Bản tin cải cách hành chính ngày 15/12/2017

Font size : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG.. 1

1.  TPHCM: Cải cách hành chính nhờ công nghệ đem lại hiệu quả thiết thực. 1

2.  Hà Tĩnh: Khai trương Trung tâm Hành chính công huyện Thạch Hà. 1

3.  Gia Lai: Ban hành 52 quyết định công bố thủ tục hành chính. 2

LĨNH VỰC CẢI CÁCH. 3

4.  Bộ TN&MT liên thông 1 cửa: Doanh nghiệp giảm tới 60% thời gian, chi phí 3

5.  Lại thêm rào cản đầu tư lĩnh vực y tế. 3

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH. 5

6.  Nghệ An: Không phát hiện sai phạm trong việc tặng, nhận và nộp lại quà tặng. 5

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH. 6

7.  Bộ Nội vụ làm gì để “giảm béo” bộ máy cồng kềnh?. 6

8.  Băn khoăn gỡ “giấy phép con” ngành xây dựng. 7

9.  Cứ 4 doanh nghiệp thì có 1 doanh nghiệp gặp rắc rối vì thủ tục hành chính. 10

10.  Quốc hội và kỷ cương! 11


CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

TPHCM: Cải cách hành chính nhờ công nghệ đem lại hiệu quả thiết thực

Cải cách hành chính đang là một nhiệm vụ lớn của tất cả các địa phương và ai cũng biết rằng, công nghệ sẽ là phương tiện không thể thiếu để các cơ quan hành chính vận hành hiệu quả hơn.

Một mô hình đáng tham khảo ở Thành phố Hồ Chí Minh đó là hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa về thủ tục hành chính để họ có thể phát huy ưu thế. Từ sự hỗ trợ này, các doanh nghiệp đã quay trở lại phục vụ cải cách hành chính công.

Mời xem video chi tiết tại đường link dưới đây:

http://vtv.vn/xa-hoi/cai-cach-hanh-chinh-nho-cong-nghe-dem-lai-hieu-qua-thiet-thuc-20171215093124689.htm 

(Kênh VTV4 – Chương trình khởi nghiệp lúc 12h ngày 15/12) Về đầu trang

Hà Tĩnh: Khai trương Trung tâm Hành chính công huyện Thạch Hà

Sáng 14.12, UBND huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh tổ chức lễ khai chương Trung tâm Hành chính công cấp huyện.

Phát biểu tại lễ khai chương, Chủ tịch UBND huyện Thạch Hà Trần Việt Hà khẳng định: Việc ra đời của Trung tâm đem lại hiệu quả to lớn trong công tác cải cách thủ tục hành chính (TTHC), trong đó: Tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện TTHC từ khâu tiếp cận, hoàn chỉnh hồ sơ, theo dõi, giám sát quá trình giải quyết theo quy định; tiết kiệm được thời gian, chi phí cho các nhân tổ chức khi thực hiện giải quyết TTHC nhanh gọn.

Tính từ thời điểm vận hành thử đến nay, Trung tâm đã tiếp nhận 4.386 hồ sơ, tỷ lệ hồ sơ đúng hạn đạt 94%; công khai địa chỉ hòm thư điện tử và mở hòm thư góp ý, phát hành phiếu đánh giá để thường xuyên tiếp nhận các phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức và DN. Trong suốt 4 tháng hoạt động, Trung tâm không nhận được bất kỳ phản ánh, kiến nghị, khiếu nại của tổ chức, người dân về quá trình giải quyết TTHC, thực thi công vụ của cán bộ, công chức.

Để Trung tâm Hành chính công đạt hiệu quả cao nhất, UBND huyện đã tổ chức 12 lớp tập huấn triển khai phần mềm một cửa điện tử cho UBND cấp xã; đến nay, đã triển khai được 28/31 đơn vị cấp xã. Tổng hồ sơ cấp xã đã nhập vào hệ thống phần mềm đạt 4.888 hồ sơ, tỷ lệ đúng hạn 98%. UBND huyện phê duyệt và đưa vào triển khai 163 thủ tục hành chính dịch vụ công trực tuyến mức độ 3; đến nay đã tiếp nhận, giải quyết 28 hồ sơ thuộc lĩnh vực đăng ký kinh doanh hộ cá thể. (Đại Biểu Nhân Dân 15/12, tr7) Về đầu trang

Gia Lai: Ban hành 52 quyết định công bố thủ tục hành chính

Thời gian qua, công tác cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính luôn được các cấp, ngành và địa phương trong tỉnh quan tâm triển khai nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và tạo thuận lợi cho người dân.

Theo đó, đến nay, tỉnh Gia Lai đã ban hành 52 quyết định công bố thủ tục hành chính, công bố 803 thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh, gồm: 259 thủ tục hành chính mới ban hành, 392 thủ tục hành chính sửa đổi và công bố bãi bỏ 152 thủ tục hành chính.

17/20 sở, ban, ngành; 17/17 UBND huyện, thị xã, thành phố; 65/222 UBND cấp xã đã được triển khai mô hình “một cửa liên thông” với hệ thống hoạt động hiệu quả, giảm thời gian xử lý công việc, tăng tính công khai, minh bạch, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân, doanh nghiệp. 20/20 sở, ban, ngành; 17/17 đơn vị hành chính cấp huyện; 222/222 đơn vị hành chính cấp xã và một số cơ quan nhà nước khác được triển khai hệ thống quản lý văn bản và điều hành.

Ngoài ra, một số thủ tục liên quan đến doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân cũng đã rút ngắn được thời gian giải quyết hồ sơ như: thời gian thành lập doanh nghiệp hiện còn 1,5 ngày (quy định là 3 ngày), cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư 1 ngày (quy định là 5 ngày), giải quyết thủ tục hành chính về đàu tư thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh là 21 ngày (quy định 35 ngày); 100% đơn vị đã nộp thuế điện tử… (Baogialai.com.vn 14/12) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Bộ TN&MT liên thông 1 cửa: Doanh nghiệp giảm tới 60% thời gian, chi phí

Theo quyết định mới ban hành, Bộ Tài nguyên và Môi trường (TNMT) thí điểm liên thông giải quyết một số  thủ tục hành chính (TTHC) sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm tới 60% thời gian và chi phí.

Bộ trưởng TNMT Trần Hồng Hà đã ký Quyết định số 3199/QĐ-BTNMT ngày 14.12.2017 ban hành Quy trình thí điểm liên thông giải quyết một số TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của TNMT. Theo Quyết định này, bắt đầu từ ngày 14.12.2017, Bộ TNMT sẽ thực hiện liên thông đối với 11 TTHC thuộc 3 lĩnh vực: Môi trường (3 thủ tục); Tài nguyên nước (2 thủ tục); Biển và hải đảo (6 thủ tục) và liên thông bằng 9 quy trình giải quyết TTHC cụ thể.

Bộ TNMT giải thích, quy trình liên thông của Bộ TNMT là quy trình tự nguyện, tổ chức, cá nhân có thể lựa chọn thực hiện (hoặc không thực hiện). Theo đó, doanh nghiệp, nhà đầu tư nộp đồng thời hồ sơ của các TTHC khác nhau tại Bộ phận một cửa của Bộ hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc qua hình thức trực tuyến thì sẽ được Bộ tổ chức thẩm định, phê duyệt một lần (một hội đồng thẩm định duy nhất, một đoàn kiểm tra thực địa duy nhất…) và trả một lúc các kết quả cho doanh nghiệp, nhà đầu tư.

Với việc này, Bộ TNMT khẳng định, quy trình liên thông mới sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian, chi phí tuân thủ; giảm rủi ro và gia tăng chi phí cơ hội trong đầu tư, kinh doanh. Cụ thể:

Doanh nghiệp có thể rút ngắn trung bình 54% thời gian giải quyết TTHC, một số trường hợp thời gian có thể rút ngắn lên đến khoảng 2/3, tương đương trên 60% thời gian.

Doanh nghiệp có thể tiết kiệm trung bình 30% chi phí tuân thủ, một số trường hợp có thể tiết kiệm lên đến 60% chi phí thực hiện TTHC.

“Không chỉ doanh nghiệp được hưởng lợi, cơ quan giải quyết TTHC cũng được hưởng những lợi ích tương ứng khi triển khai thực hiện liên thông giải quyết TTHC”, thông cáo của Bộ TNMT cho biết.

Ngoài ra, căn cứ vào tình hình, kết quả triển khai thí điểm, Bộ TNMT dự kiến sẽ mở rộng liên thông thêm các TTHC khác trong thời gian tới; đồng thời pháp lý hóa việc liên thông TTHC trong các văn bản quy phạm pháp luật để các địa phương triển khai liên thông TTHC trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường trên phạm vi cả nước. (Lao Động 15/12) Về đầu trang

Lại thêm rào cản đầu tư lĩnh vực y tế

Là một trong số các cơ quan Chính phủ đang đẩy mạnh thực hiện cải cách thủ tục hành chính, thủ tục kiểm tra chuyên ngành, cắt giảm điều kiện kinh doanh, các nỗ lực của Bộ Y tế thời gian qua đã được DN trong ngành ghi nhận. Tuy nhiên theo phản ánh của NĐT nước ngoài trong lĩnh vực này, nhiều rào cản trong đầu tư y tế chưa kịp hạ xuống, đã có thêm các rào cản khác được dựng lên, khiến DN như “ngồi trên lửa” vì sẽ ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động đầu tư, kinh doanh của DN, gây thiệt hại hàng trăm triệu USD.

Tâm điểm chính sách trong lĩnh vực y tế đang được NĐT nước ngoài tập trung phản ánh trong suốt mấy ngày gần đây chính là Nghị định 54/2017/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Dược, có hiệu lực từ ngày 1/7/2017. Theo đó, Nghị định đã cho phép các DN FDI nhập khẩu sản phẩm dược, tuy nhiên lại đưa ra nhiều giới hạn khiến DN bị hạn chế ở những chức năng khác.

Ông Lê Nết, Tiểu Ban Y tế, Hiệp hội DN Hoa Kỳ (Amcham) cho biết, điều 91 khoản 10 Nghị định 54 quy định các DN FDI không được thực hiện các hoạt động liên quan trực tiếp đến phân phối thuốc, nguyên liệu làm thuốc, bao gồm vận chuyển, nhận bảo quản thuốc. Quy định này khiến NĐT nước ngoài không được đầu tư thành lập cơ sở bảo quản thuốc. Bên cạnh đó các NĐT đã được cấp phép đầu tư và thành lập cơ sở bảo quản thuốc từ trước khi có Nghị định 54 phải ngừng cung cấp dịch vụ bảo quản thuốc, cho dù họ có nhập khẩu thuốc hay không.

Cũng theo Nghị định 54 về điều kiện kinh doanh, mục 60 quy định các DN FDI đã có giấy phép cung cấp dịch vụ vận chuyển, bảo quản, giao thuốc… không được thực hiện các hoạt động liên quan trực tiếp đến phân phối thuốc, bao gồm vận chuyển, bảo quản thuốc.

“Điều đó nghĩa là DN FDI được nhập khẩu thuốc nhưng không được vận chuyển và bảo quản thuốc. Vậy các DN FDI khác đã thực hiện việc vận chuyển và bảo quản này từ trước tới nay có được làm tiếp hay không? Cũng không được luôn!”, ông Lê Nết giải thích.

Vị này than phiền, cho phép DN nhập khẩu thuốc mà không được vận chuyển và bảo quản là quá vô lý. Bên cạnh đó, mặc dù không cho phép vận chuyển và bảo quản, song Nghị định lại bắt buộc các DN dược nước ngoài phải tự xây kho, hoặc nếu thuê kho thì phải tự vận hành và chịu trách nhiệm quản lý, cũng khó lý giải về tính logic trong xây dựng chính sách.

Sự thay đổi này, theo các DN dược là thành viên của Amcham, đã dẫn tới nhiều hệ quả về mặt pháp lý, kinh tế, cũng như chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Trước hết về pháp lý, cách giải thích các hoạt động liên quan trực tiếp đến phân phối của Nghị định 54 trái với quy định của hệ thống CPC WTO, Luật Dược, Luật Thương mại 2005 và Nghị định 23/2007. Một cách trực tiếp, cách tiếp cận này đi ngược với quy định của Luật Dược 2016, đó là bảo quản không phải là phân phối mà là loại hình dịch vụ riêng. Bên cạnh đó, việc cấm các DN FDI tiếp tục kinh doanh ngành nghề này, trong khi họ đã đầu tư tài sản trên thực tế, có thể bị coi là áp dụng hồi tố quy định của pháp luật.

Về mặt kinh tế, các DN FDI đang cung cấp dịch vụ bảo quản thuốc chuyên nghiệp sẽ phải ngừng hoạt động hoặc thay đổi mô hình kinh doanh, gây tổn thất cho dự án đầu tư. Các DN nhập khẩu thuốc sẽ phải đầu tư xây dựng hệ thống kho bảo quản mới, và đầu tư nhân lực để tự vận hành hệ thống kho bảo quản đó, làm phát sinh lãng phí và thiếu hiệu quả do không đạt quy mô tối thiểu để hoạt động kinh tế.

Quy định này còn gây ảnh hưởng tới vấn đề chăm sóc sức khoẻ nhân dân do chi phí trên mỗi đơn giá thuốc sẽ tăng, làm giảm khả năng chi trả cho các sản phẩm thuốc của người dân, đặc biệt là những người có thu nhập thấp. Bên cạnh đó, chất lượng thuốc có thể không được đảm bảo do việc bảo quản thuốc sẽ không phải do các đơn vị chuyên nghiệp đảm nhận mà do các DN nhập khẩu tự thực hiện.

Ông Lê Nết nhấn mạnh, xu thế trên thế giới hiện nay là chuyên môn hoá các ngành dịch vụ để nâng cao hiệu quả và giảm thiểu chi phí đầu tư. Ông lưu ý, mỗi công đoạn trong chuỗi sản xuất đều đã có các DN chuyên trách thực hiện và nếu họ đang làm tốt việc đó thì hãy để họ tiếp tục làm. Các NĐT nước ngoài cũng cho rằng việc DN FDI cung cấp dịch vụ bảo quản thuốc không cạnh tranh trực tiếp với DN Việt Nam. “Nếu lo ngại có sự cạnh tranh không lành mạnh làm ảnh hưởng tới thị phần thì hãy giao cho Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công Thương thực hiện quản lý và ra quyết định dựa trên các đánh giá tác động thực tế”, đại diện của Amcham khuyến nghị.

Cùng chung lo ngại với cộng đồng DN Hoa Kỳ, ông Bradley Allen Silcox, thành viên Hiệp hội DN châu Âu (Eurocham) lo ngại, với việc thay đổi quy định theo Nghị định 54, các DN FDI cung cấp dịch vụ kho bãi và vận tải vốn đã hoạt động tại Việt Nam trong hơn 20 năm qua có khả năng không thể tiếp tục kinh doanh. Các DN dược nước ngoài có thể gặp khó khăn trong việc tìm kiếm đối tác đáp ứng yêu cầu chất lượng và tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế, từ đó có rủi ro ảnh hưởng đến tính liên tục của nguồn cung và chất lượng sản phẩm.

Ông cũng cho rằng việc hạn chế tham gia của DN FDI trong phân phối dược sẽ làm tăng chi phí tiếp cận thuốc đối với người tiêu dùng Việt Nam. Eurocham dẫn thông tin, hiện nay thời gian để bệnh nhân ở Việt Nam tiếp cận thuốc mới còn chậm, dẫn đến nhu cầu du lịch y tế tăng đáng kể. Cụ thể, chỉ có 6% tất cả những phân tử mới được giới thiệu toàn cầu có mặt tại Việt Nam sau 3-7 năm. Do đó, xét về giá trị (22%) và số lượng (4%), thuốc biệt dược gốc tại Việt Nam chiếm tỷ lệ thấp nhất trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, khiến người Việt phải ra nước ngoài để sử dụng các loại dược phẩm cần thiết. Kéo theo đó du lịch y tế tăng cao, ước tính khoảng 2 tỷ USD/năm, làm chảy mất một lượng ngoại tệ không nhỏ. (Thời Báo Ngân Hàng 15/12) Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Nghệ An: Không phát hiện sai phạm trong việc tặng, nhận và nộp lại quà tặng

Trong năm 2017, Nghệ An không phát hiện sai phạm trong việc tặng, nhận và nộp lại quà tặng, công tác tự thanh tra nội bộ cũng không phát hiện tham nhũng, lãng phí.

Tuy nhiên, theo báo cáo của UBND tỉnh Nghệ An, qua công tác thanh tra, thẩm định dự toán, thẩm tra quyết toán, kiểm soát thu, chi ngân sách và điều tra, xét xử của các ngành, phát hiện số tiền sai phạm lên tới hơn 291,9 tỷ đồng, nhiều vụ án liên quan đến tham nhũng được điều tra, truy tố, xét xử, nhiều tập thể, cá nhân bị xử lý hành chính.

Các biện pháp phòng ngừa tham nhũng đã được triển khai: Thực hiện các quy định về công khai minh bạch trong hoạt động các cơ quan, đơn vị; tổ chức hội nghị cán bộ, công chức đầu năm; xây dựng, thực hiện quy tắc ứng xử của cán bộ, viên chức; kê khai, minh bạch tài sản, thu nhập; chuyển đổi vị trí công tác; trả lương qua tài khoản…

Các sai phạm liên quan đến tham nhũng, lãng phí được phát hiện thông qua công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, thanh tra, kiểm tra, kiểm soát thu chi và truy tố, xét xử.

UBND tỉnh Nghệ An cho rằng, công tác phòng chống tham nhũng đã được quan tâm chỉ đạo và triển khai thực hiện, nhiều biện pháp có hiệu quả, góp phần đẩy lùi tham nhũng; đa số công chức có ý thức phấn đấu, rèn luyện, ý thức phục vụ nhân dân; hầu hết các vụ án tham nhũng được truy tố, xét xử kịp thời.

Tuy nhiên, một số giải pháp chưa thực sự hiệu quả: Cải cách hành chính vẫn còn khoảng cách so với yêu cầu; còn 7/50 cơ quan chưa xây dựng quy tắc ứng xử; 7/50 cơ quan chưa xây dựng kế hoạch chuyển đổi vị trí công tác. Công tác kê khai tài sản một số nơi chưa đúng quy định, còn mang tính hình thức; một bộ phận cán bộ, công chức còn có thái độ vô cảm, gây phiền hà cho dân và doanh nghiệp. (Lao Động 15/12) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Bộ Nội vụ làm gì để “giảm béo” bộ máy cồng kềnh?

Liên quan đến chuyện bộ máy cồng kềnh, ngân sách đang phải gồng mình để nuôi màTrưởng Ban Tổ chức Trung ương Phạm Minh Chính đã phân tích tại hội nghị quán triệt nghị quyết Trung ương 6, Ban Dân nguyện cũng đã có báo cáo gửi đến Quốc hội, tập hợp nhiều ý kiến cử tri lo lắng về tình trạng này.

Cử tri tỉnh Đắk Lắk cho rằng, công tác cải cách tổ chức bộ máy hành chính chưa có sự đột phá, vẫn còn cồng kềnh. Việc tách và sáp nhập nhiều nhưng hiệu quả đem lại không cao và làm phình bộ máy.

Về ý kiến này, Bộ Nội vụ cho biết, mỗi nhiệm kỳ Chính phủ, Bộ có trách nhiệm tham mưu, giúp việc triển khai, đánh giá và đề xuất cơ cấu tổ chức của Chính phủ. Đánh giá chung, qua 3 nhiệm kỳ Chính phủ (khóa 11, 12, 13), tổ chức bộ máy hành chính từ Trung ương đến cơ sở đã được sắp xếp, điều chỉnh theo hướng tinh gọn, giảm đầu mối và hợp lý hơn.

Khóa 14 (2016-2021), tổ chức bộ máy tiếp tục được sắp xếp, kiện toàn. Cụ thể đối với cơ cấu tổ chức của Chính phủ trước mắt giữ ổn định như hiện nay với 22 bộ, cơ quan ngang bộ. Ngoài ra, có 8 cơ quan thuộc Chính phủ.

Các bộ, ngành đã đánh giá, rà soát theo quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, bảo đảm một số yêu cầu: hạn chế việc thành lập mới các tổng cục, cục thuộc bộ; không duy trì cơ quan đại diện của bộ đặt tại TP.HCM.

Cùng với đó, quản lý chặt số lượng phòng và chi cục thuộc cục, phòng trong vụ thuộc bộ theo hướng không để cấp phòng trong vụ. Chỉ thành lập phòng trong vụ có nhiều mảng công tác hoặc khối lượng công việc lớn...

Đối với tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, huyện, sẽ rà soát, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và quy định khung số lượng cơ cấu tổ chức, biên chế, cấp phó các cơ quan chuyên môn.

Đồng thời, nghiên cứu hợp nhất một số cơ quan, đơn vị có chức năng, nhiệm vụ tương đồng nhau, rà soát, sắp xếp cơ cấu tổ chức bên trong của các sở, ngành, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện, bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Căn cứ quy định khung của Chính phủ, chính quyền địa phương cấp tỉnh, huyện quyết định thành lập, hợp nhất hoặc không thành lập một số cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, huyện, bảo đảm phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương.

Cùng quan tâm đến tổ chức bộ máy, cử tri tỉnh Ninh Thuận kiến nghị, cần có giải pháp quyết liệt, hiệu quả hơn nữa trong việc tinh giản bộ máy và biên chế, đặc biệt là các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp.

Bộ Nội vụ cho biết, chủ trương về việc này là giữ ổn định biên chế của các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp đến hết năm 2016. Từ năm 2017, thực hiện khoán hoặc hỗ trợ kinh phí để thực hiện nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước giao.

Bộ Nội vụ cũng đề nghị UBND tỉnh Ninh Thuận rà soát các nhiệm vụ giao cho các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, trên cơ sở đó xác định kinh phí để khoán hoặc hỗ trợ cho các hội tương ứng với khối lượng thực hiện nhiệm vụ được giao thay cho việc giao biên chế như hiện nay. (Vietnamnet.vn 15/12) Về đầu trang

Băn khoăn gỡ “giấy phép con” ngành xây dựng

Bộ Xây dựng từng được cho là giữ tư duy “giấy phép con” trong nhiều điều kiện kinh doanh (ĐKKD) thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước ngành xây dựng, thậm chí đi ngược với Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp (DN). Hiện nay, Bộ này đang đề xuất cắt giảm 41,3% tổng số ĐKKD. Điều mong mỏi của DN là việc cắt giảm cần thực chất.

Lấy một trường hợp cụ thể như cấp phép thầu cho nhà thầu nước ngoài theo Thông tư số 14/2016/TT-BXD (ban hành vào tháng 7/2016) của Bộ Xây dựng dựa trên Nghị định số 59/2014/NĐ-CP. Đại diện một nhà thầu nước ngoài đặt vấn đề: Nếu nhà thầu đã đáp ứng bước chọn thầu của chủ đầu tư rồi thì có cần một cơ quan khác cấp phép với những nội dung xem xét lặp lại?

Nhà thầu này cũng băn khoăn là dù nhà thầu có đáp ứng năng lực hay không là bước xem xét của chủ đầu tư, thì việc cấp phép nhà thầu ngoại liệu chỉ là một thủ tục xem lại về năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu?

Mới đây, khi đóng góp ý kiến về việc xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản (BĐS), Luật Quy hoạch đô thị, Bộ KH&ĐT cũng lưu ý về vấn đề cấp phép với nhà thầu nước ngoài.

Theo đề nghị của Bộ KH&ĐT, nên bỏ quy định tại Khoản 2 Điều 148 Luật Xây dựng quy định nhà thầu là tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động xây dựng tại Việt Nam phải được cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng cấp giấy phép hoạt động.

Bởi lẽ, khi nhà thầu nước ngoài tham dự thầu gói thầu sử dụng vốn nhà nước tại Việt Nam và được công nhận trúng thầu thì đã được đánh giá đáp ứng yêu cầu về tư cách hợp lệ, năng lực, kinh nghiệm, kỹ thuật.

Thông qua việc đánh giá của tổ chuyên gia và quá trình thẩm định, phê duyệt của chủ đầu tư thì nhà thầu trúng thầu hoàn toàn có đủ điều kiện để thi công gói thầu.

Cũng theo Bộ KH&ĐT, sau khi được công nhận trúng thầu và ký kết hợp đồng với chủ đầu tư, nhà thầu có trách nhiệm thi công công trình theo hợp đồng đã ký kết. Do đó, việc cấp phép cho nhà thầu nước ngoài trong trường hợp này là không cần thiết, làm phát sinh thủ tục hành chính, gây khó khăn cho nhà thầu.

Hơn nữa, việc cấp phép thầu đơn thuần chỉ mang tính chất thủ tục hành chính, làm phát sinh chi phí, dễ dẫn đến cơ chế “xin – cho” và nhà thầu sẽ phân bổ các chi phí này vào giá dự thầu, làm giá dự thầu tăng, gây lãng phí.

Ngoài ra, việc cấp phép thầu chỉ mang tính hình thức, vì sau khi ký hợp đồng, nếu nhà thầu không vi phạm các thỏa thuận trong hợp đồng thì việc không cho nhà thầu thực hiện hợp đồng thông qua việc không cấp phép là không phù hợp.

Trong khi đó, sau khi tiếp thu đề nghị này, theo lý lẽ của Bộ Xây dựng, việc cấp phép đối với nhà thầu nước ngoài là phù hợp với thông lệ quốc tế. Mỗi nước có những quy định khác nhau đối với công tác quản lý nhà thầu nước ngoài, nhưng đều có quy định chung là khi nhà thầu nước ngoài tham gia hoạt động xây dựng đều phải đăng ký để được xét cấp giấy phép hoặc chứng nhận thầu.

Cũng có ý kiến bảo vệ quan điểm cấp phép nhà thầu ngoại vì đó là điều kiện cần để bảo vệ thị trường xây dựng trong nước, đảm bảo việc làm cho các DN trong nước, hạn chế dòng tiền chảy ra nước ngoài, mà các nước đều có quy định, nhất là khi mỗi năm có khoảng 150 lượt nhà thầu ngoại vào Việt Nam thực hiện các công trình xây dựng.

Trong số đó, khoảng 10% số nhà thầu thực hiện các gói thầu có vốn nhà nước theo hình thức đấu thầu quốc tế, mà chủ yếu là các dự án sử dụng vốn vay (ODA). Còn khoảng 90% số nhà thầu ngoại thực hiện các công trình vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và các công trình không phải vốn nhà nước.

Từ đó, có thể thấy đề xuất bỏ cấp phép nhà thầu ngoại vẫn còn chưa ngã ngũ, dù mới đây, Bộ Xây dựng đề xuất xây dựng một “siêu Nghị định” nhằm bãi bỏ 41,3% tổng số ĐKKD, đơn giản hóa 43,7% ĐKKD và giữ nguyên 15% ĐKKD.

Tuy nhiên, Bộ này cũng nhìn nhận ở một số quy định trong ngành xây dựng chưa có sự thống nhất với Luật Đầu tư và Luật DN. Chẳng hạn, Luật Đầu tư năm 2014 và Luật DN năm 2014 không còn quy định về vốn pháp định của DN khi thành lập. Trong khi đó, Luật Kinh doanh BĐS lại quy định về vốn pháp định. Điều này rõ ràng là chưa phù hợp với hai luật trên.

Hoặc như quy định tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới BĐS phải thành lập DN và phải có ít nhất 2 người có chứng chỉ hành nghề môi giới BĐS (khoản 1 Điều 62 Luật Kinh doanh BĐS).

Trong khi đó, Luật DN năm 2014 quy định khi thành lập DN thì chưa cần phải có yêu cầu về điều kiện kinh doanh, chỉ khi DN hoạt động kinh doanh trong các ngành nghề có điều kiện thì mới cần phải có điều kiện kinh doanh cụ thể.

Được biết, hiện nay, Bộ KH&ĐT đang lấy ý kiến xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, Luật DN, trong đó có nội dung sửa đổi danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.

Do đó, Bộ này đề nghị Bộ Xây dựng không quy định nội dung sửa đổi, bổ sung một số điều tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của của Luật Xây dựng, mà sẽ quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, Luật DN.

Phía Bộ Xây dựng tiếp thu đề nghị này nhưng cũng lưu ý là cần thống nhất thời điểm có hiệu lực của hai luật (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, Luật DN) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh BĐS, Luật Quy hoạch đô thị. (Thời Báo Kinh Doanh 15/12) Về đầu trang

Cứ 4 doanh nghiệp thì có 1 doanh nghiệp gặp rắc rối vì thủ tục hành chính

“35% doanh nghiệp mất trên 10% quỹ thời gian vì thủ tục hành chính, cứ 4 doanh nghiệp thì có 1 doanh nghiệp cho biết khó khăn lớn nhất của họ là sự phiền hà từ thủ tục hành chính” - thông tin được đưa ra tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam thường niên 2017 - đã phần nào cho thấy, những gánh nặng về thủ tục hành chính vẫn là trở ngại lớn đối với hoạt động của doanh nghiệp.

Dường như động thái quyết liệt của Chính phủ trong thời gian qua nhằm tạo thuận lợi, giảm chi phí cho doanh nghiệp vẫn vướng điệp khúc “nóng trên, lạnh dưới”. Câu chuyện Thủ tướng nêu cách đây chưa lâu về con gà nuôi 40 ngày, nhưng thủ tục để tiêu thụ và xuất khẩu còn phức tạp, dài ngày hơn, chỉ là một trong rất nhiều ví dụ về việc doanh nghiệp hàng ngày phải vật lộn với hàng nghìn “giấy phép con, giấy phép cháu” ở nhiều lĩnh vực. Đó là thủ tục hành chính về hải quan, quản lý thuế VAT hay thời gian và chi phí nộp bảo hiểm xã hội rườm rà, nhiêu khê.

Không hiếm quy định pháp luật yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết trong vòng vài ngày nhưng thực tế lại phức tạp hơn nhiều lần, doanh nghiệp có khi mất cả tuần, cả tháng mới nhận được kết quả, hoặc thường xuyên bị yêu cầu phải bổ sung thủ tục. Chưa kể, quả bóng trách nhiệm liên tục bị đá qua, đá lại khiến doanh nghiệp không biết tìm tới địa chỉ nào để gỡ rối.

 Để cải cách thủ tục hành chính, trước hết phải bắt đầu từ đổi mới tư duy về quản lý, về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân làm công tác quản lý, cũng như quan niệm về quyền người dân được hưởng sự phục vụ từ bộ máy quản lý nhà nước. Thế nhưng, đó chưa phải là tất cả. Muốn cải cách được thủ tục hành chính, cần thay đổi chính tư duy của doanh nghiệp. Bởi thực tế, có không ít doanh nghiệp khi gặp rắc rối về mặt thủ tục đã tìm “con đường khác” như “đi đêm”, chung chi chẳng hạn.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cũng thừa nhận trước Quốc hội rằng, theo khảo sát, năm 2015, có 63% số hộ kinh doanh “đi đêm” với cán bộ thuế, sang 2016 con số này đã giảm còn 31%. Doanh nghiệp “đi đêm” đôi khi vì bị vòi vĩnh nhưng nhiều lúc cũng do họ muốn thông đồng với cán bộ, công chức, tìm mọi cách mua chuộc, chèo kéo người có thẩm quyền để tạo “lợi thế so sánh” trong kinh doanh. Thực trạng này tạo thành thói quen nguy hiểm, chừng nào chưa có “lót tay” thì hồ sơ vẫn để trong ngăn kéo cùng với đủ thứ phải sửa, phải chỉnh, phải bổ sung này nọ kia.

Một nhà kinh tế nước ngoài khi nghiên cứu về những trở ngại trong môi trường kinh doanh ở Việt Nam đã từng nhận xét rằng, một trong những nhược điểm của doanh nghiệp là dễ dàng thỏa hiệp trước những đòi hỏi có tính chất nhũng nhiễu của cán bộ, nhân viên trong bộ máy quản lý nhà nước. Nếu nhìn ở nhiều góc độ, doanh nghiệp có thể vừa là nạn nhân, vừa là quan tòa nhưng đôi lúc cũng là thủ phạm.

Bởi doanh nghiệp bị trói buộc với vô vàn thủ tục hành chính nhiêu khê, rắc rối, bị gây khó dễ với không it chi phí phát sinh; họ cũng có thể phản ánh, lên án nạn quan liêu, tình trạng hạch sách, sách nhiễu đang diễn ra. Thế nhưng, nếu doanh nghiệp bỏ qua, không đấu tranh hoặc thậm chí sẵn sàng “lót tay” để công việc được thuận lợi thì vô hình trung, đã trở thành thủ phạm, kéo lùi tiến trình cải cách thủ tục hành chính.

Thước đo hiệu quả cải cách hành chính phụ thuộc nhiều vào mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp. Do đó, cải cách thủ tục hành chính, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức liêm chính và hành động không chỉ từ phía cơ quan nhà nước mà còn là trách nhiệm, sự nỗ lực của cả doanh nghiệp, cộng đồng. (Đại Biểu Nhân Dân 15/12, tr2) Về đầu trang

Quốc hội và kỷ cương!

Không hẹn mà gặp, trong ngày làm việc cuối cùng của Phiên họp thứ 19, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã dứt khoát từ chối cả hai đề xuất.

Một là, đề xuất UBTVQH ban hành nghị quyết về việc giải quyết bồi thường khi nhà ở, công trình nằm ngoài phạm vi giải phóng mặt bằng bị ảnh hưởng do quá trình thi công xây dựng các dự án nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 1 đoạn Thanh Hóa - Cần Thơ và đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyên. Hai là, đề xuất UBTVQH ban hành nghị quyết về hỗ trợ kinh phí sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi. Lý do từ chối là bởi, cả hai đề xuất này đều không thuộc thẩm quyền của UBTVQH.

Đơn cử như đề xuất về việc giải quyết bồi thường. “Dù rất thông cảm với đồng chí Bộ trưởng”, song, Phó Chủ tịch QH Phùng Quốc Hiển cũng nêu rõ, nguyên nhân ảnh hưởng đến nhà ở, công trình của người dân vùng dự án hoàn toàn liên quan đến các lỗi kỹ thuật như: Thi công không tính đến chuyện rung, nén khiến nhà ở của người dân bị lún, nứt, thấm, dột, sụp đổ hoặc có nguy cơ sụp đổ; hay việc đóng bảo hiểm không dự báo đầy đủ nay phát sinh thiệt hại… Cả hai “lỗi” này, trách nhiệm đều thuộc về nhà thầu thi công và thiết kế công trình. Có đủ cơ sở pháp lý để khẳng định, đó thuần túy là quan hệ dân sự. Vậy tại sao lại phải lấy ngân sách nhà nước để đền bù? Cơ quan quản lý nhà nước có “trót hứa” với các nhà thầu xây dựng sẽ giải quyết phần thiệt hại ngoài dự báo này hay không? Nếu có thì cũng phải xác định rất rõ trách nhiệm của Nhà nước đến đâu, nhà thầu xây dựng đến đâu để xử lý nghiêm.

Khoản tiền đền bù, theo ước tính của Bộ GT - VT là 166,793 tỷ đồng. Con số này không phải là quá lớn. Ngân sách nhà nước dù khó khăn nhưng nếu thực sự cấp bách, có lẽ, vẫn có thể cân đối được. Trong khi đó, 35.814 hộ dân bị ảnh hưởng nằm ở dọc Quốc lộ 1 đoạn Thanh Hóa - Cần Thơ và đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyên lại rất lớn. Chưa kể những bức xúc của người dân không được nhà đầu tư, cơ quan chức năng giải quyết thỏa đáng trong thời gian dài đã tích tụ và dẫn đến những đợt khiếu kiện đông người. Nếu UBTVQH từ chối đề xuất của Chính phủ, những bức xúc này có nguy cơ tiếp diễn.

Nếu UBTVQH đồng ý, tình thế khó hiện nay chắc sẽ êm xuôi, quyền lợi của hơn 35 nghìn hộ dân sẽ sớm được Nhà nước bảo đảm. Nhưng một tình thế khó khăn hơn chắc chắn sẽ xuất hiện ngay sau đó nếu UBTVQH chọn ban hành Nghị quyết. Vì chấp thuận lấy ngân sách đền bù cho những thiệt hại thuần túy thuộc về quan hệ dân sự của dự án này được thì mấy chục nghìn công trình khác cũng có thể “đòi” một cơ chế tương tự. Đó sẽ là một tiền lệ cực xấu không chỉ về kỷ cương ngân sách, tài chính quốc gia mà còn tạo khe hở cho nhà thầu thi công và thậm chí, cả cơ quan quản lý nhà nước né tránh trách nhiệm.

Vì thế, quyết định của UBTVQH sáng qua, khó có thể nói là một quyết định dễ dàng. Nhưng đó là quyết định không thể khác. Như Phó Chủ tịch Thường trực QH Tòng Thị Phóng đã nhấn mạnh ngay tại phiên họp, không phải cứ việc gì ảnh hưởng đến lợi ích của người dân cũng đưa lên UBTQVH giải quyết mà trước hết, cơ quan quản lý nhà nước phải làm tròn trách nhiệm quản lý, giám sát hoạt động của các nhà thầu xây dựng. Sau phiên họp này, các đoàn ĐBQH, HĐND tại các địa phương giải thích rõ ràng pháp luật của Nhà nước trong vấn đề này để người dân hiểu, đồng thuận với cách thức giải quyết này; hướng dẫn người dân thực hiện đúng quy định pháp luật. Trong trường hợp “cực chẳng đã”, người dân vẫn không hài lòng thì cần hướng dẫn người dân khởi kiện ra tòa dân sự để xử lý dứt điểm, bảo đảm quyền lợi thỏa đáng cho người dân.

“UBTVQH không làm thay, không can thiệp sâu vào công việc điều hành của Chính phủ. Vai nào ra vai đấy”, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội nêu rõ. Mà cũng chẳng riêng gì UBTVQH và Chính phủ. “Vai nào ra vai ấy” là cách thức để các cơ quan trong tổ chức bộ máy vận hành mạch lạc, không chồng chéo, không tạo ra những khoảng mờ để đùn đẩy hay “đá bóng” trách nhiệm.

Vì thế, kiên quyết từ chối 2 đề xuất không thuộc thẩm quyền và yêu cầu các bên liên quan phải làm đúng theo quy định của pháp luật, sáng 14/12, UBTVQH cũng đã tạo ra một tiền lệ tốt về việc “đúng vai”, “tròn vai” và tuân thủ kỷ cương pháp luật. (Đại Biểu Nhân Dân 15/12, tr3)Về đầu trang./.

More

Lượt truy cập: 12.052.317 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này