Chi tiết tin - Quảng Bình
Mai vàng, cát trắng quê tôi
1. Vào những ngày giáp Tết, độ từ 22 đến 25 tháng Chạp, bố tôi bỏ ra một ngày đi vào động cát phía sau làng để tìm nhánh mai vàng. Hồi xưa, phía Bắc của làng tôi là cả một rừng mai. Mai mọc trên cát trắng nhiều vô kể. Cây mai mọc trên cát được đánh giá quý và đẹp. Ngày đó làng tôi, Tết đến nhà nào cũng có một nhành mai ở đồi cát Tượng Sơn cắm ở nhà. Làng tôi nhỏ, nằm dọc theo động cát, xuân về cây mai ở động cát Tượng Sơn nở vàng rực, lan toả vào làng. Một ngày giáp Tết, cả làng nghỉ một buổi để vào rừng mai Tượng Sơn tìm mấy nhánh mai đẹp về cắm ba ngày Tết. Ngày ấy, làng tôi gọi là “đi mai”…
Tôi còn nhớ như in, những ngày đi mai của thập niên 80 thế kỷ trước. Ngày đó chúng tôi gọi là Tết nghèo, cuộc sống vật chất cứ quấn riết, bám chặt dai dẳng với mọi con người. Làm sao ăn đủ, không đói? Làm sao mặc ấm, mà không lạnh? Đó là những câu hỏi thường trực của những người làm cha, làm mẹ. Ngày đó cái vật chất là quan trọng. Cuộc sống được ví như từng bữa ăn, là cơm, là khoai, là mè vừng, là muối... Bữa ăn nào có miếng thịt lợn là có thể xem như một bữa ăn ngon. Cái Tết hồi ấy sao mà vất vả thế? Nhưng đó là thời kỳ ai cũng khổ như nhau, có miếng ăn ngon thì phải làm chùng, làm trộm kẻo sợ mọi người trông thấy. Nhưng dù có đói, hay thiếu thốn vật chất làng tôi vẫn tổ chức một cái ngày tinh thần để đi mai.
Hôm ấy, tôi dậy sớm hơn mọi ngày, bố tôi đã dậy chuẩn bị rạ (rựa) mài thật sắc. Bố bảo, Tết này mình phải chặt hai nhánh mai để biếu ông bà ngoại. Mẹ tôi thổi cơm sớm, bà dùng hai cái bát ép chặt thành một bát cơm to (không chỉ một mình cơm đâu mà còn trộn với khoai vằm). Bố tôi là người ham chơi mai. Mai ông đi tìm về đều có thế và có ý nghĩa của nó, chứ không phải chặt lấy được. Ngày đi mai của ông là một ngày cực nhọc. Ông lang thang khắp rừng mai để tìm thế cho cành mai sẽ chặt. Tìm độ mười thế đẹp, ông ngồi bệt xuống cát, lấy đùm thuốc lá đội 7 Quảng Thạch (ngày xưa là làng trồng thuốc lá nổi tiếng ở Quảng Bình), vấn làm vài hơi. Trong làn khói thuốc bay bổng, ông mới tính năm nay nên chặt thế gì? Năm nào đi mai ông cũng chỉ chặt một nhành, năm nay ông có chặt thêm cho ông bà ngoại. Tôi đi theo ông vào rừng mai, ngày Tết đã gần kề, rừng mai làng lốm đốm nở. Dưới gốc mai là động cát trắng phau, những cây mai sù sì bề thế phần gốc, khẳng khiu phần ngọn, luôn chìa những mầm xanh vun vút lên trời. Ông bảo:
Mai năm nay nở nhiều hoa đấy con ạ?
Tôi không biết ông nhìn ở đâu mà đoán ra điều đó. Ông kéo tôi lại một cây mai ở phía trước mặt, tay ông cẩn thận nhẹ nhàng tỉa từng chiếc lá già còn sót lại chưa kịp rụng và bảo, nụ này là hoa, còn nụ kia là lộc. Những nụ tròn bầu chứa những bông hoa mai, còn những nụ ngọn dài là chứa lộc non.
Ngày xuân, tất cả đều rũ bỏ cái vỏ bọc già nua đằng ngoài của mình để tạo nên mai vàng, lộc xanh, dồi dào sức sống trên vùng đất khắc nghiệt. Cái đẹp của mai vàng làng tôi là nó sinh tồn trên vùng đất khô cằn. Cát trắng, một màu trắng tinh khôi nhưng lại nghèo nàn chất dinh dưỡng và thức ăn. Cây mai làng tôi muốn tồn tại thì phải đứng dũng mãnh thọc bộ rễ khoẻ của mình đi qua lớp cát đó. Dưới cát là nước, là thức ăn. Dưới cát trắng của làng tôi là mỏ than bùn trữ lượng lớn. Và đó là nguồn cội, là tinh hoa để làm nên mai vàng làng tôi.
Buổi chiều của ngày đi mai, làng tôi ai cũng bận rộn. Trẻ nhỏ thì trảy lá mai vàng sót lại, người lớn thì chuẩn bị không gian để đưa mai vào nhà. Bố trí đồ đạc trong nhà như thế nào để có thể bỏ cành mai cho đẹp. Hồi ấy, nhà nào có bình sứ là quý lắm. Nhiều nhà không có bình phải dùng bằng thau hay gầu gián giấy hồng điều. Gia đình tôi may mắn có một bình hoa, nó làm bằng vỏ đạn pháo to, các chú bộ đội gọt dũa, mài, hàn, tạo nên một bình hoa có giá trị. Đây là quà tặng của bà nội tôi lúc bà tham gia hội Mẹ chiến sỹ thời đánh Mỹ. Bố tôi tẩn mẩn dùng chiếc dao nhỏ gọt những cành mai khô, ông lấy rơm đốt gốc mai. Mùi rơm bốc lên ngai gái, tôi nghe thoang thoảng mùi Tết. Cái hương vị mùa xuân bay vào nhà tôi từ lúc nào không biết. Ngày hội đi mai của làng tôi là như thế!.
2. Ngày tôi học ngoài Hà Nội, biết tôi là người Quảng Bình, bạn bè ai cũng hỏi cát trắng như thế nào? Bởi câu thơ “chang chang cồn cát, nắng trưa Quảng Bình” đã hằn sâu trong nếp nghĩ của họ. Tôi sống trong vùng cát trắng mênh mông, trập trùng những đồi cát mà ai đó đã từng ví đó là vú cát. Cát làng tôi không chỉ là cát trắng mà có rừng mai, có làng mạc, có dòng sông vắt qua “Cát vẫn cát nghìn năm về trước- Cọng rơm vàng óng mượt với muôn sau”. Bố tôi nuôi tôi bằng hạt cơm được cấy cày, gieo trồng trên trảng cát mênh mông. Cát là làng quê, là họ hàng thân thuộc, là tuổi thơ nghèo khó của tôi. Làng cát Tượng Sơn ngày xưa, in bóng quân Nguyễn Huệ ra Bắc đánh quân Thanh. Nơi tôi đang ở là chỗ dừng chân của đàn voi dũng mãnh. Có lẽ cái tên làng Tượng Sơn cũng có thể bắt nguồn từ đó.
Làng tôi ngàn đời có hai báu vật, đó là cát trắng và tre xanh. Sau rặng tre xanh là cả một cổ tích làng nơi bao thế hệ làng tôi đã sống và trưởng thành. Cái làng cát thon thon, ôm trọn một phần phía bắc thị trấn Ba Đồn, đó là quê tôi. Cái làng cát ấy, cùng đất nước đi qua bao cuộc thăng trầm. Nơi này, đã có biết bao gia đình liệt sỹ, bao người có tên và không tên đang nằm khắp các mãnh làng của Tổ quốc. Giữa đồi cát mênh mông tượng đài liệt sỹ dựng lên, cao sừng sững hoà cùng với đỉnh đồi cát.
Tôi nhớ mãi câu viết của nhà văn Chu Lai: “Ngàn năm lá rụng mới thành than, tỷ năm rong rêu thành dầu lửa”. Dưới cát của làng tôi là một trữ lượng lớn than bùn. Điều này nhà máy phân lân vi sinh Sông Gianh đã chứng minh, họ đang lấy than bùn dưới lớp cát trắng làng tôi để làm nguyên liệu cho phân vi sinh hữu cơ. Ngày xưa, ngàn năm về trước, quê tôi là một lớp rừng già, qua một nạn đại hồng thuỷ, cát đã vùi vào lòng của nó. Nghĩa là dưới màu cát trắng khắc nghiệt của cát làng tôi là một sự sống. Một ngàn năm trước là cánh rừng biến thành than và một ngàn năm sau, sự sống đó là thế hệ của chúng tôi.
Bố tôi là một nhà sư phạm, thầy giáo trường làng, học trò ông kể rằng (còn ông thì không bao giờ nói), ông đã cùng làng xây trường giữa cát. Cho dù đó là mái nhà tranh tạm bợ, hầm sâu trú máy bay nhưng người làng cát được học chữ, tiếp thu văn hoá dưới cát quê mình. Bao thế hệ người làng cát vẫn đi đây, đi đó, làm nhiều chức phận đàng hoàng trong xã hội. Và cái văn hoá làng cát đã giúp họ vững vàng trong cuộc sống. Người làng quê tôi chịu khó chịu thương, nhân hậu, đoàn kết và cái quan trọng là biết vượt lên chính mình.
Tôi đi tìm ông Phạm Nhưng, người đã phủ màu xanh lên màu trắng của cát. Không thể để cát hoành hành, cho dù ông cũng có thể biết rồi một ngày cánh rừng của ông nhấn chìm trong cát. Bây giờ, cánh rừng của ông đã ôm trọn đồi cát, cái bỏng rát nhức mắt của cát đã thay dần bằng màu xanh của bạch đàn, phi lao, và hôm nay cuộc hành trình lên đỉnh đồi cát của ông vẫn còn tiếp diễn …
Tôi có thằng bạn thân, hắn bây giờ đang du học ở Mỹ, tình bạn của tôi và hắn là những ngày lăn lốc trên cát. Hôm hắn về nghỉ giữa kỳ, hắn cứ ao ước làm sao mình và bạn chơi một ngày trên cát như tuổi thơ ta từng chơi. Đi trên cát thì được chứ chơi với cát như ngày xưa thì chúng tôi không thể nào làm được. Nó ngây ngô, giả dối. Chúng tôi đã bị cuộc sống, công việc, tuổi tác lấy đi một phần của cát. Chỉ có những người sống chung thuỷ với cát, mới hòa mình được vào cát. Tôi nghe phong thanh có một dự án lớn đang được hình thành đó là nhà máy luyện thuỷ tinh mà nguyên liệu chính là cát trắng làng tôi. Rồi một ngày cát làng tôi sẽ trở thành hàng hoá nhập vào cơ chế thị trường, đi khắp đất nước.
Mong rằng cát làng tôi sẽ trở thành pha lê…/.
Ba Đồn, những ngày cuối năm.
Phạm Phú Thép (Hội văn học nghệ thuật Quảng Bình)
Theo QuangBinhOnline.com
- Đêm đông qua tiếng (17/12/2013)
- Chúng ta - Ai cũng từng có một tuổi thơ như thế?! (17/12/2007)
- Hiệu quả từ chòi tránh lũ (17/12/2013)
- Nắng trên cầu Nhật Lệ (17/12/2007)
- Thầy, trò viết chữ đẹp nhất nước (17/12/2013)
- Tà Vờng mong chờ ''con gà đẻ trứng vàng'' (20/11/2013)
- Ý kiến bạn đọc về Website Quảng Bình (09/09/2008)







