SỐNG GIỮA SÔNG GIANH - BÀI 1: Nắng, mưa đều có thể... chết vì nước

17:15, Thứ Hai, 16-9-2013

Xem với cỡ chữ : A- A A+
Nguồn: Pháp luật - 16/09/2013 - 04:00
Tác giả: MINH QUÊ

Sông Gianh (Quảng Bình) có gần chục cồn nổi có người sinh sống. Địa hình biệt lập, điều kiện sinh sống khó khăn đã tạo ra những cộng đồng thật đặc biệt cả về sinh hoạt lẫn tính cách.

Sông Gianh khi qua huyện Quảng Trạch đã tụ kết được 20 cồn lớn nhỏ, trong đó có tám cồn có người sống. Các cồn được định danh như cồn Vượn, cồn Quan, cồn Két, cồn Ngựa, cồn Niệt, cồn Si... Thời tiết miền Trung vốn khắc nghiệt bậc nhất ở nước ta nhưng thời tiết ở những hòn cồn trên sông Gianh (Quảng Bình) thường xuyên được đẩy tới giới hạn cực đoan. Mùa hạn khát cháy khốn cùng, mùa mưa lũ lụt kinh hoàng. Cư dân trên các cồn này được “tôi luyện” để vượt qua những giới hạn chịu đựng để sống còn, từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Đứng giữa sông mà khát nước

Chúng tôi lên một trong những hòn cồn điển hình ở giữa sông Gianh, cồn Nâm thuộc xã Quảng Minh, huyện Quảng Trạch, nơi có bốn làng Minh Hà, Tân Định, Đông Thành, cồn Nâm. Bốn làng có khoảng 600 hộ dân với hơn 2.000 nhân khẩu. Cồn này bị bao vây bởi dòng nước mặn từ cửa sông Gianh tràn lên. Cuộc sống của người dân ở đây có trăm thứ phải lo hơn so với những làng ở đất liền vì với họ ám ảnh tột cùng là nguồn nước ngọt.

Cách đi lại của người dân để ra thế giới bên ngoài. Ảnh: M.QUÊ

Cuộc sống giữa mênh mông nước mặn quả là một sự khắc nghiệt cực đoan. Ông Nguyễn Khắc Tâm, một cư dân cồn Nâm, nói: “Mùa hạ làm đồng, nhìn ra sông nhiều khi khát cháy họng nhưng không dám uống. Vì đó là nước mặn. Nước ngọt mang ra đồng chỉ dám chia theo khẩu phần, uống từng hớp nhỏ để tiết kiệm nước”. Trong ký ức của ông Tâm, làng ông chỉ mới “đỡ khát” hơn khi gần đây một linh mục từ Vinh (Nghệ An) vào giúp dân máy tia nước hiện đại và dò ra được một dòng nước ngọt. Cả mấy ngàn dân trông chờ vào mạch giếng khoan đó để được mua mỗi nhà một bình nước giá 5.000 đồng. Nhưng trước khi có niềm vui này, hàng trăm năm người dân ở đây trải qua thái cực đỉnh điểm của hạn hán mỗi mùa hè, ám ảnh nước ngọt thường xen vào trong cả giấc mơ. Ông Tâm kể: “Mới hai năm trước, trong mơ tui còn mơ có một bữa mô đó cả làng, cả nhà tui có bữa uống nước thoải mái, vì mùa hè năm mô cũng tiết kiệm nước hết sức khổ sở”. Kèm theo cái khổ thiếu nước là cái khổ cả làng giành nhau mua nước trên các đò bán nước ngọt. Những người đi bán nước ngọt đến từ các làng bên kia sông, họ đóng thuyền chở mấy chục khối nước đi bán. Dân trên cồn giành nhau kẻo không nhanh tay thì hết. Nhiều lần do giành nhau, trả tiền rồi nhưng can nước bị xô đẩy đổ tràn ra sông, chẳng hốt lại được, đành bấm bụng trả tiền mua can nước mới mang về.

Trẻ con vẫn hồn nhiên chơi đùa vì đã quen với thời tiết khắc nghiệt. Ảnh: M.QUÊ

Khẩu phần nước cho vật nuôi

Người đã khát, vật nuôi cũng khát và chúng cần được uống để duy trì cuộc sống. Mùa hạn, gió thổi tơi bời, đất đai nứt nẻ, trâu bò gầy rạc, đào giếng nước lợ nuôi chúng cũng khó, bởi độ muối chẳng khác nước biển. Ông Tâm kể: “Nhà này đào giếng nhà kia cũng đào, nước ở đây dễ kiếm, đào vài mét là nước đầy giếng nhưng đó là nước mặn, người chẳng chịu thấu thì trâu bò, heo gà, chó mèo cũng khốn khổ không kém. Mùa hè nhìn chúng gầy rộc, thương vô cùng”.

Từ ngày người dân đến lập làng trên các cồn nổi, dân cư thưa thớt nên trâu bò, heo gà và đặc biệt là chó mèo là những người bạn thân thiết nhất của họ. Họ không nỡ nhìn chúng chết đi và đã mua nước ngọt để chăm bẵm chúng, để chúng có sức khỏe mà phục vụ việc nhà nông. Bởi theo ông Tâm: “Người dân chúng tôi quý chúng, không chỉ coi chúng là vật để cày bừa mà còn coi như bạn đồng hành khi buồn cũng như vui. Chúng cứ quấn quýt bên người bất cứ lúc nào thì mần răng bỏ rơi chúng được. Chúng là con vật thương người rứa thì người phải thương chúng chớ”. Bởi vậy nước cũng được chia theo khẩu phần cho những con vật nuôi trong mỗi gia đình. Những cảnh cảm động như thế làm chúng tôi cứ nghĩ mình đang ở đâu đó trên một hòn đảo ở tận Trường Sa.

Mỗi năm người dân trên các cồn mua nước khoảng năm tháng. Mùa mưa, họ xây các lu nước khổng lồ để trữ nước nhưng sẽ chẳng đủ vào đâu dưới cái nắng thiêu đốt của mùa hạ. Việc mua nước trong cảnh khó khăn đã làm giàu cho những thương thuyền bán nước dọc sông.

Mùa mưa, người dân tranh thủ trữ nước vào những bồn chứa thật to. Ảnh: M.QUÊ

Mỗi năm gánh chịu năm trận lũ

Đối lập với thái cực hạn hán khô khát là mưa lũ. Mùa mưa trên các cồn nổi sông Gianh luôn giành phần vô địch với các trận lũ siêu lớn và kéo dài nhiều ngày, mỗi năm thường có đến năm trận lũ trong các tháng 10 và 11. Ông Tâm nói rằng: “Thật ra hạn hán còn chịu được chứ lũ lụt là kinh hoàng. Những hòn cồn ở đây đều biệt lập. Bởi vậy khi có sự cố diễn ra, bên đất liền các làng mạc khác cũng không thể có thuyền bè chạy ra ứng cứu, chỉ có người dân trong cồn đoàn kết với nhau để cùng vượt lũ”. Trận lũ mạnh nhất trong trăm năm qua còn in hằn dấu vết trên nhiều cồn nổi sông Gianh. Ấy là trận siêu lũ năm 2010, nhà nhà ngập lút nóc, gạo cơm, trâu bò và cả người cũng bị cuốn tống ra biển Đông.

Người dân phải mua nước giá cao từ các thuyền bán nước ngọt chở từ đất liền sang. Ảnh: M.QUÊ

Ông Nguyễn Thái Mãn ở thôn Minh Hà kể: “Lũ lụt là sợ nhất, nó đẩy dân làng đến các nguy cơ mất sạch tài sản, thậm chí tính mạng. Đời nối đời dân ở đây năm nào cũng hứng lụt, nước chảy cuồn cuộn, khi cả mấy cồn ngập lụt thì nhìn con nước chảy xiết thấy sợ vô cùng”. Và cách để họ sống chung với thái cực kinh hoàng này là ngoài việc sở hữu đò, mỗi nhà còn đóng cái rầm tra (nôm na là gác lửng) ở gần mái nhà để đối mặt với “hà bá” lụt lội. Khi nước lên lút nóc nhà thì họ trổ nóc ra ngồi lên đòn dông trên mái, nước ngập nữa thì cột dây mây vào mái nhà, đầu dây kia buộc vào hông, chờ chết. Nếu trời thương không ngập nữa thì còn có cơ hội sống làm lại từ đầu, nếu lỡ chết thì như thế cũng còn có xác để làng xóm chôn cho đỡ tủi phận.

Quê hương của ông Tâm, ông Mãn và mấy ngàn người cồn Nâm còn là những cồn không có người ở xung quanh, những nơi không có người ở vì đất ít. Nhưng ông Tâm và dân làng cũng từng chứng kiến nước lũ dữ dội đã xóa sổ hai hòn cồn có diện tích hơn 2 ha như cồn Tra, cồn Bồi. Tuổi thơ của ông từng trần mình cùng trâu bò trên hai hòn cồn đó nhưng sức lũ đã làm hai hòn cồn biến mất. Riêng Tân Định còn “lóp ngóp” chút ít đất bồi dưới mực nước, một số dân làng ra “cứu lại” để đắp ruộng thủy sản, nuôi tôm cá.

Hòa ước tinh thần

Trên tất cả đảo nổi có cư dân sinh sống tại sông Gianh đều có bóng dáng nhà thờ như một biểu trưng mạnh mẽ về đời sống tinh thần của họ. Những gác nhà thờ lồng lộng và cư dân các đảo đều đa phần theo Công giáo. Ngày xưa, các nhà truyền giáo đã men theo các tàu buôn, tàu chiến vào dọc những lạch sông để đến với cư dân ở đây và người dân các đảo đã theo đạo như một cách để nương tựa tinh thần.

Có làng có đến bốn nhà thờ như làng Minh Hà. Có làng có nhà thờ rất lớn, đứng từ cầu Quảng Hải đã thấy nhà thờ soi bóng xuống dòng sông như nhà thờ Cồn Sẻ. Cồn Cưỡi, cồn Niệt... cũng có bóng dáng của điều này. Người dân cho rằng đó là hòa ước tinh thần của họ trước tự nhiên khắc nghiệt và điều đó giúp họ tự tin để gắn bó với mảnh đất bản quán của mình.

Sưu tầm: T.Q

(Ghi chú: Tin bài trên được sưu tầm và đăng tin trên trang web nội bộ VP UBND tỉnh nhằm mục đích phục vụ thông tin nội bộ cơ quan)

Các tin khác

Lượt truy cập: 12.159.924 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này