Chi tiết tin - Quảng Bình
Văn hoá đặc sắc ở làng biển Cảnh Dương

Sông Loan, đoạn chảy qua làng Cảnh Dương
Cảnh Dương nằm bên dòng sông Loan hiền hoà, gối đầu dưới chân núi Phượng, lại giáp với biển nên địa thế nơi đây có thể nói là sơn thủy hữu tình. Đây là miền quê có truyền thống lịch sử văn hoá lâu đời với nhiều lễ hội văn hoá đặc sắc đã đi vào tâm thức của người dân miền biển. Không những thế, nơi đây còn nổi tiếng với các loại hình văn hoá phi vật thể như điệu hò chèo cạn mượt mà, đằm thắm; hay câu hát ru độc đáo “Bôồng bôổng bôồng bôồng, hò hẻ hò he...” đưa Cảnh Dương trở thành một trong những vùng dân ca độc đáo của huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
“Ai về Cảnh Dương quê ta / Nghe hò chèo cạn mặn mà biển xanh...” Là làng biển, hàng năm, xã Cảnh Dương thường tổ chức lễ hội “Cầu ngư” để cầu mong mưa thuận gió hoà, thuyền chài ra khơi bình yên, “cá được ruốc đầy”. Theo các cụ già trong làng kể lại rằng: Ngày trước, dân làng đi biển gặp gió to sóng lớn bị mất phương hướng thì xuất hiện con cá voi to dẫn đường, dìu thuyền vào bờ an toàn. Ngư dân cập bờ nhưng cá voi thì mắc cạn và không thể trở lại biển. Người dân nhớ ơn cứu mạng, chôn cất cá voi tử tế, xem là một vị thần che chở cho cư dân nghề biển. Người dân Cảnh Dương lập miếu phụng thờ và tôn là Đức Ông. Cũng từ đó, hàng năm, lễ tế Đức Ông thường được tổ chức vào ngày rằm tháng Giêng. Đây cũng chính là ngày ra khơi của ngư dân trong làng. Trong lễ tế, hò Đức Ông với những nghi thức diễn xướng độc đáo thể hiện lòng tôn kính và tạo nên không gian thiêng. Cùng với thời gian, hò Đức Ông dần dần chuyển thành hò chèo cạn như hiện nay.
Ông Phạm Ngọc Thức - người đang lưu giữ nhiều làn điệu chèo cạn ở Cảnh Dương cho biết: Không chỉ riêng ở vùng quê này mà nhiều vùng biển ở Quảng Bình cũng như khắp đất nước đều có hò chèo cạn, nhưng mỗi nơi mang một hình thức khác nhau và chủ yếu được truyền miệng trong dân gian.
Hò chèo cạn gồm nhiều làn điệu hò ghép lại từ nói lối đến hò hí ra, hò khoan, hò kéo lưới, hò hụi, v.v... Nhưng riêng ở Cảnh Dương, hò Đức Ông hay hò chèo cạn ngày trước chỉ được hò trong ngày rằm tháng Giêng, ngày ra khơi đầu năm của làng.
Hò chèo cạn được tổ chức hát trên sân đình hoặc trên bãi cát rộng. Tham gia hò chèo cạn ngày xưa thường là nam giới, nhưng bây giờ có cả nữ giới; trong đội có từ 6 đến 10 người chia thành đôi cầm chèo làm bằng gỗ hoặc tre, người lĩnh xướng tay cầm sanh (làm bằng hai thanh tre cật), giữ vai trò hò cái (hay còn gọi là hò xướng) thường đứng ở mũi thuyền hoặc lòng thuyền và đây là người đảm nhận vai trò quan trọng nhất trong suốt buổi lễ. Người hò xướng đòi hỏi phải biết nhiều làn điệu, nhiều cách diễn hò, ứng tác nhanh và có giọng hò tốt.
Tổ chức chèo cạn thường có con thuyền tượng trưng làm bằng tre, cót, giấy bồi được tô vẽ cẩn thận như thuyền thật, kết hình rồng, đuôi hình phượng, lòng thuyền rỗng. Hò chèo cạn thường sử dụng ba làn điệu chính là hò khoan, hò hụi và hò hí ra với đa phần là những câu lục bát, lục bát biến thể được ngắt ba nhịp, bốn nhịp theo từng làn điệu hò.
Hò chèo cạn Cảnh Dương khác với hò khoan Lệ Thuỷ, khác với chèo cạn múa đèn ở cửa sông Gianh ngày trước và cũng khác với chèo cạn múa bông ở vùng cửa sông Nhật Lệ cả về nội dung lẫn cách diễn xướng.
Với mục đích ban đầu là cúng tế trong lễ hội cầu ngư, chèo cạn trước hết được xem là một loại hình văn nghệ dân gian mang tính chất nghi lễ. “Làng tôi mở hội cầu ngư / Mừng ngày lễ hội đêm rằm tháng Giêng / Khấn trời lạy đất bốn phương / Mưa hoà gió thuận cầu mong Đức Bà / Đức Ông trong cõi tâm linh / Thành tâm phụng sự cổ kim lưu truyền... Đức Bà muôn thuở hiển linh / Đức Ông thượng thọ giúp dân tháng ngày / Nhang thơm một nén hương bay / Thành tâm khấn vái tổ tiên bao đời / Tôm nhiều cá lắm biển khơi / Sớm hôm giăng lưới buông chài bình yên...”.
Người dân Cảnh Dương tự hào về cảnh đẹp như vẽ của quê hương mình: “Sông Loan núi Phượng hữu tình / Bảng vàng ấn ngọc phân minh châu về”. Giọng hò cất lên từ sâu thẳm tâm hồn người Cảnh Dương với niềm tự hào vô bờ bến về quê hương; qua đó, người nghe như cảm nhận được hương vị của gió, của biển, của lòng người dân biển bao la, khoáng đạt.
Cùng với những nét độc đáo trong hò chèo cạn, hát ru ở Cảnh Dương cũng có từ ngày thành lập làng đến nay, nghĩa là đã trải qua hàng trăm năm lịch sử.
Hát ru ở Cảnh Dương cũng như nhiều điệu hát ru khác trên quê hương Việt Nam, đó là những câu chuyện mộc mạc, đời thường cho đến những lời tỏ tình của đôi lứa yêu nhau. Hát ru Cảnh Dương không chỉ giống như các làng quê khác là mẹ ru con, bà ru cháu mà nét đặc sắc của hát ru ở Cảnh Dương là ông ru cháu, cha ru con, anh ru em... Ngoài ra, những câu hát ru ngọt ngào, đầm ấm thường lệ được bắt đầu từ “à ơi... ơi à... ru hởi... ru hời” thì hát ru ở Cảnh Dương lại có một làn điệu riêng: “Bôồng bôổng bôồng bôồng, hò hẻ hò he...”
Lý giải về giai điệu độc đáo này, nhiều cụ già ở Cảnh Dương cho rằng: Có lẽ do đây là vùng quê biển, trước đây có nhiều gia đình vạn chài sinh sống trên những con thuyền bập bềnh sông nước quanh năm nên tiếng hát, tiếng ru không thể nhẹ nhàng mà nó phải nặng hơn, để át được tiếng sóng vỗ; khi đó, đứa trẻ mới có thể nghe rõ từng lời hát để cảm nhận và cùng với cánh tay êm ái của người ru đi vào giấc ngủ.
Cái hay của hát ru Cảnh Dương là những lời hát đậm chất văn hoá miền biển, dùng nhiều tiếng địa phương chỉ nghề chài lưới, chỉ có người ngư dân mới hát những lời ru ấy, bằng thực tế cuộc sống của chính mình, bằng tình yêu thương vô bờ bến với gia đình, làng quê: “Sáng ra lên núi đốt than / Chiều về xuống biển, đào hang bắt còng / Hò hẻ hò hè, bôồng bôổng bôồng bôồng / Lấy anh thấy đói em đừng lo / Tay anh tát nước, miệng anh hò kéo neo / Hò hẻ hò hè, bôồng bôổng bôồng bôồng / Trông ra ngoài biển lù mù / Thấy anh câu đục câu đù em thương/ Hò hẻ hò hè, bôồng bôổng bôông bôông / Đêm qua anh gối tay nàng / Ngày nay ra biển, anh gối đàng giây neo...”.
Những lời hát ru thường theo thể lục bát 6/8 và được hát theo nhịp 2/4, 4/4 ở những lời ru vào đầu; nhịp 2/2 cho những câu hát tâm sự đằng sau, tạo nên âm thanh mênh mang, trải dài theo câu hát. Nội dung lời hát ru Cảnh Dương tập trung rất nhiều vào tâm tình của những đôi trai gái yêu nhau và điều đặc biệt là tình cảm gia đình, tình mẫu tử.
Có lẽ xuất phát từ yêu cầu của nghề biển là phải hợp tác làm ăn, thuyền ra khơi có trai có bạn, nên đã tạo tinh thần đoàn kết cộng đồng mang đậm chất văn hoá làng xã của người Cảnh Dương. Bên cạnh đó, tình cảm cao quý nhất vẫn là nghĩa tình gia đình, thể hiện sự tôn kính, hiếu thuận dành cho tổ tiên. Mỗi người con của làng biển Cảnh Dương lớn lên đều thấm đẫm trong tâm hồn những điệu hò, câu hát đầy chất nhân văn ấy.
Tình yêu lứa đôi cũng là một trong những đề tài được nhắc đến nhiều nhất trong những làn điệu hò khoan êm ả; hò hụi chắc khoẻ, dồn dập; hò hí ra khoan thai, nhẹ nhàng mà sâu lắng. “Biển sâu cá lội lênh đênh / Thương nhau chín thác mười ghềnh cũng qua...”.
Ngày nay, điệu hát ru ở Cảnh Dương đang dần bị mai một; tiếng ông ru cháu, cha ru con, anh ru em ngày một thưa vắng, không còn giữ được chất dân gian, mộc mạc, trữ tình, đằm thắm từng nuôi dưỡng biết bao tâm hồn người con Cảnh Dương. Đó là điều khiến những người làm công tác văn hoá văn nghệ ở đây luôn trăn trở và nhất là các cụ già, những người còn nhớ nhiều về những làn điệu hát ru độc đáo này.
Với tình cảm trân trọng vốn văn hoá quý giá của quê hương, ông Phạm Ngọc Thức đã đầu tư thời gian, sưu tầm những lời hát ru dân gian đã bị mai một để lưu truyền cho thế hệ mai sau. Đặc biệt, ông cũng đã cố gắng sáng tác ra những lời hát ru mới, phù hợp với hoàn cảnh đổi thay của quê hương.
Các làn điệu dân ca và phương thức trình diễn của chèo cạn hiện nay vẫn được người dân Cảnh Dương lưu giữ và phát huy. Đó là nét văn hoá giàu tính bản sắc của miền biển Cảnh Dương rất cần được truyền lại cho thế hệ mai sau.
Theo Đài Phát thanh và Truyền hình Quảng Bình
- Những người trả bình yên cho đất (01/07/2013)
- Huyền tích chùa núi Thần Đinh (01/07/2013)
- Những số 8 khó lý giải ở Hang Tám Cô (01/07/2013)
- Nhớ bát cháo canh Ba Đồn (28/06/2013)
- Vịnh La Sơn (27/06/2013)
- Đổi đời làng biển (26/06/2013)
- Chòi tránh lũ - An tâm trước mùa mưa lũ (25/06/2013)
- Cổ tích đá ở động Thiên Đường (23/06/2013)
- Khám phá Giếng trời ở Động Thiên Đường, Quảng Bình (18/06/2013)
- Tiều ngư giữ rừng (18/06/2013)







