Màu ruộng dưới đại ngàn

10:42, Chủ Nhật, 23-12-2018

Xem với cỡ chữ : A- A A+
Thử hỏi bạn, ở cái xứ lấy nông nghiệp làm gốc, lấy đồng ruộng làm cơ cầu mưu sinh này thì ắt hẳn bạn có lạ lẫm đến mức thảng thốt giật mình khi nhìn thấy màu rừng ruộng không?

Thứ màu xanh thẫm của lúa đang thì con gái đang khoe ngọn, chực bung cái bụng tròn vo, bụ bẫm chứa đầy nhành lúa non sữa ấy mà tung tẩy chấm phá cùng sắc màu vĩnh hằng nơi đại ngàn Trường Sơn? Tôi chắc bạn sẽ có cảm giác ấy khi mà bàn tay mình nắm chặt bàn tay lực lưỡng, săn chắc của cánh lính biên phòng mà lội trên bờ ruộng, để chân trần khỏa làn nước Rục Làn mà rưng rưng nghe kể về hành trình sáu mươi năm cuộc “ly cốc hạ sơn” của tộc người “em út” trong đại gia đình tộc người Việt Nam, cũng bằng ấy năm gắn một hành trình gian khổ, thương yêu của người lính quân hàm xanh nơi biên viễn này!

Điểm ngoặt từ đường Hồ Chí Minh vào đến Đồn Biên phòng Cà Xèng (Quảng Bình) là 11km, con đường nhỏ, khẳng khiu dưới hàng vạn vỉa tầng đá vôi trên đầu vậy mà dòng nước liu riu bên con đường độc đạo cũng ra dáng hùng hổ lắm, lối thoát của nó là hang ngầm dưới đầu dốc, một trận lũ quyét, lũ ống là cả vùng này ngập sâu trong nước, bị cách ly hàng tháng trời là chuyện “thường ngày ở huyện”. Dấu tích tàn phá của nó hiển hiện quanh vệ đường, trên những gốc tràm bùn in tận ngọn, vài ba cái xác thuyền chỏng chơ khung gỗ... Theo chân Đại úy Bùi Văn Hải, Đội trưởng Đội vận động quần chúng Đồn Biên phòng Cà Xèng, một anh chàng mộc mạc, thư sinh với đôi kính cận lấp lóa đưa chúng tôi đến gặp bí thư chi bộ và trưởng bản Mò O Ồ Ồ (bản gần đồn nhất trong 3 bản Ón, Yên Hợp, Mò O Ồ Ồ (xã Thượng Hoá). 3 bản này đều là người dân tộc Chứt với các tộc Sách, Mày, Arem, Mã Liềng và em út tộc Rục…).

Ông Cao Tiến Thuỳnh, Bí thư chi bộ, 63 tuổi, khuôn mặt khắc khổ và thuộc hàng cao tuổi nhất bản Mò O Ồ Ồ này. Còn người con trai gầy, nhỏ là trưởng bản Cao Xuân Long. Anh mới 24 tuổi nhưng đã làm trưởng bản được hai năm. Cuộc sống nơi thâm sơn cùng cốc, đói ăn thiếu mặc làm cho họ có thân hình như nhỏ bé hơn so với thiên nhiên bao la hùng vĩ. “Bản Mò O Ồ Ồ tuyệt đại đa số là tộc người Rục. Người Rục không có họ, nhưng vì pháp lý dân số nên lấy họ Cao làm họ đấy”, ông Thuỳnh nói chậm, tiếng Việt nặng, lơ lớ.

Đại úy Bùi Văn Hải tiếp lời: “Tộc người Rục là một nhóm thuộc dân tộc Chứt. Cũng là nhóm ít nhất, nghèo khổ, lạc hậu nhất. Quê hương của họ ở hai huyện Quảng Trạch, Bố Trạch, do nạn giặc giã, thuế khóa nặng nề nên họ chạy vào Trường Sơn nương náu. Theo gia phả của một số dòng họ Việt trong vùng thì nhóm người Rục, Sách cư trú tại vùng này ít nhất đã hơn 500 năm... Người Rục có tập quán nguyên thủy sơ khai, đồng bào lấy vỏ cây làm khố; lấy săn bắt hái lượm, lấy bột cây nhúc, củ rừng làm nguồn lương thực, thực phẩm chủ yếu để sống; lấy hang đá, gốc cây thay cho nhà ở; lúc ốm đau hái lá cây rừng làm thuốc, khi sinh đẻ người phụ nữ không được ở trong hang mà phải ở ngoài hoang (trong rừng) xa nơi ở, đẻ xong đợi khoảng ba ngày thì ôm con về, người ốm gần chết phải để ở ngoài hang chờ chết. Khi chết không chôn mà để xác giữa trời lấy lá cây rừng phủ kín làm mộ...

Những năm 1958, 1959 đã có lời đồn về "người nguyên thủy" đang sinh sống tại miền Tây Quảng Bình. Đến đầu năm 1959, tổ tuần tra biên giới Đồn công an nhân dân vũ trang Óc Sách phát hiện nhóm người lạ, khi thấy chiến sĩ biên phòng họ bỏ chạy toán loạn lẩn trốn. Nhận được báo cáo, Ban chỉ huy công an nhân dân vũ trang tỉnh chỉ thị “Dù bất cứ giá nào cũng phải tìm cho được họ”. Sau 5 tháng lăn lộn ở đại ngàn Trường Sơn, đương đầu với núi cao vực sâu, thú dữ, ngày 12-8-1959, một tiểu đội công an nhân dân vũ trang Quảng Bình đã phát hiện ra tung tích những “người rừng” trong lán cư trú của họ, do động tác của chiến sĩ ta thiếu nhẹ nhàng, họ lại bỏ chạy vào rừng sâu. Tiếp tục tìm kiếm, được sự giúp sức của các già làng, trường bản, chỗ trú ẩn mới của người Rục lại được phát hiện trong hang sâu vùng núi đá vôi Phong Nha-Kẻ Bàng. Lần này, bằng những lời lẽ thuyết phục, vận động tình cảm, nhẹ nhàng, một tuần sau, công an nhân dân vũ trang đưa họ ra khỏi hang về xã Thượng Hóa, huyện Minh Hóa, tổng số 34 người Rục (gồm 11 nam, 23 nữ; trong đó có 4 em bé, ông cụ già làng tên là Vịt).

Người Rục được vào hợp tác xã, cuộc sống đang tiến triển nhưng chưa được bao lâu thì đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh, một lần nữa người Rục rơi vào tình trạng gần như bị “lãng quên”. Khí hậu khắc nghiệt, dịch bệnh, chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, rồi những năm tháng thời bao cấp khó khăn, nhất là trận dịch sởi năm 1989 đã cướp đi sinh mạng của 20 người Rục. Có những gia đình không còn ai sống sót. Cuộc sống nơi đây đã không giữ được đồng bào Rục, họ quay lại hang đá trở lại cuộc sống nguyên thủy như cha ông họ. Năm 1991, họ được đưa lại về khu định cư ở bản Ón, Mò O Ồ Ồ với 41 hộ/212 nhân khẩu. Năm 2000, 11 hộ/44 khẩu lại bỏ vào hang đá hoặc dựng lều trong rừng để sống... “Đói không lo, no không mừng”, người Rục lại không có khả năng tổ chức sản xuất nông nghiệp như các tộc người khác và không quen với cuộc sống định canh, định cư. Cho nên “tiếng gọi nơi hoang dã” luôn thường trực trong không ít người Rục, chỉ cần một tổn thương nhỏ trong cuộc sống là xu hướng vào hang động lại trỗi dậy.

Việc cứu sống người Rục, không để cho tộc người này bị diệt vong là vấn đề đặc biệt quan tâm của Đảng, Nhà nước và trách nhiệm vận động người Rục quay trở về với cộng đồng lần thứ hai được đặt trên vai những người lính biên phòng... Với sự giúp sức của địa phương, Đồn Biên phòng Cà Xèng dồn sức vận động, triển khai, bố trí người Rục ở xen kẽ với các tộc người đi trước, như: Sách, Mày, Kinh ở các bản Ón, Yên Hợp, Mò O Ồ Ồ. Cánh đồng Rục Làn ra đời và phát triển từ đó đến nay đã hơn mười héc-ta, có đập nước tưới tiêu bê tông hóa. Nhưng nhân công chủ yếu từ làm đất, gieo trồng đến chăm bón, thu hoạch đều là bộ đội của đồn. “Mỗi khi thu hoạch xong nhân dân đến lấy thóc về ăn. Điều đó lý giải vì sao một đồn biên phòng lại có cả kho nông cụ, với máy kéo, máy gặt, máy cày, máy tuốt liên hợp... tất cả những vật tư này một phần của Nhà nước cấp, một phần do anh em trong đồn vận động các nhà từ thiện, hảo tâm đóng góp”, Đại úy Bùi Văn Hải bộc bạch.

Nhìn cả vùng chân núi toàn đá hộc, đá vôi phong hóa, tôi như còn thấy bóng dáng những chiến sĩ vừa bằng sức người, vừa dùng phương tiện “nhổ” từng hòn sỏi, tảng đá, để hình thành từng thửa ruộng. Đất cằn nên cuộc hồi sinh đất cũng gian lao gấp bội. Những bàn tay thường ngày cầm súng rảo mốc giờ cầm cuốc, xẻng, xà beng rồi cũng quen, bàn tay chai lỳ dần đi, mặt mũi bắt nắng đen sắt lại, nhưng nụ cười vẫn thường trực. Chính như Hải, anh không ngờ từ một cán bộ vận động quần chúng, anh cũng đã trở thành một người nông dân. Từ việc chọn giống, ươm mạ, cấy hái, bón phân gì, phun thuốc diệt sâu bọ lúc nào... anh rành rẽ trong lòng bàn tay. Anh bảo, ấy là vừa lấy vốn kinh nghiệm, vừa thực hiện được “miệng nói, tay làm” khiến bà con thêm tin tưởng!

 

Nhìn những vạt lúa đang thì con gái, mơn mởn xanh giữa đại ngàn Trường Sơn, chúng tôi chắc mẩm và hy vọng năng suất vụ này cũng sẽ đạt hoặc vượt chỉ tiêu ba tấn rưỡi/ha như vụ trước... Thoảng trong câu chuyện có lời nói của ai đó mà tôi không nhớ mặt, nhớ tên. Chỉ biết trên bộ quân phục dã chiến kia, quần còn xắn cao đến gối, vai áo còn loang lổ nước mưa. Hình như trong bộ quân phục ấy, các anh đều là những người nông dân chính hiệu, việc nương rẫy, lúa nước nhà mình, việc học hành, lớn khôn của con cái thì vợ các anh phải đảm đang, còn các anh ở đây vừa là người lính với nghĩa vụ bảo vệ biên cương thân yêu của Tổ quốc, vừa phải đảm đang trách nhiệm là người “bạn nông” của nhân dân để ươm thêm một màu xanh mới, màu xanh no đủ, ấm êm và tự do dưới đại ngàn Trường Sơn vĩnh hằng. Xin mượn đôi câu thơ để gọi tên màu xanh ấy: Xanh đến rợn người/ Xanh đến nhức mắt/ Xanh như là vì máu đỏ mà xanh!

Theo: Lý Hữu Lương/Báo Quân đội Nhân dân

Các tin khác

Lượt truy cập: 12.081.111 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này