối năm đã được sửa đổi tại điểm b khoản 6 Điều 8 Nghị định 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Quản lý thuế.

Theo đó, trường hợp người nộp thuế nộp thiếu so với số thuế phải tạm nộp 3 quý đầu năm, thì phải nộp tiền chậm nộp tính trên số thuế nộp thiếu so với số thuế phải nộp theo quyết toán kể từ ngày tiếp sau ngày cuối cùng của thời hạn tạm nộp thuế TNDN quý III, đến ngày nộp số thuế còn thiếu vào NSNN.

Cũng theo Tổng cục Thuế, quy định này xuất phát từ thực tế hoạt động SXKD của DN. Khi SXKD, các DN đều có phương án và kế hoạch SXKD hàng năm, và sẽ hoàn toàn chủ động trong việc xác định, ước tính kết quả hoạt động SXKD trong năm để thực hiện quy định tạm nộp thuế TNDN theo quy định. Nghĩa vụ phải nộp chính thức sẽ được xác định khi DN quyết toán thuế TNDN tại thời điểm kết thúc năm tính thuế. Các trường hợp DN có kết quả tăng bất thường về SXKD trong quý IV mà DN không dự kiến được trước không phải là trường hợp phổ biến.

Về hiệu lực của quy định trên, Tổng cục Thuế cho biết sẽ báo cáo cấp có thẩm quyền để có hướng dẫn cụ thể theo kỳ tính thuế. Cơ quan thuế sẵn sàng hỗ trợ mọi vướng mắc của người dân, DN trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế. (Baophapluat.vn 23/11, Tô Tô)Về đầu trang

Bộ NN-PTNT tiếp tục cải cách tinh gọn tổ chức bộ máy

Một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công tác cải cách hành chính của Bộ NN-PTNT năm 2020 đó là cải cách tổ chức bộ máy theo hướng đơn giản, tinh gọn, hiệu quả.

Văn phòng Thường trực Cải cách hành chính Bộ NN-PTNT cho biết, trong 9 tháng đầu năm, Bộ NN-PTNT tiếp tục triển khai Đề án, phương án kiện toàn tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, đổi mới cơ chế, nâng cao hiệu quả hoạt động ở các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ.

Trong năm 2020, Bộ NN-PTNT đã hoàn thành việc trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 24/2020/QĐ-TTg ngày 27/8/2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 28/2017/QĐ-TTg ngày 03/7/2017 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Lâm nghiệp.

Bộ NN-PTNT cũng Ban hành văn bản số 5287/BNN-TCCB ngày 10/8/2020 thực hiện một số nhiệm vụ phân cấp thẩm quyền quản lý của Bộ đối với các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ. Báo cáo rà soát, sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ NN-PTNT, quyết định giao số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ.

Xây dựng kế hoạch biên chế công chức, hợp đồng 68 trong các cơ quan hành chính trực thuộc Bộ năm 2021, kế hoạch số lượng người làm việc và hợp đồng trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ NN-PTNT năm 2021.

Bên cạnh đó, lĩnh vực cải cách tài chính công, Bộ NN-PTNT tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định về quản lý tài chính thuộc thẩm quyền của Bộ trong các lĩnh vực quản lý, phân bổ và sử dụng ngân sách. Hướng dẫn đánh giá thực hiện nhiệm vụ ngân sách nhà nước năm 2020, xây dựng dự toán năm 2021 và giai đoạn 2021 - 2023.

Triển khai các quy định mới ban hành về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp. Triển khai quyết định số 17/2020/QĐ-TTg ngày 29/5/2020 về việc áp dụng cơ chế quản lý tài chính, thu nhập đặc thù đối với Cục Bảo vệ thực vật, Cục Thú y và Cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản thuộc Bộ.

Kiểm tra hiện trạng nhà đất tại các tỉnh Đồng Nai, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Đắk Lắk. Bộ NN-PTNT đã báo cáo Uỷ ban Kiểm tra Trung ương về công tác xử lý sau kiểm tra, hoàn thiện tiêu chí định mức xe chuyên dùng của Bộ NN-PTNT.

Về đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức, Bộ NN-PTNT đã Báo cáo tổng kết Quy định số 256-QĐ/TW và các văn bản quy định về tiêu chuẩn, đối tượng và phân cấp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị giai đoạn 2009 - 2020.

Hoàn thiện, ban hành định mức kinh tế, kỹ thuật đào tạo trình độ đại học một số ngành thuộc lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn phục vụ thực hiện cơ chế giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp dịch vụ công có sử dụng ngân sách nhà nước. Hoàn thiện báo cáo thống kê ngành nông nghiệp năm 2019.

Ban hành Thông báo 5217/BNN-TCCB ngày 05/8/2020 triển khai đánh giá chất lượng tổ chức và người đứng đầu các đơn vị thuộc Bộ. Xây dựng dự thảo Thông tư quy định danh mục vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức, viên chức ngành NN-PTNT thay thế Thông tư 30/2015/TT-BNNPTNT ngày 06/10/2015.

Bộ NN-PTNT cũng đang dự thảo Quy định về Quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan thuộc Bộ, danh mục các lĩnh vực và thời gian mà người có chức vụ quyền hạn trong cơ quan đơn vị không được thành lập giữ chức vụ quản lý điều hành sau khi thôi giữ chức vụ. Dự thảo Đề xuất cơ chế xây dựng tiêu chí đánh giá lãnh đạo quản lý các đơn vị nghiên cứu khoa học công nghệ; xây dựng dự thảo Kiện toàn Hội đồng trường trường đại học theo quy định mới. (Nông Nghiệp Việt Nam 23/11, Nguyên Huân)Về đầu trang

Triển khai hệ thống miễn giảm hoàn thuế và không thu thuế điện tử

Tổng cục Hải quan đã ban hành văn bản hỏa tốc thông báo chính thức triển khai trên phạm vi toàn quốc việc xử lý miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, không thu thuế và xử lý tiền thuế nộp thừa trên hệ thống điện tử (Hệ thống MGH) kể từ ngày 23/11/2020.

Sau thời gian chuẩn bị và thực hiện thí điểm thành công tại một số cục hải quan, Tổng cục Hải quan quyết định chính thức triển khai Hệ thống MGH kể từ ngày 23/11/2020. Riêng phân hệ xử lý miễn thuế hàng hóa nhập khẩu phục vụ trực tiếp an ninh, quốc phòng, Tổng cục Hải quan sẽ có thông báo triển khai sau.

Để việc triển khai Hệ thống MGH trên có hiệu quả, Tổng cục Hải quan yêu cầu các cục hải quan, tỉnh thành phố nghiên cứu Quyết định 3535/QĐ-TCHQ của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan về việc phê duyệt đề án “Miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, không thu thuế và xử lý tiền thuế nộp thừa điện tử”.

Các đơn vị hải quan tổ chức triển khai thực hiện công tác miễn thuế, giảm thuế, không thu thuế và xử lý tiền thuế nộp thừa trên Hệ thống MGH đến các cán bộ, công chức và bộ phận liên quan trong đơn vị. Khẩn trương thông báo, tuyên truyền và hướng dẫn cho doanh nghiệp biết và phối hợp thực hiện Hệ thống MGH. Thành lập tổ hỗ trợ triển khai tại đơn vị và thông báo thông tin của tổ hỗ trợ triển khai tại đơn vị đến cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn biết để liên hệ khi cần thiết. (Thoibaotaichinhvietnam.vn 21/11, Ngọc Linh)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức cuối năm: 10 thông tin cần biết

Cán bộ, công chức, viên chức có thời gian công tác trong năm chưa đủ 06 tháng thì không thực hiện việc đánh giá, xếp loại chất lượng nhưng vẫn phải kiểm điểm thời gian công tác trong năm, trừ trường hợp nghỉ chế độ thai sản.

Dưới đây là những thông tin quan trọng cần biết về việc đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức cuối năm 2020 (theo quy định tại Nghị định 90/2020/NĐ-CP).

1. Thời điểm đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức được tiến hành trước ngày 15/12/2020, trước khi thực hiện việc đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên và tổng kết công tác bình xét thi đua, khen thưởng hàng năm của cơ quan, tổ chức, đơn vị.

2. Cán bộ, công chức, viên chức có thời gian công tác trong năm chưa đủ 06 tháng thì không thực hiện việc đánh giá, xếp loại chất lượng nhưng vẫn phải kiểm điểm thời gian công tác trong năm, trừ trường hợp nghỉ chế độ thai sản.

3. Cán bộ, công chức, viên chức nghỉ không tham gia công tác theo quy định của pháp luật trong năm từ 03 tháng đến dưới 06 tháng thì vẫn thực hiện đánh giá nhưng không xếp loại chất lượng ở mức hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên.

4. Cán bộ, công chức, viên chức nghỉ chế độ thai sản theo quy định của pháp luật thì kết quả xếp loại chất lượng trong năm là kết quả xếp loại chất lượng của thời gian làm việc thực tế của năm đó.

5. Tiêu chí xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức

6. 04 mức xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức: Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; - Hoàn thành tốt nhiệm vụ; Hoàn thành nhiệm vụ; Không hoàn thành nhiệm vụ.

7. Trường hợp cán bộ, công chức, viên chức chuyển công tác thì cơ quan, tổ chức, đơn vị mới có trách nhiệm đánh giá, xếp loại chất lượng. Nhưng nếu cán bộ, công chức, viên chức chuyển công tác mà có thời gian công tác ở cơ quan, tổ chức, đơn vị cũ từ 06 tháng trở lên thì phải kết hợp với ý kiến nhận xét của cơ quan, tổ chức, đơn vị cũ, trừ trường hợp không còn cơ quan, tổ chức, đơn vị cũ.

8. Quy trình đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức

9. Kết quả đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức là căn cứ để bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, nâng ngạch hoặc thăng hạng chức danh nghề nghiệp, quy hoạch, bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, biệt phái, khen thưởng, kỷ luật, đánh giá và xếp loại chất lượng đảng viên và thực hiện các chính sách khác đối với cán bộ, công chức, viên chức.

10. Kết quả đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức sẽ được công khai trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi cán bộ, công chức, viên chức công tác theo quy định. (Nld.com.vn 23/11, Hoàng Triều)Về đầu trang

Chuyển biến nhận thức từ Chỉ thị số 10

Qua 3 năm thực hiện Chỉ thị số 10-CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Trà Vinh, kết quả đã tạo được sự chuyển biến, nâng cao nhận thức của các cấp ủy và đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Ngày 15-6-2016, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Trà Vinh ban hành Chỉ thị số 10-CT/TU (Chỉ thị số 10) về việc "Không được uống rượu, bia trong giờ làm việc và việc chấp hành giờ giấc hành chính, kỷ luật phát ngôn của cán bộ, đảng viên".

Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Trà Vinh cho biết sau 3 năm thực hiện, Chỉ thị số 10 đã tạo được sự chuyển biến trong nhận thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Theo đó, đa số cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu và cán bộ lãnh đạo chủ chốt, đã nghiêm túc thực hiện các nội dung được quy định trong Chỉ thị số 10. Cụ thể là không còn tình trạng uống rượu, bia trong giờ làm việc, kể cả giờ nghỉ trưa, ngày trực, các cuộc họp, hội nghị, hội thảo… kết thúc vào buổi trưa trong ngày làm việc. Các trường hợp tiếp khách ngoài tỉnh, khách trung ương, phục vụ công tác đối ngoại… đều phải có ý kiến thống nhất của thủ trưởng cơ quan, đơn vị. Đặc biệt là tình trạng tiếp khách ở những quán rượu, bia và những nơi có dư luận xã hội không tốt, đã được khắc phục.

"Qua 3 năm triển khai thực hiện, đa số cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đã chấp hành nghiêm túc Chỉ thị số 10. Từ đó góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên; củng cố niềm tin của đảng viên và nhân dân đối với Đảng, chính quyền các cấp. Đó cũng là cơ sở để xây dựng văn hóa công vụ và đạo đức công vụ trong cán bộ, công chức, viên chức" - ông Trần Quốc Tuấn, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Trà Vinh, nhận xét.

Theo một cán bộ làm việc tại Công an tỉnh Trà Vinh, từ khi có Chỉ thị số 10, cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị chấp hành rất nghiêm túc. "Nhiều khi có bạn bè các tỉnh ghé thăm và mời đi ăn vào lúc nghỉ trưa nhưng đành hẹn họ khi hết giờ làm việc. Khi đi tôi cũng bỏ xe máy ở nhà và thuê taxi đến điểm hẹn vì phải thực hiện nghiêm việc đã uống rượu bia thì không lái xe" - vị này chia sẻ.

Theo ông Trần Quốc Tuấn, từ khi có Chỉ thị số 10, việc chấp hành nội quy, quy chế, kỷ luật, kỷ cương, nhất là kỷ luật phát ngôn của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức từng bước đi vào nền nếp. Tinh thần làm việc và thái độ phục vụ nhân dân có nhiều chuyển biến tích cực, được các cơ quan, tổ chức và nhân dân ghi nhận, đánh giá tốt, góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh.

Các cấp ủy tại tỉnh Trà Vinh cũng thường xuyên kiểm tra các tổ chức Đảng và đảng viên trong việc thực hiện Chỉ thị số 10. Theo đó, đã thực hiện việc kiểm tra với 115 tổ chức Đảng (4 ban thường vụ huyện ủy và tương đương, 13 đảng ủy cơ sở, 98 chi bộ) và 521 đảng viên (trong đó có 54 cấp ủy viên); giám sát 99 tổ chức Đảng (14 đảng ủy cơ sở, 85 chi bộ) và 450 đảng viên (trong đó có 106 cấp ủy viên).

Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Trà Vinh thông tin từ ngày 1-7-2016 đến 31-6-2019, trong Đảng bộ tỉnh Trà Vinh có 26 đảng viên vi phạm Chỉ thị số 10. Trong đó, 2 trường hợp vi phạm an toàn giao thông, 1 trường hợp vi phạm kỷ luật phát ngôn, 3 trường hợp uống rượu bia gây mất trật tự công cộng, 7 trường hợp uống rượu bia trong giờ làm việc, 1 trường hợp uống rượu bê tha, 12 trường hợp chấp hành giờ giấc làm việc chưa nghiêm.

Qua việc kiểm tra và giám sát, tỉnh đã có nhiều hình thức xử lý và kỷ luật. Cụ thể: Kiểm điểm rút kinh nghiệm đối với 14 đảng viên và kỷ luật khiển trách 5 trường hợp, cảnh cáo 4 trường hợp, cách chức 1 trường hợp và khai trừ 2 đảng viên. Bên cạnh đó, có 4 công chức tuy không là đảng viên nhưng có vi phạm quy tắc ứng xử, quy chế văn hóa công sở và thời gian làm việc nên cũng bị kỷ luật.

Ông Trần Quốc Tuấn cho biết để Chỉ thị số 10 đi sâu vào từng cán bộ chủ chốt và cán bộ xã, phường, thị trấn, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Trà Vinh sẽ tiếp tục chỉ đạo các đơn vị, địa phương, nhất là người đứng đầu các cấp ủy Đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị phải nêu gương và lãnh đạo thực hiện tốt chỉ thị này. Qua đó, thực hiện nghiêm, trở thành văn hóa công vụ trong mỗi cán bộ, đảng viên.

Cụ thể, Tỉnh ủy sẽ chỉ đạo kiểm tra việc đưa nội dung của chỉ thị này vào nội quy làm việc của cơ quan, đơn vị, tiêu chí bình xét thi đua, khen thưởng, đánh giá, bổ nhiệm, đề bạt, phân công cán bộ và đánh giá bình xét, phân loại tập thể tổ chức và cá nhân từng cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức hằng năm.

"Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; thanh tra công vụ để phòng ngừa, phát hiện và kịp thời xử lý các hành vi vi phạm, góp phần xây dựng nền công vụ hiệu quả" - ông Tuấn nhấn mạnh. (Nld.com.vn 23/11, Ca Linh)Về đầu trang./.

 

Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.021.016 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này