Bản tin cải cách hành chính ngày 03/11/2017

15:52, Thứ Sáu, 3-11-2017

Xem với cỡ chữ : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG.. 1

1.  TPHCM: Bình Tân chưa có việc trễ hạn khi nhận hồ sơ trực tuyến. 1

2.  Hà Giang: Tiết kiệm cả chục tỷ đồng nhờ sử dụng Hội nghị truyền hình. 2

LĨNH VỰC CẢI CÁCH. 3

3.  Chỉ số tiếp cận điện năng của Việt Nam tăng 32 bậc. 3

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH. 4

4.  Bạc Liêu gửi văn bản đề nghị “hỗ trợ” doanh nghiệp... bán bảo hiểm.. 4

5.  Đà Nẵng: Cấm sử dụng công sở vào mục đích sản xuất kinh doanh. 5

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH. 6

6.  Môi trường kinh doanh: Tăng hạng, doanh nghiệp vẫn sợ...“hành”. 6

7.  Doanh nghiệp mất 30 triệu ngày công, 14.000 tỷ đồng/năm vì kiểm tra chuyên ngành. 9

8.  Bộ máy và “biên chế” - ba điều lưu ý. 9

TIN THẾ GIỚI 11

9.  Trung Quốc chỉ đạo giữ vững vai trò “đầu tàu” của doanh nghiệp quốc doanh. 11


CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

TPHCM: Bình Tân chưa có việc trễ hạn khi nhận hồ sơ trực tuyến

Chiều 2-11, UBND quận Bình Tân đã tổ chức Hội nghị sơ kết một năm thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 và ký kết chương trình phối hợp giám sát cán bộ, công chức, viên chức.

Báo cáo về kết quả một năm thực hiện (từ ngày 1-10-2016 đến 28-10-2017), UBND quận Bình Tân cho biết quận đã triển khai 46 thủ tục ở mức độ 3 thuộc sáu lĩnh vực (kinh tế, y tế, lao động, hộ tịch, môi trường) và 13 lĩnh vực cung cấp ở mức độ 4 thuộc hai lĩnh vực (lao động, xây dựng).

Theo đó, thời gian đầu, tỉ lệ người dân tham gia thực hiện dịch vụ công trực tuyến còn hạn chế. Tuy nhiên, tỉ lệ này có sự gia tăng theo từng tháng. Cụ thể, vào tuần thứ 52 của năm 2016, kết quả giải quyết thủ tục hành chính mức độ 3 chỉ đạt 4,28% nhưng đến nay tỉ lệ này đã đạt 58,46%, tăng 54,36%.

Ông Lê Văn Bảy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam quận Bình Tân, đề nghị đẩy mạnh hơn dịch vụ công trực tuyến để phục vụ dân tốt hơn. “Hiện nay người dân đi giao dịch với cán bộ, đôi lúc còn bị hạch sách nhưng khi thực hiện trực tuyến thì sẽ hạn chế việc cán bộ trực tiếp nhận hồ sơ” - ông Bảy nhận định.

Phát biểu chỉ đạo, Chủ tịch UBND quận Bình Tân Lê Văn Thinh đã biểu dương các đơn vị, cá nhân có những nỗ lực vượt qua khó khăn, trở ngại ban đầu để đạt được kết quả như ngày hôm nay. Ông cho biết mặc dù chưa thể triển khai cùng lúc hết mọi thủ tục nhưng làm từng bước, vừa nâng cấp cơ sở hạ tầng, vừa vận động trong dân. Mong rằng sau một năm nữa thì tỉ lệ này sẽ đạt cao hơn.

Ông Thinh cũng đề nghị các phòng, ban, UBND 10 phường chủ động rà soát tiếp tục tham mưu UBND quận công bố ban hành thêm nhiều thủ tục. Một số thủ tục có khả năng tổ chức được mà không phải chờ thì khẩn trương thực hiện; những thủ tục chờ kết nối dữ liệu với các cơ quan bộ thì chuẩn bị trước. “Những việc gì làm tốt, phục vụ tốt hơn cho dân thì càng phải làm tốt hơn” - Chủ tịch UBND quận Bình Tân khẳng định. (Pháp Luật TPHCM 02/11) Về đầu trang

Hà Giang: Tiết kiệm cả chục tỷ đồng nhờ sử dụng Hội nghị truyền hình

Không chỉ vậy, đây còn là một trong những yếu tố giúp Hà Giang lọt top 10 về chỉ số ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) và top 10 trong bảng xếp hạng dịch vụ công trực tuyến cả nước.

Thực hiện chỉ thị của Ban chấp hành TW Đảng về việc hạn chế tối đa các hội nghị tập trung có quy mô lớn, tăng cường cải cách hành chính hướng tới chính phủ điện tử, góp phần phát huy sự lãnh chỉ đạo kịp thời từ tỉnh, huyện, xã đặc biệt các xã vùng sâu, vùng xa biên giới, Hà Giang đã tích cực triển khai hệ thống Hội nghị trực tuyến đến cấp xã. Sau khi có chủ trương của tỉnh, từ ngày 1/3/2017 đến nay, UBND các huyện đã tích cực phối hợp với VNPT để triển khai hệ thống này.

Theo ông Lã Đình Điền - Giám đốc Trung tâm CNTT và Truyền thông Hà Giang, việc ứng dụng CNTT đặc biệt là hệ thống truyền hình trực tuyến từ tỉnh đến huyện và các xã hết sức thiết thực, hiệu quả, phù hợp với nhu cầu ứng dụng CNTT trên địa bàn tỉnh. Do đó, ngay trong tháng 3/2017, VNPT đã triển khai lắp đặt, vận hành thử hệ thống Hội nghị truyền hình trực tuyến tại 173/195 xã. Một số huyện đã đưa hệ thống vào sử dụng chính thức như Vị Xuyên, Quảng Bạ, Mèo Vạc, Đồng Văn.

Với chất lượng hình ảnh, âm thanh tốt nên ngay sau khi lắp đặt xong hệ thống, nhiều huyện đã sử dụng liên tục trong các đợt tập huấn về nông nghiệp, Y tế, giáo dục, học Nghị quyết hay triển khai công tác... Có huyện tuần họp 3 buổi, thậm chí, có huyện ngày họp tới 2 buổi.

Với thời gian triển khai nhanh, khoảng 2 ngày có thể hoàn thành 1 huyện, 18 xã đường núi nên cho đến nay Hệ thống hội nghị truyền hình đã được triển khai đến 100% các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh và đang tiếp tục được triển khai cho nhiều Sở Ban ngành khác trên địa bàn tỉnh.

Tại huyện Vị Xuyên, khác với các buổi giao ban sơ kết hoạt động HĐND các cấp trước đây, mặc dù thành phần tham gia nhiều hơn nhưng số người có mặt tại hội trường UBND huyện chưa đến 20 người. Thông qua màn hình gắn camera và thiết bị trực tuyến công nghệ cao, 22 điểm cầu trên toàn huyện được kết nối với nhau, tạo ra không gian phẳng, nối gần khoảng cách từ huyện đến xã xa nhất, cách trung tâm gần 60 km chỉ bằng những cú clich chuột.

Theo ông Lục Chí Việt - Bí thư Đảng ủy xã Đạo Đức, huyện Vị Xuyên, với thành phần họp trực tuyến rộng gấp nhiều lần so với họp trực tiếp thì sức lan tỏa về các chính sách, chủ trương, chỉ đạo của lãnh đạo cấp trên sẽ sâu rộng hơn và có sự thống nhất, xuyên suốt trong toàn hệ thống chính trị.

Đánh giá về hiệu quả mà hệ thống truyền hình trực tuyến đem lại, ông Triệu Tài Vinh - Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang khẳng định:"Cho đến ngày hôm nay, hệ thống truyền hình trực tuyến của tỉnh Hà Giang đã tổ chức và vận hành rất trơn tru. Trước đây, chúng ta thông qua các báo cáo viên, lựa chọn đối tượng và số lượng được dự rất ít. Còn hiện nay, tất cả cán bộ cấp xã đều được tham dự. Đó là điều rất tốt, rất thuận lợi cho công tác chỉ đạo điều hành từ cấp tỉnh đến cấp huyện và cấp xã".       

Từ tháng 5/2017, VNPT đã triển khai và vận hành Hệ thống hội nghị truyền hình phục vụ phiên họp đầu tiên cuả UBND tỉnh triển khai nghị quyết TW5 từ Trung ương trực tiếp đến các xã với số lượng 6.300 người tham gia. Tiếp sau đó là 3 phiên trực tiếp từ TW đến xã, có phiên lên đến 8.200 người, góp phần giúp công tác triển khai nghị quyết, giám sát điều hành, tiếp xúc cử tri, đôn đốc công việc được trực tiếp từ tỉnh xuống xã, tiết kiệm được công sức và thời gian của cán bộ.

Ước tính đến thời điểm này, nhờ sử dụng hệ thống, tỉnh đã tiết kiệm được hàng chục tỷ đồng. Ngoài ra, việc ứng dụng CNTT trong chỉ đạo điều hành thời gian qua, mà nổi bật là đưa hệ thống truyền hình trực tuyến vào triển khai, bước đầu đã đem lại những tín hiệu tích cực, đưa Hà Giang lọt top 10 về chỉ số ứng dụng CNTT và top 10 trong bảng xếp hạng dịch vụ công trực tuyến.  (Xahoithongtin.com.vn 03/11)Về đầu trang  

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Chỉ số tiếp cận điện năng của Việt Nam tăng 32 bậc

Theo kết quả đánh giá, chỉ số tiếp cận điện năng năm 2017 của Việt Nam đạt gần 79 điểm trên thang 100 điểm, tăng 32 bậc so với xếp hạng năm 2016.

Một nhóm nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới vừa công bố kết quả đánh giá các chỉ số năng lực cạnh tranh năm 2017 của 190 nền kinh tế trên thế giới. Một thông tin đáng chú ý từ báo cáo này là chỉ số tiếp cận điện năng của Việt Nam có sự thăng tiến mạnh.

Theo kết quả đánh giá, chỉ số tiếp cận điện năng năm 2017 của Việt Nam đạt gần 79 điểm trên thang 100 điểm, tăng 32 bậc so với xếp hạng năm 2016. So sánh với các nước trong khu vực ASEAN, chỉ số tiếp cận điện năng của Việt Nam cải thiện vị trí nhiều nhất.

Chỉ số tiếp cận điện năng là một trong 5 chỉ số tăng mạnh, giúp chỉ số đánh giá chung của nền kinh tế Việt Nam tăng 14 bậc về môi trường kinh doanh. Đây là năm thứ 4 liên tiếp chỉ số tiếp cận điện năng của Việt Nam được cải thiện về vị trí và là năm thứ 2 được nhóm nghiên cứu này ghi nhận có các cải cách lớn.

Đến cuối năm 2017, 100% các dịch vụ cung cấp điện năng của Tập đoàn điện lực Việt Nam đều có thể thực hiện đăng ký trực tuyến và chỉ số tiếp cận điện năng của Việt Nam đã vượt so với yêu cầu về thứ hạng của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017. (Kênh VTV1 – Bản tin Thời sự lúc 19h34 ngày 02/11) Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Bạc Liêu gửi văn bản đề nghị “hỗ trợ” doanh nghiệp... bán bảo hiểm

UBND tỉnh Bạc Liêu ra văn bản đề nghị cấp dưới "hỗ trợ" doanh nghiệp... bán bảo hiểm đã gây ra nhiều lo ngại. Luật sư cho rằng văn bản này là trái luật, cần phải được thu hồi và hủy bỏ.

Tại cuộc họp báo thường kỳ do Ban Tuyên giáo và Sở Thông tin truyền thông tỉnh Bạc Liêu tổ chức ngày 2-11, ông Nguyễn Bình Tân, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bạc Liêu, cho biết sẽ báo cáo lãnh đạo tỉnh để trả lời báo chí về việc UBND tỉnh có văn bản đề nghị "hỗ trợ" doanh nghiệp… bán bảo hiểm.

Trước đó, ngày 25-10, Phó chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu Vương Phương Nam đã ký văn bản gửi UBND các huyện, thị xã và thành phố trong tỉnh đề nghị "xem xét, hỗ trợ, tạo điều kiện cho Công ty Bảo hiểm PVI Cà Mau trong việc triển khai bảo hiểm tai nạn hộ sử dụng điện trên đại bàn, theo đúng quy định của pháp luật".

Sau đó, các đơn vị trên đã triển khai tới các đơn vị phường, xã và đã có nhiều ý kiến từ cán bộ thừa hành cho rằng văn bản này rất "kỳ" khi chính quyền tỉnh lại chỉ đạo họ "hỗ trợ" cho doanh nghiệp bán bảo hiểm.

Theo tìm hiểu của Tuổi Trẻ Online, ngày 5-10, Công ty Bảo hiểm PVI Cà Mau có văn bản gửi UBND tỉnh Bạc Liêu về việc "đề nghị hỗ trợ cho PVI trong việc triển khai bảo hiểm tai nạn hộ sử dụng điện hằng năm trên địa bàn".

Lý do có văn bản này là căn cứ vào biên bản ghi nhớ hợp tác toàn diện giữa Tổng công ty Bảo hiểm PVI (Bảo hiểm Dầu khí quốc gia Việt Nam) và UBND tỉnh Bạc Liêu, theo đó UBND tỉnh cam kết hỗ trợ cho phía Tập đoàn Dầu khí trong toàn hệ thống, trong đó cóPVI.

Hình thức triển khai là đến từng hộ gia đình tuyên tuyền, vận động tự nguyện tham gia, phí bảo hiểm mỗi năm là 100.000 đồng một hộ, mức trách nhiệm là 36 triệu đồn với một người/vụ.

"Bằng công văn này Công ty Bảo hiểm dầu khí (PVI) kính trình UBND tỉnh Bạc Liêu hỗ trợ, tạo điều kiện để công ty chúng tôi được triển khai, tác nghiệp khai thác bảo hiểm trên địa bàn. Chúng tôi cam kết thực hiện theo tinh thần tuyên truyền, vận động, tự nguyên tham gia và mang lại lợi ích dịch vụ tốt nhất theo pháp luật quy định", công văn của Công ty Bảo hiểm PVI nêu rõ.

Luật sư Nguyễn Văn Đức, Đoàn Luật sư Cần Thơ, cho rằng văn bản của UBND tỉnh Bạc Liêu gửi UBND các huyện, thị xã, thành phố là có tính "mệnh lệnh" khi đề nghị cấp dưới hỗ trợ PVI như đã nêu trên.

Luật sư Đức cho rằng đối chiếu Điều 17 Nghị định 45 năm 2007 quy định "Doanh nghiệp bảo hiểm không được ép buộc các tổ chức, cá nhân mua bảo hiểm dưới mọi hình thức" và Nghị định 68 năm 2014 theo đó đối với loại hình "bảo hiểm tai nạn đối với hộ sử dụng điện hàng năm trên địa bàn" là không thuộc diện và danh mục bảo hiểm bắt buộc.

Trong khi đó, theo luật sư Đức, văn bản của UBND tỉnh Bạc Liêu là "mệnh lệnh" để các đơn vị cấp dưới phải thực hiện là hoàn toàn trái với quy định pháp luật, vì thế cần phải được thu hồi để hủy bỏ. (Tuổi Trẻ 02/11) Về đầu trang

Đà Nẵng: Cấm sử dụng công sở vào mục đích sản xuất kinh doanh

UBND thành phố Đà Nẵng vừa ban hành Quyết định số 5861 về quản lý, sử dụng công sở, trụ sở, nhà làm việc thuộc sở hữu Nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Theo đó, cấm không được sử dụng công sở, trụ sở, nhà làm việc vào các mục đích sản xuất kinh doanh, cho thuê, cho mượn, sang nhượng, làm nhà ở.

Quyết định số 5861 nêu rõ: giao công sở, trụ sở, nhà làm việc thuộc sở hữu Nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng cho các cơ quan hành chính, tổ chức, cơ quan, đơn vị quản lý sử dụng phải đúng công năng thiết kế, đúng mục đích nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá và cải cách hành chính nhà nước.

Tuyệt đối không được sử dụng công sở, trụ sở, nhà làm việc vào các mục đích sản xuất kinh doanh, cho thuê, cho mượn, sang nhượng, làm nhà ở hoặc tự điều chuyển cho đối tượng khác không đúng thẩm quyền, trừ trường hợp Lãnh đạo thành phố có quyết định riêng.

Đối với việc bảo trì, sửa chữa có tổng mức đầu tư từ 500 triệu đồng đến dưới 03 tỷ đồng phải gửi Công ty Quản lý nhà Đà Nẵng trình cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư phê duyệt. Đối với tổng mức đầu tư từ 03 tỷ đồng trở lên phải trình cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư phê duyệt.

Các cơ quan, đơn vị được giao trực tiếp quản lý sử dụng công sở, trụ sở, nhà làm việc có trách nhiệm rà soát, sắp xếp lại trụ sở làm việc của mình. Trường hợp hiện đang bố trí các đơn vị trực thuộc ở ngoài công sở, trụ sở, nhà làm việc, hoặc có mặt bằng công sở, trụ sở, nhà làm việc chật hẹp không đảm bảo yêu cầu công tác, phải tiến hành rà soát đối chiếu với tiêu chuẩn quy định, định mức và biên chế để sắp xếp nơi làm việc theo hướng tập trung nâng cao hiệu quả điều hành công việc.

Cho phép bố trí hoặc chuyến đổi cho cơ quan hành chính nhà nước khác sử dụng phù hợp hơn hoặc đưa vào kế hoạch đầu tư xây dựng mới. Cho phép bán đấu giá công sở, trụ sở, nhà làm việc để lấy kinh phí đầu tư xây dựng trụ sở mới theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.... (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 03/11)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Môi trường kinh doanh: Tăng hạng, doanh nghiệp vẫn sợ...“hành”

Việt Nam tăng 14 bậc về môi trường kinh doanh nhưng Thái Lan tăng 20 bậc, Indonesia tăng 19 bậc, Brunei tăng 16 bậc. Điều đó có nghĩa rằng mục tiêu Việt Nam đạt mức độ trung bình của các nước ASEAN 4 còn rất xa. Chưa kể, DN vẫn than không sợ gì bằng rủi ro chính sách, không ngại gì bằng ngại thực thi các hồ sơ thủ tục hành chính.

Báo cáo Môi trường kinh doanh 2018 với chủ đề “Cải cách để tạo việc làm (Doing Business)” do Ngân hàng Thế giới (WB) công bố, Việt Nam đã tăng 14 hạng so với năm 2017.

WB đánh giá, Việt Nam xếp hạng 68/190 nền kinh tế được đánh giá, tăng 14 bậc so với đánh giá trong năm 2017 (82/190 nền kinh tế). Môi trường kinh doanh của Việt Nam được quốc tế đánh giá cao vì có nhiều cải thiện từ chính sách của Chính phủ, 8/10 chỉ số tăng hạng.

Theo WB, Việt Nam là một trong hai nước thực hiện nhiều cải cách nhất trong 15 năm qua. Hiện nay, doanh nhân tại Tp.HCM chỉ mất 22 ngày và 6,5% thu nhập đầu người để đăng ký thành lập DN mới, so với 61 ngày và 31,9% thu nhập trong năm 2003.

Đánh giá về nỗ lực này, ông Lê Đăng Doanh, chuyên gia Kinh tế, cho rằng ghi nhận của quốc tế với nỗ lực của Chính phủ Việt Nam, của các bộ là bước đầu đáng mừng. “Tôi tin rằng các chỉ số trong báo cáo là một căn cứ, ngoài các căn cứ về chi phí khác như thuế, vận tải, đất đai… họ sẽ có thêm những tư liệu để quyết định đầu tư cả đối với khu vực FDI và khu vực đầu tư trong nước”.

Tuy nhiên, ông Doanh khuyến cáo rằng Việt Nam không nên “tự mãn, rung đùi” bởi thứ hạng 68/190 nước chưa phải là mức cao lắm, dù có vượt so với một số nước và vượt qua chính chúng ta, song để tạo đột phá, chúng ta cần làm nhiều hơn nữa về cải thiện chính các chỉ số đã có tiến bộ.

Bà Nguyễn Minh Thảo, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đánh giá, môi trường kinh doanh tăng 14 bậc so với năm ngoái là mức tăng bậc nhiều nhất trong thập niên qua.

Song phân tích cụ thể, bà Thảo cho biết, vẫn còn 4/10 chỉ số môi trường kinh doanh giảm bậc, gồm Khởi sự kinh doanh (giảm 2 bậc), Đăng ký sở hữu tài sản (giảm 4 bậc), Giao dịch thương mại qua biên giới (giảm 1 bậc) và Giải quyết phá sản doanh nghiệp (giảm 4 bậc).

“Sự giảm bậc không phải do các chỉ số không có sự cải thiện mà do các quốc gia khác có sự cải thiện tốt hơn Việt Nam trên các chỉ số này, vì không có chỉ số nào giảm điểm, 3 trong 4 chỉ số tăng điểm, 1 chỉ số không thay đổi về điểm số”, bà Thảo nói.

Điều bà Thảo băn khoăn hơn nữa là Việt Nam hiện đứng sau 4 nước trong khu vực ASEAN, gồm: Singapore (thứ 2); Malaysia (thứ 24); Thái Lan (thứ 26); và Brunei (thứ 56). Trong năm nay, cùng với Việt Nam, ba nước gồm Thái Lan, Indonesia và Brunei cũng có sự tăng hạng vượt bậc và thậm chí nhanh hơn Việt Nam.

Cụ thể là Thái Lan tăng 20 bậc; Indonesia tăng 19 bậc; Brunei tăng 16 bậc. Trong đó, hai năm gần đây, Indonesia và Brunei liên tục có sự tăng hạng đáng kể và với tốc độ nhanh hơn nước ta. Năm 2016, Indonesia tăng 15 bậc, Brunei tăng 25 bậc.

Với đà cải cách mạnh mẽ của các nước trong khu vực, mục tiêu Việt Nam đạt mức độ trung bình của các nước ASEAN 4 trên các chỉ tiêu về môi trường kinh doanh sẽ trở nên thách thức và đòi hỏi chúng ta phải quyết tâm và nỗ lực nhiều hơn.

“Với đà cải cách mạnh mẽ của các nước trong khu vực, mục tiêu Việt Nam đạt mức độ trung bình của các nước ASEAN 4 trên các chỉ tiêu về môi trường kinh doanh sẽ trở nên thách thức và đòi hỏi chúng ta phải quyết tâm và nỗ lực nhiều hơn”, bà Thảo nói.

Trong khi đó, về phần DN, nỗi sợ rủi ro chính sách vẫn chưa có dấu hiệu suy giảm. Ông Tạ Quyết Thắng, Tổng Giám đốc công ty TNHH Sơn Trường, chia sẻ rằng thủ tục hành chính luôn là cái mà DN quan tâm. “Làm thủ tục một ngày nhưng phải chờ thông qua một tháng”.

Ông Thắng chia sẻ: “Tôi có hai dự án đầu tư gần 200 tỷ đồng. Tôi triển khai có 6 tháng thôi, nhưng thủ tục hành chính lúc bấy giờ yêu cầu hoàn thiện sồ sơ là 7 tháng. Đến giờ, gần 2 năm vẫn không xong.

Không xong giấy phép đầu tư, kinh doanh thì ngân hàng không cho vay vốn. Bây giờ, không thể trách ai được, cũng không thể trách nơi làm được vì hoàn toàn do các văn bản pháp quy, nào là luật, nghị định, thông tư yêu cầu”.

Ông Thắng cho rằng “Người công chức thừa hành, vậy nên họ cứ căn cứ vào luật, nghị định, thông tư để triển khai. Vậy nên điểm gỡ chính là cấp thực thi”.

“Chúng ta đừng hy vọng nhiều ở cải cách hành chính. Một bộ máy đồ sộ một ngày “đẻ ra” bao nhiêu văn bản pháp quy, cái sản sinh với cái bỏ đi tỷ lệ bằng nhau. Thậm chí, cải cách huỷ bỏ được 1 nhưng đẻ ra 10”, ông Thắng bi quan nói.

Ông Vũ Huy Đông, Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc công ty CP Damsan, chia sẻ, trong môi trường kinh doanh hiện nay, từ 5 năm trở lại đây, môi trường kinh doanh đã có nhiều cải thiện. Thủ tướng đã và đang chỉ đạo quyết liệt, yêu cầu bộ ngành cải cách hành chính, tháo gỡ khó khăn cho DN.

Tuy nhiên, theo ông Đông, Thủ tướng thì yêu cầu quyết liệt cải cách hành chính, giảm thời gian, hồ sơ giấy tờ cho DN, nhưng để thực hiện được thì còn rất dài.

Ông Đông ví dụ, một dự án đầu tư, ông mất 24 tháng để làm hồ sơ pháp lý, dự án thứ 2 mất 18 tháng hoàn thiện hồ sơ pháp lý. Tính từ khi bắt đầu thực hiện cho tới triển khai, thời gian nộp hồ sơ bằng thời gian triển khai.

“Thủ tướng yêu cầu vậy, các bộ ngành địa phương vào cuộc, kêu giảm thời gian, hồ sơ pháp lý cho DN. Nhưng một số bộ cứ ban hành thủ tục, vậy chẳng phải một bên cứ sinh, trong khi một bên loay hoay giảm”.

Do vậy, ông Đông kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ ngành rà soát thông tư nghị quyết của Chính phủ xem điều nào chồng chéo, rườm rà. Các thông tư của bộ ngành cũng cần đả động đến. Nếu quy định đó cần thiết phải thực thi, các tỉnh, địa phương mà bỏ qua hồ sơ pháp lý để thuận lợi cho nhà đầu tư thì khi có vấn đề lại bị truy cứu trách nhiệm.

“Chính phủ và Bộ ngành phải giải quyết nút thắt này để tháo gỡ cho các địa phương. DN không sợ gì bằng rủi ro chính sách. Không có gì ngại bằng thực hiện các hồ sơ thủ tục hành chính”, ông Đông khuyến nghị.

Cùng với đó, đề cập tới vấn đề chi phí đè nặng DN, ông Đông cho biết năm 2015, ông thành lập công ty con nằm trong công ty lớn, đầu tư nhà máy sợi với hơn 40.000 cọc sợi. Sau 10 tháng hoạt động, công ty phải trả 36 tỷ đồng tiền thuế trong 2017, tiền điện 36 tỷ đồng, ngân hàng 20 tỷ đồng tiền lãi, trả lương 250 cán bộ nhân viên hết 25 tỷ đồng, thu khấu hao 25 tỷ đồng, từ thiện xã hội nửa tỷ đồng. Như vậy chủ đầu tư chỉ được 12 tỷ đồng. (Thời Báo Kinh Doanh 03/11) Về đầu trang

Doanh nghiệp mất 30 triệu ngày công, 14.000 tỷ đồng/năm vì kiểm tra chuyên ngành

Để thực hiện các thủ tục kiểm tra chuyên ngành, doanh nghiệp phải bỏ ra 30 triệu ngày công và khoảng 14.000 tỷ đồng mỗi năm.

Trong đó, có tới hơn một nửa các mặt hàng nhập khẩu phải chịu sự kiểm tra của 2 - 3 bộ ngành khác nhau. Đây là số liệu thống kế từ Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương.

Để đưa một hộp sữa về kho, doanh nghiệp phải xin xác nhận an toàn kiểm dịch động vật của nước sản xuất. Nhưng về tới Việt Nam, hộp sữa vẫn phải cõng thêm hai loại giấy phép khác: Một là giấy kiểm dịch động vật ở Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; Hai là giấy an toàn thực phẩm ở Bộ Y tế.

Tương tự, một chiếc kẹo làm ra gánh tới 8 giấy an toàn thực phẩm. Cứ mỗi loại nguyên liệu nhập khẩu phải xin cấp ít nhất một giấy phép. Chưa kể, nếu được làm từ các nguyên liệu có nguồn gốc động vật lại phải xin thêm giấy kiểm định.

Theo các chuyên gia, hoàn toàn có thể loại bỏ ít nhất 50% số mặt hàng phải kiểm tra chuyên ngành. Ví dụ nhóm thực phẩm bao gói sẵn, được chế biến sâu hay được xử lý nhiệt ở nhiệt độ cao. Điều này đồng nghĩa với việc rất nhiều giấy phép sẽ được loại bỏ.

Một hộp sữa 2 giấy phép, 2 bộ quản lý. Để giảm bớt sự chồng chéo, các chuyên gia cho rằng, chỉ cần một bộ quản lý. Thay vì phải đi tới 2 nơi, doanh nghiệp chỉ cần tới một đơn vị. Còn lại, các đơn vị tự có trách nhiệm kết nối thông tin với nhau và trả kết quả cho doanh nghiệp. (Kênh VTV1 – Bản tin Thời sự lúc 21h45 ngày 03/11) Về đầu trang

Bộ máy và “biên chế” - ba điều lưu ý

Hội nghị Trung ương 6 đã phát đi những tín hiệu mạnh mẽ về cải cách bộ máy nhà nước và tinh giản “biên chế”, với những cam kết chính trị có thể coi là cao nhất trong suốt ba thập niên kể từ sau đổi mới. Tiếp đó, trên diễn đàn Quốc hội cũng như báo chí đang diễn ra những thảo luận rộng rãi về chủ đề quan trọng này. Nhìn lại những chuyển động chính sách và các thảo luận, ba vấn đề lớn có thể rút ra, giúp định hướng tốt hơn, có nhận thức sát và tiếp cận sát đối với một lĩnh vực vốn dĩ phức tạp.

Thứ nhất, cần minh định rõ “biên chế” và “bộ máy”, từ đó xác lập mục tiêu và phương pháp tiếp cận cải cách phù hợp. Biên chế là hệ quả của bộ máy nhà nước. Tổ chức bộ máy tốt (trong đó, chức năng Nhà nước phù hợp, tinh gọn; ranh giới Nhà nước - thị trường - các tổ chức xã hội được xác lập rõ ràng) là căn cứ để tổ chức nhân sự tốt. Kết quả mong muốn là, tổng thể biên chế bộ máy sẽ giảm xuống nhưng chỗ cần tăng vẫn có thể tăng, chỗ đáng giảm vẫn có thể giảm. Như vậy, mục tiêu chính là “bộ máy” chứ không nên là “biên chế”. Khi thiết lập mục tiêu và kế hoạch cụ thể cho từng hoạt động, cần xác định đối tượng thay đổi trước hết là chức năng của các cơ quan nhà nước, thứ đến mới là biên chế.

Thứ hai, cần nhận thức hợp lý hơn rằng, lợi ích của giảm biên chế không đơn thuần nằm ở tiết kiệm chi ngân sách, cụ thể là chi thường xuyên - lương bổng và chi phí để nuôi biên chế. Cái lợi lớn nhất là chất lượng và hiệu quả của quản trị quốc gia được nâng cao khi có bộ máy tốt và nhân sự tốt. Xây dựng chính sách tốt hơn, thực thi chính sách hiệu quả hơn có thể mang lại những lợi ích khổng lồ cho đất nước. Do đó, cần kết hợp những áp lực ngắn hạn (thâm hụt và căng thẳng ngân sách do chi thường xuyên quá lớn) và lợi ích hứa hẹn về dài hạn để tạo động lực mạnh cho tiến trình cải cách. Làm được điều này sẽ giúp duy trì cam kết và tính bền vững của cải cách bộ máy, tránh tình trạng “đầu voi, đuôi chuột”, “đánh trống, bỏ dùi” như các đợt cải cách bộ máy trước đây.

Thứ ba, bộ máy nhà nước là phức tạp, có nhiều khu vực khác nhau, do đó cần có triết lý hướng dẫn và lý luận khoa học làm nền tảng cho tiến trình cải cách. Một ví dụ nhỏ, biên chế hưởng lương từ ngân sách hiện ở trong ba khu vực lớn: khu vực hành chính, khu vực sự nghiệp và khu vực Đảng, đoàn thể. Dù đều làm việc dưới hình thức biên chế và được bao cấp ngân sách, ba nhóm này có ba chức năng riêng và có những đặc thù khác nhau. Vì vậy, thiết kế các hoạt động cải cách cần nhận thức rõ các đặc thù và có tiếp cận phù hợp với những nhóm này. Không thể “cắt” một cách chung chung, đặt các mục tiêu và áp dụng các giải pháp chung như nhau cho tất cả các nhóm.

Trong ba nhóm này, nhóm các đơn vị sự nghiệp công và nhóm đoàn thể là hai nhóm đang thực hiện nhiều chức năng, nhiệm vụ mà phần lớn có thể chuyển giao cho thị trường và các tổ chức xã hội đảm nhiệm. Các nỗ lực cắt giảm mạnh nên tập trung mạnh vào hai nhóm này (đặt các mục tiêu cao về cắt giảm bộ máy và nhân sự). Trong khi đó, khu vực hành chính, với nòng cốt là nhóm công chức, lại có chức năng và vai trò phức tạp hơn. Với nhóm công chức này, cần thận trọng  (giảm chỗ cần giảm và có thể tăng một số chỗ cần tăng đi kèm với hiện đại hóa và nâng cao năng lực) chứ không phải là “cắt đồng đều” theo các chỉ tiêu mang tính áp đặt.

Triết lý hướng dẫn và nền tảng khoa học giúp lựa chọn mô hình nhà nước, từ đó thiết kế chiến lược, sách lược cải cách cho từng khu vực riêng là tối quan trọng và cần đi trước một bước. Nó cũng giúp tránh được những thất bại từ quá khứ: cải cách manh mún, sát nhập cơ học bộ máy mà hệ quả là càng “cải” bộ máy và biên chế lại càng phình to.

Quyết tâm chính trị và cam kết cải cách bộ máy, tinh giản biên chế, cả từ phía Đảng lẫn Chính phủ là rất đáng hoan nghênh. Tuy nhiên, cải cách bộ máy luôn là công việc phức tạp và hàm chứa nhiều rào cản và thách thức từ trong nội bộ bộ máy nhà nước. Sự quyết liệt, do đó, cũng cần đi kèm với chiến lược thực thi một cách khoa học, thận trọng và phù hợp hơn. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 03/11) Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

Trung Quốc chỉ đạo giữ vững vai trò “đầu tàu” của doanh nghiệp quốc doanh

Chính phủ Trung Quốc đã ban hành chỉ thị về cải cách sâu rộng các doanh nghiệp quốc doanh liên quan đến hàng trăm nghìn doanh nghiệp, trong đó có nhiều tập đoàn, tổng công ty có vốn 100% nhà nước.

Kể từ năm 1978, Trung Quốc đã tiến hành công cuộc cải cách và mở cửa kinh tế đất nước, bắt đầu từ nông nghiệp đến công nghiệp, từ nông thôn đến thành thị, trong đó cải cách doanh nghiệp quốc doanh là trọng tâm trong công cuộc cải cách mở cửa đất nước.

Trong suốt quá trình cải cách, mở cửa nền kinh tế, Trung Quốc luôn coi cải cách doanh nghiệp nhà nước là khâu trọng tâm của cải cách. Trong thời gian qua, các doanh nghiệp quốc doanh của Trung Quốc vẫn giữ một vai trò chủ đạo, nhận được nhiều ưu đãi hơn so với khu vực kinh tế tư nhân, từ tài chính đến chính sách bảo hộ.

Tuy vậy, hiện nay khi nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại do đầu tư cũng như xuất khẩu sụt giảm - hai lĩnh vực do các doanh nghiệp quốc doanh chiếm ưu thế thì sự yếu kém của khu vực kinh tế nhà nước càng lộ rõ và càng có nhu cầu cấp bách cần phải cải cách, cơ cấu lại nền kinh tế.

Chính phủ Trung Quốc đã ban hành chỉ thị về cải cách sâu rộng các doanh nghiệp quốc doanh liên quan đến hàng trăm nghìn doanh nghiệp, trong đó có nhiều tập đoàn, tổng công ty có vốn 100% nhà nước. Theo các nhà phân tích, đợt cải cách lần này sẽ là một bước đi quan trọng nhằm loại bỏ dần một số doanh nghiệp quốc doanh cũ và có thể tạo thêm hàng trăm công ty thuộc sở hữu nhà nước khác.

Nhà kinh tế Claire Huang thuộc ngân hàng Socíeté Générale tại Đặc khu hành chính Hong Kong nhận định, trong đợt cải cách này sẽ có “nhiều cuộc sáp nhập, mua cổ phần của các công ty quốc doanh để hình thành những tập đoàn nhà nước lớn hơn, mạnh hơn”.

Tuy vậy, chủ trương này chưa thể có tác dụng tích cực ngay đến nền kinh tế và vấn đề cơ bản là cần phải cải thiện được hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp quốc doanh dù rằng điều này sẽ mất không ít thời gian.

Có thể thấy cải cách doanh nghiệp nhà nước đang trở thành một trong những nhiệm vụ ưu tiên của Chính phủ Trung Quốc. Sau gần 40 năm cải cách, kinh tế Trung Quốc đã tăng trưởng “quá nóng”, tạo ra những doanh nghiệp quốc doanh “cồng kềnh”, nợ nhiều, hoạt động thiếu hiệu quả, tác động tiêu cực tới toàn bộ nền kinh tế.

Chính phủ Trung Quốc cho biết trong thời gian tới sẽ thúc đẩy điều chỉnh kết cấu, phát triển sáng tạo, làm cho các doanh nghiệp quốc doanh phát huy vai trò “đầu tàu”. Trung Quốc cho rằng cải cách doanh nghiệp nhà nước đã bước vào giai đoạn tăng tốc. Trong đó, cải cách “chế độ sở hữu hỗn hợp sẽ là khâu đột phá để giữ và tăng giá trị tài sản nhà nước một cách tốt hơn, nâng cao sức sống và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp quốc doanh”.

Chính phủ Trung Quốc quyết tâm cải cách những doanh nghiệp quốc doanh trong tình trạng dư công suất, giảm nạn thừa cung, ít nhất trong các ngành như xi măng, thủy tinh, đóng tàu, khai thác khoáng sản, luyện kim…

Trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 13 giai đoạn 2016-2020, Trung Quốc đề ra mục tiêu hàng đầu là tái cấu trúc nền kinh tế đứng thứ hai thế giới này, chuyển từ sản xuất công nghiệp và xuất khẩu sang tập trung phát triển các ngành dịch vụ, phục vụ cho hơn 1,3 tỷ người tiêu dùng trong nước.

Hiện tại, Trung Quốc đang sử dụng các biện pháp cải cách doanh nghiệp quốc doanh như sáp nhập, tái cơ cấu, tái cấu trúc nợ, thanh lý, hợp nhất doanh nghiệp quốc doanh, cổ phần hóa, đặc biệt đề cao vai trò của Ủy ban Giám sát và Quản lý Tài sản Quốc doanh (SASAC) trong cải cách doanh nghiệp quốc doanh, thực hiện thí điểm “quyền sở hữu hỗn hợp” thông qua việc bán cổ phần với tỷ lệ thích hợp… (TTXVN/Bnews 03/11)Về đầu trang./.

Các tin khác

Lượt truy cập: 12.052.471 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này