"Lúa Đảng" ở bản Rục

10:28, Thứ Sáu, 21-1-2011

Xem với cỡ chữ : A- A A+
Nguồn: Quân đội nhân dân
Tác giả: Bút ký của Mai Nam Thắng

Ngày đầu năm 2011, tôi gọi điện chúc mừng “Tết tây” Đại tá Nguyễn Văn Phúc, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh Quảng Bình, một người anh họ và cũng là bạn học từ thời phổ thông. Anh Phúc hồ hởi: Lâu rồi chú không về Minh Hóa. Năm nay Tết Nguyên đán nghỉ những 8 ngày, chú làm một chuyến về Minh Hóa rồi lên Cà Xèng mà coi anh em biên phòng đang cùng đồng bào Rục cấy lúa…

Nhắc tới Minh Hóa là bởi hơn 30 năm trước, ngày anh Phúc tốt nghiệp trường sĩ quan về nhận công tác ở một đồn biên phòng thuộc địa bàn huyện Minh Hóa-miền Tây Quảng Bình, thì tôi cũng vừa tốt nghiệp sư phạm, được phân công lên vùng cao này “cắm bản”. Từ chỗ tôi dạy học lên Đồn Biên phòng Cà Xèng hơn 30 cây số, mấy lần toan lên trên đó chơi nhưng mới nghe đến chuyện phải quần dài quấn cổ để lội suối bì bõm và bám dây rừng đu qua vách đá là tôi đã phát khiếp. Từ dạo đó tôi cũng đã được nghe nói về mấy bản người Rục ở khu vực Cà Xèng thuộc xã Thượng Hóa. Đó là một tộc người ít ỏi và “non trẻ” ở nước ta. Nói như vậy là bởi họ chỉ mới được Bộ đội Biên phòng phát hiện vào cuối năm 1959 và mãi đến năm 1971, những người Rục cuối cùng mới chịu rời khỏi hang đá về với cộng đồng, nâng tổng số người Rục trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam vào thời điểm đó là… 109 người!

Bộ đội và bà con bản Mò O Ồ Ồ làm đất chuẩn bị xuống giống vụ chiêm 2011.Ảnh: Lê Quang Hà

Theo thổ ngữ vùng Minh Hóa thì “rục” là danh từ chỉ một vùng đất trũng có nước. “Người Rục” là người ở chỗ có trũng nước, cũng giống như “người Nguồn” là người ở đầu nguồn nước, “người Thượng” là người ở vùng cao… Vậy nên đến nay, nhiều chuyên gia văn hóa vẫn khẳng định không có dân tộc Rục mà đó chỉ là một trong 7 nhóm của dân tộc Chứt, sống rải rác ở miền Tây Quảng Bình và Hà Tĩnh. Từ ngày được bộ đội phát hiện và đưa ra khỏi hang đá, dần dần người Rục cũng đã biết trồng sắn, trỉa ngô. Củ sắn băm nhỏ trộn với bột ngô, cho vào đõ gỗ nấu cách thủy như đồ xôi, được một món ăn gọi là bồi. Bữa cơm bồi thường chan với canh lá khoai lang hoặc rau dại mọc hoang. Món ăn kham khổ ấy cũng không đủ nên người Rục phải vào rừng chặt đọt cây báng, cây nhúc là loại cây họ đùng đình, thái mỏng phơi khô, giã ra lấy bột làm bồi trừ bữa…

Năm 1980, ngôi trường heo hút của mấy thầy cô cắm bản chúng tôi có một vị khách đặc biệt từ Hà Nội vào xin trú ngụ mấy đợt liền. Vị khách ấy là phó giáo sư, phó tiến sĩ Trần Trí Dõi, chuyên gia ngôn ngữ trường Đại học tổng hợp Hà Nội. Năm ấy thầy Dõi vào Minh Hóa, lên tận Cà Xèng điền dã để nghiên cứu văn hóa người Rục. Ròng rã suốt mấy tháng liền trên đó, thỉnh thoảng phải trở ra Hà Nội hoặc thị trấn Đồng Lê, thầy lại ghé vào trường chúng tôi nghỉ ngơi, viết lách. Thầy có một chiếc đèn dầu hỏa tự chế bằng nhôm tựa như chiếc ống bơ, bên trong nhét đầy bông rồi mới đổ dầu vào xâm xấp. Làm như thế để nếu leo trèo vô bản Rục, nhỡ trượt chân văng ba lô thì dầu hỏa vẫn không đổ ra quần áo, gạo muối. Cuối năm ấy đi bộ đội, tôi đã học thầy Dõi làm một chiếc đèn y chang mang theo để thỉnh thoảng ghi nhật ký và... làm thơ. Nào ngờ ngay hôm đầu tiên sử dụng đã bị tiểu đội trưởng phát hiện và tịch thu mất, lại còn bị xạc cho một trận nên thân vì cái tội vi phạm nội quy phòng chống cháy nổ. Chuyện bị phê bình rồi cũng qua đi, nhưng chiếc đèn độc đáo của thầy Dõi thì tôi nhớ mãi. Mấy chục năm rồi tôi chưa được gặp lại thầy để hỏi xem người Rục có phải là dân tộc Rục không? Tiếng Rục có cùng hệ Việt Mường không?...

Bao nhiêu kỷ niệm cùng lúc ùa về khiến tôi không thể chờ đến kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Tân Mão. Vả lại, cái tin đồng bào Rục đang làm lúa nước khiến tôi háo hức quá chừng. Bởi vì từ bấy đến nay dẫu chưa có dịp về lại Cà Xèng, nhưng vì nhiều lý do nên tôi vẫn thường xuyên được cập nhật tin tức về đồng bào Rục. Từ ngày ra khỏi hang đá, hòa nhập cộng đồng, người Rục ở Thượng Hóa không chỉ thoát nguy cơ tuyệt chủng mà còn phát triển dân số lên tới 89 hộ với 398 người, định cư ở 3 bản Mò O Ồ Ồ, Yên Hợp và bản Ón, thuộc xã Thượng Hóa của huyện Minh Hóa-Quảng Bình. Nhà nước đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng mở con đường ô tô trải bê-tông 12 cây số từ đường Hồ Chí Minh vào 3 bản Rục. Mấy năm nay, Đồn Biên phòng Cà Xèng cũng đã di chuyển từ trung tâm xã Thượng Hóa vào đóng tại bản Mò O Ồ Ồ để cùng ăn, cùng ở, cùng làm… với đồng bào Rục. Những ngôi nhà tranh lá xác xơ xiêu vẹo từ đầu bản đến cuối bản đã được thay thế bằng những ngôi nhà xây hai gian kiên cố. Trường tiểu học tọa lạc giữa trung tâm bản Mò O Ồ Ồ cũng tường xây mái ngói rất khang trang. Điện lưới quốc gia đã đến từng hộ gia đình… Có điều, bộ mặt làng bản đã đổi thay, nhưng trình độ dân trí và cách nghĩ, cách sống, cách làm ăn… của bà con người Rục thì chẳng thay đổi được bao nhiêu. Ngày xưa đói khổ thì xuống suối mò ốc bắt cá, lên rừng chặt cây báng, cây nhúc về làm bồi thay cơm. Bây giờ được Đảng và Nhà nước quan tâm, đồng bào cả nước thương yêu giúp đỡ thì ỷ lại không chịu làm ăn. Nhận gạo cứu trợ về thì bà con mang đi đổi rượu uống say sưa suốt ngày. Ốm đau cũng nằm ở nhà chờ Bộ đội Biên phòng đến thăm khám, cho thuốc. Mấy chục năm loay hoay với các dự án phát triển kinh tế-xã hội ở đây, có người đã khái quát đầy hình ảnh: Khi cho cần câu, khi cho xâu cá đều không thành; đến khi cho cả cần câu lẫn xâu cá thì bà con bẻ cần câu làm củi nướng xâu cá. Chén xong cả cần câu lẫn xâu cá lại vào rừng săn bắt hái lượm, chặt đốt cốt trỉa...

Mang theo những thông tin không mấy vui về một vùng đất hoài niệm, tôi về bản Rục một ngày đầu năm 2011. Cả miền Bắc đang phải hứng chịu một đợt rét đậm, rét hại dài ngày theo như các nhà khí tượng là hiếm có trong vòng 30 năm nay. Giá rét tràn vào tận miền Trung. Phía Tây Quảng Bình, nhiệt độ ban ngày cũng chẳng hơn gì ở Hà Nội. Ban đêm thì lạnh hơn vì giá buốt tỏa ra từ bốn bề núi đá. Trong này hễ rét là kèm theo mưa. Không phải mưa giông, mưa rào ào ạt hay mưa ngâu rả rích mà chỉ là mưa bụi lay phay nhưng lâm râm dai dẳng suốt ngày này sang ngày khác. Mưa dầm thấm đất, chỗ nào cũng lép nhép nhão nhoét lầy lội. Con đường cấp phối chạy ngang qua trước cửa Đồn Biên phòng Cà Xèng cũng lép nhép bùn lầy ngập mắt cá chân. Chênh chếch bên kia con đường là cánh đồng dự án Rục Làn gần 10 héc-ta do Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh Quảng Bình đầu tư đã hoàn thành phần hạ tầng theo như cách nói của các nhà quy hoạch. Thấy tôi cứ sốt sắng đòi ra ngay hiện trường dự án, Thiếu tá, Đồn trưởng Trịnh Thanh Bình kiếm cho tôi một đôi ủng như của anh đang xỏ, rồi đích thân dẫn tôi ra thực địa, vừa đi vừa giới thiệu vắn tắt về dự án cánh đồng Rục Làn đang nhấp nhô những bóng áo xanh bộ đội xen lẫn với những người dân bản Rục đang mải mê cày cuốc trong lất phất mưa bay…

Thực trạng mấy chục năm hòa nhập cộng đồng của đồng bào Rục đặt ra vấn đề phải thay đổi cách đầu tư giúp bà con thực sự làm chủ chính cuộc đời mình. Cả nước thừa sức để cung cấp đủ cơm áo cho mấy trăm người Rục, nhưng nếu người Rục tự sản xuất được lúa gạo để nuôi sống mình thì ý nghĩa sẽ hết sức to lớn, vượt ra ngoài vấn đề tự túc lương thực. Từ năm kia, đồn Cà Xèng đã vận động gia đình ông Cao Trực cũng là người Rục ở bản Yên Hợp làm thử lúa nước. Ông Trực từng đi bộ đội đóng quân ở biên giới phía Bắc, đã tận mắt nhìn thấy đồng bào dân tộc ngoài đó làm ruộng bậc thang cấy lúa. Bây giờ ông lại là trưởng bản, phải làm trước để dân bản làm theo. Cái trũng đất trước nhà ông được bộ đội giúp sức đào đắp thành mảnh ruộng hơn hai sào. Năm đầu chưa thành công, năm sau rút kinh nghiệm giống má, nguồn nước và cách chăm bón nên lúa tốt, hạt mẩy, thu được hơn 4 bao tải thóc. Kết quả này củng cố thêm quyết tâm làm dự án Rục Làn của Bộ chỉ huy biên phòng tỉnh. Khúc suối phía trên bản Mò O Ồ Ồ được ngăn lại dẫn nước theo đường ống gần hai cây số chạy về một cái rục có tên là Rục Làn gần Đồn biên phòng. Rục Làn là một thung lũng khá bằng phẳng được ngăn thành ba khu, mỗi khu được chia ô theo địa hình cao thấp, lớn bé khác nhau. Bộ đội và bà con dân bản đào đắp, san ủi từng ô ấy thành những thửa ruộng. Một con mương bê-tông chạy dọc theo con đường cấp phối dẫn bước từ đường ống về tưới cho cả ba khu ruộng tổng cộng gần 10 héc-ta. Ngày “dẫn thủy nhập điền”, cả đồn hồi hộp nín thở. May quá, nước chảy thông suốt, lai láng tràn trề khắp các thửa ruộng. Lại thêm một ngày đêm hồi hộp thắc thỏm, sáng ra chạy vội ra đồng, thấy nước vẫn xâm xấp chân ruộng, tức là nền đất giữ được nước, mừng ơi là mừng! Bây giờ chỉ còn lại vấn đề giống má và gieo trồng, chăm sóc nữa thôi…

Việc gì cũng phải bộ đội làm trước bà con mới lóng ngóng làm theo. Những chuyện làm đất thế này còn dễ, nay mai gieo trồng, chăm bón, cấy hái… còn khó khăn vất vả nữa! Mô hình hợp tác xã nông nghiệp chỉ còn trong câu chuyện về thời bao cấp xa xưa, nhưng ở Cà Xèng heo hút chon von này lại đang từng bước hình thành những tổ đội sản xuất của thời sơ khai Chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Anh Bình nói rằng, không bắt đầu bằng hình thức tổ đổi công và hợp tác xã thì không thể tập hợp để giúp đỡ được bà con và để bà con giúp đỡ lẫn nhau trong cả tư duy lẫn cách thức làm ăn mới. Ba bản Rục được chia thành 11 đội sản xuất, sáng và chiều đánh trống đi làm, đội trưởng ghi công chấm điểm để làm căn cứ ăn chia cuối vụ. Tôi nói vui rằng, Đồn Biên phòng Cà Xèng là đội thứ mười hai của Hợp tác xã Rục Làn. Bởi bộ đội cũng sáng và chiều theo tiếng trống vác cày cuốc ra đồng, chỉ khác là không được ghi công chấm điểm. Thêm một nét khác nữa là ông “đội trưởng” Trịnh Thanh Bình ban ngày ra đồng trực tiếp chỉ đạo sản xuất, tối về bật vi tính lên mạng tìm tài liệu về thổ nhưỡng, khí hậu, cây trồng, giống má, nông lịch… “Khoai ruộng lạ, mạ ruộng quen”, có thể vài vụ đầu kết quả chưa cao nhưng anh tin chắc chắn rồi đây cánh đồng Rục Làn sẽ là bờ xôi ruộng mật. Theo đó, bà con bản Rục cũng sẽ quen thuộc với nghề nông và đó sẽ là một bước ngoặt lớn trên con đường phát triển của đồng bào Rục anh em…

Mưa vẫn bay lay phay trên cánh đồng Rục Làn ngai ngái mùi bùn đất mới. Đó đây, trên những thửa ruộng gần, ruộng xa bộ đội và bà con vẫn miệt mài cày bừa san ủi, đắp góc be bờ… Một cảnh tượng thật hữu tình quê kiểng thân thuộc biết bao! Anh Bình hào hứng khoe: “Một sự trùng hợp rất ngẫu nhiên mà ý nghĩa vô cùng: Theo kế hoạch đã được phòng nông nghiệp huyện Minh Hóa phê duyệt thì ngày 19-1 tới đây sẽ làm lễ xuống giống cho cánh đồng Rục Làn. Hôm ấy cũng là ngày bế mạc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Hai giống lúa đã được chọn là Khang Dân M8 và DV 108, nhưng bà con bản Rục cứ gọi là “Lúa Đảng”. Gọi thế có được không nhà báo?”. Hay quá! Sao lại không? Nhờ có Đảng mà cuộc sống bà con người Rục mới được như hôm nay. Và cái sự trùng hợp ngẫu nhiên mà anh vừa nói, có lẽ cũng là một sự “thuận thiên”, hợp với ý Đảng lòng dân đấy anh Bình ạ!

Người sưu tầm: Hồng Lựu

(Ghi chú: Tin bài trên được sưu tầm và đăng tin trên trang web nội bộ VP UBND tỉnh nhằm mục đích phục vụ thông tin nội bộ cơ quan)

Các tin khác

 

Lượt truy cập: 12.220.681 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này