Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin cải cách hành chính ngày 13/02/2019
1. Yêu cầu không lưu tài liệu bí mật nhà nước trên thiết bị kết nối mạng Internet
2. Hà Nội thông qua phương án đơn giản hóa 71 thủ tục hành chính
3. Hà Nội kiểm tra công vụ đột xuất: Người dân đánh giá được phục vụ tốt
4. Hà Nội: Số hóa hồ sơ trong lĩnh vực quy hoạch
5. Bình Dương chấn chỉnh việc xử lý, trả lời phản ánh của người dân và doanh nghiệp
6. Xử lý tốt việc kiểm tra chuyên ngành sẽ giảm chi phí kinh doanh
7. Rút ngắn thời gian tổ chức thi hành án
8. Sẽ trả lương cho công chức- viên chức theo vị trí việc làm
9. Sẽ xử lý nghiêm cán bộ, công chức đi đền, chùa trong giờ hành chính
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH
Yêu cầu không lưu tài liệu bí mật nhà nước trên thiết bị kết nối mạng Internet
Thông tư mới của Bộ Nội vụ sẽ có hiệu lực từ ngày 10/3/2019 yêu cầu rõ, không lưu cơ sở dữ liệu tài liệu lưu trữ có chứa thông tin thuộc phạm vi bí mật nhà nước trên các thiết bị kết nối với mạng Internet, mạng máy tính, mạng viễn thông.
Bộ Nội vụ mới đây đã ban hành Thông tư 02/2019 quy định tiêu chuẩn dữ liệu thông tin đầu vào và yêu cầu bảo quản tài liệu lưu trữ điện tử, dữ liệu đặc tả của tài liệu lưu trữ (gọi là cơ sở dữ liệu tài liệu lưu trữ) hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức.
Có hiệu lực thi hành từ ngày 10/3/2019, Thông tư 02 của Bộ Nội vụ áp dụng với cơ quan, doanh nghiệp nhà nước theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 (gọi chung là cơ quan, tổ chức).
Theo Thông tư này, cùng với việc quy định cụ thể tiêu chuẩn dữ liệu thông đầu vào của cơ sở dữ liệu (CSDL) tài liệu lưu trữ, Bộ Nội vụ cũng nêu rõ các nguyên tắc, yêu cầu đối với việc bảo quản CSDLtài liệu lưu trữ.
Cụ thể, việc bảo quản CSDL tài liệu lưu trữ của các cơ quan, tổ chức nhà nước phải đảm bảo nguyên tắc tài liệu được bảo quản an toàn, xác thực, bảo mật trên các phương tiện lưu trữ; bảo đảm khả năng truy cập, quản lý, tìm kiếm, cập nhật CSDLtài liệu lưu trữ.
Bộ Nội vụ yêu cầu rõ, không lưu CSDLtài liệu lưu trữ có chứa thông tin thuộc phạm vi bí mật nhà nước trên các thiết bị kết nối với mạng Internet, mạng máy tính, mạng viễn thông; không chuyển mục đích sử dụng các thiết bị đã lưu CSDL tài liệu lưu trữ có chứa thông tin thuộc phạm vi bí mật nhà nước khi chưa loại bỏ triệt để CSDL tài liệu lưu trữ.
Cùng với đó, CSDL tài liệu lưu trữ phải được sao lưu ít nhất 2 bộ, mỗi bộ trên 1 phương tiện lưu trữ độc lập; việc sao lưu phải bảo đảm đầy đủ, chính xác, kịp thời, an toàn. Bảo đảm thống nhất quy trình kiểm tra, sao lưu, phục hồi dữ liệu.
Cũng theo yêu cầu của Bộ Nội vụ, người được giao quản lý CSDLtài liệu lưu trữ của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm kiểm tra, bảo quản, sao lưu, phục hồi.
Đối với việc bảo đảm an toàn CSDL tài liệu lưu trữ, Thông tư 02 của Bộ Nội vụ hướng dẫn, CSDL tài liệu lưu trữ được bảo đảm an toàn thông tin theo cấp độ được quy định tại Nghị định 85 ngày 1/7/2016 của Chính phủ và Thông tư 03 ngày 24/4/2017 của Bộ TT&TT; việc tiêu hủy thiết bị, phương tiện lưu trữ CSDL tài liệu lưu trữ phải bảo đảm yêu cầu bảo mật thông tin theo cấp độ được quy định; không được mang thiết bị, phương tiện lưu trữ CSDL tài liệu lưu trữ ra khỏi Lưu trữ cơ quan, Lưu trữ lịch sử khi chưa được sự đồng ý của người có thẩm quyền.
Cũng vào trung tuần tháng 1/2019, nhằm thực hiện nhiệm vụ được giao tại Quyết định 28 ngày 12/7/2018 về việc gửi nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư 01/2009 quy định quy trình trao đổi, lưu trữ, xử lý tài liệu điện tử trong công tác văn thư, các chức năng cơ bản của Hệ thống quản lý tài liệu điện tử trong quá trình xử lý công việc của các cơ quan, tổ chức. Thông tư này cũng có hiệu lực thi hành từ ngày 10/3 tới.
Đáng chú ý, tại Thông tư 01, với việc quản lý và sử dụng thiết bị lưu khóa bí mật và chứng thư số của cơ quan, tổ chức trong công tác văn thư, Bộ Nội vụ yêu cầu, việc này phải được thực hiện theo quy định của Thông tư 41 ngày 19/12/2017 của Bộ trưởng Bộ TT&TT về sử dụng chữ ký số cho văn bản điện tử trong cơ quan nhà nước; thiết bị lưu khóa bí mật và chứng thư số của cơ quan, tổ chức phải được giao bằng văn bản cho văn thư cơ quan quản lý và trực tiếp sử dụng.
Bộ Nội vụ cũng hướng dẫn cụ thể, văn thư cơ quan có trách nhiệm: không giao thiết bị lưu khóa bí mật và chứng thư số của cơ quan, tổ chức cho người khác khi chưa được phép bằng văn bản của người có thẩm quyền; phải trực tiếp ký số của cơ quan, tổ chức vào văn bản do cơ quan, tổ chức ban hành; chỉ ký số của cơ quan, tổ chức vào văn bản do cơ quan, tổ chức ban hành sau khi đã có chữ ký số của người có thẩm quyền và văn bản do cơ quan, tổ chức trực tiếp số hóa.
Ngoài ra, Thông tư 01 của Bộ Nội vụ còn quy định cụ thể về việc quản lý văn bản đến; quản lý văn bản đi; lập và nộp lưu hồ sơ điện tử của Lưu trữ cơ quan; các nguyên tắc xây dựng, yêu cầu chung khi thiết kế cũng như các yêu cầu về chức năng, yêu cầu về quản trị… với Hệ thống quản lý tài liệu điện tử trong quá trình xử lý công việc của các cơ quan, tổ chức.
Trước đó, tại Quyết định 28 quy định việc gửi nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương sửa đổi, bổ sung, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản định về quản lý, sử dụng văn bản điện tử; chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Bộ TT&TT ban hành Thông tư quy định quy trình trao đổi, lưu trữ, xử lý tài liệu điện tử trong công tác văn thư, các chức năng cơ bản của Hệ thống quản lý tài liệu điện tử trong quá trình xử lý công việc của các cơ quan, tổ chức và Thông tư quy định tiêu chuẩn dữ liệu thông tin đầu vào, yêu cầu bảo quản tài liệu lưu trữ điện tử. (ICTNews.vn 12/2)Về đầu trang
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Hà Nội thông qua phương án đơn giản hóa 71 thủ tục hành chính
Thành phố Hà Nội vừa thông qua phương án đơn gian hóa 71 thủ tục hành chính (TTHC) trong các lĩnh vực: Tư pháp, Xây dựng, Kế hoạch và Đầu tư, Công Thương, Tài nguyên và Môi trường.
Theo đó, UBND TP. Hà Nội vừa ban hành Quyết định số 702/QĐ-UBND về việc thông qua Phương án đơn giản hóa TTHC năm 2018đối với 71 TTHC, bao gồm: 19 TTHC lĩnh vực Tư pháp, 03 TTHC lĩnh vực Xây dựng, 10 TTHC lĩnh vực Kế hoạch và Đầu tư, 34 TTHC lĩnh vực Công thương, 05 TTHC lĩnh vực Tài nguyên và Môi trường.
Thành phố Hà Nội giao các sở, ban, ngành: Tư pháp, Xây dựng, Kế hoạch và Đầu tư, Công thương, Tài nguyên và Môi trường trong phạm vi quản lý nhà nước được giao, chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan: Dự thảo Quyết định công bố TTHC sửa đổi, bổ sung theo nội dung phương án đơn giản hóa đã được phê duyệt tại Điều 1 Quyết định này, trình Chủ tịch UBND Thành phố.
Dự thảo văn bản kiến nghị cơ quan cấp trên có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung quy định TTHC trong văn bản quy phạm pháp luật theo nội dung phương án đơn giản hóa; Xây dựng quy trình nội bộ, quy trình điện tử của từng TTHC đã được đơn giản hóa để phục vụ triển khai phần mềm 3 cấp dùng chung của Thành phố.
Trước đó, để triển khai Chỉ thị số 08/CT-TTg ngày 13/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực hiện các biện pháp nhằm rút ngắn thời gian cấp phép xây dựng và các thủ tục liên quan, UBND thành phố đã chỉ đạo các sở, ngành, UBND quận, huyện, thị xã chủ động rà soát trình tự, thời gian, đề xuất rút ngắn thời gian thực hiện, cắt giảm các thủ tục không cần thiết.
Kết quả, Sở Xây dựng phối hợp với sở, ngành, đơn vị liên quan nghiên cứu, đề xuất liên thông một số TTHC và xây dựng cơ chế liên thông nhằm rút ngắn thời gian thực hiện các thủ tục, nâng cao chất lượng cho công tác cấp phép xây dựng trên địa bàn thành phố; Sở TN-MT thời gian giải quyết hồ sơ rút ngắn từ 52 ngày xuống dưới 20 ngày đối với thủ tục cấp giấy chứng nhận cho người mua nhà tại dự án phát triển nhà ở trên địa bàn; thành phần hồ sơ tối đa rút gọn từ 9 loại giấy tờ xuống còn 4 loại; lĩnh vực khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu đã thực hiện giảm thời gian giải quyết các TTHC từ 30 ngày xuống 20 ngày; lĩnh vực đo đạc, bản đồ và viễn thám thực hiện giảm thời gian giải quyết TTHC kiểm tra, nghiệm thu bản đồ hiện trạng từ 15 ngày làm việc xuống còn 7 ngày làm việc. (Đầu Tư 13/2, Thu Trang)Về đầu trang
Hà Nội kiểm tra công vụ đột xuất: Người dân đánh giá được phục vụ tốt
Thực hiện Quyết định 631 ngày 1/2/2019 của UBND TP về việc thành lập đoàn kiểm tra công vụ và tiến hành kiểm tra công vụ năm 2019, hôm nay (12/2), đoàn kiểm tra công vụ của TP đã tiến hành kiểm tra đột xuất về việc chấp hành kỷ cương hành chính, giải quyết TTHC và tiếp công dân tại 3 đơn vị là phường Phúc La, Dương Nội (quận Hà Đông) và phường Đại Mỗ (quận Nam Từ Liêm).
Tại thời điểm kiểm tra, đoàn ghi nhận các UBND phường có phân công lãnh đạo trực cơ quan; bộ phận Một cửa (BPMC) có cán bộ công chức (CBCC) tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết TTHC, có đeo thẻ, mặc đồng phục và có thái độ giao tiếp hòa nhã, lịch sự với công dân, tổ chức. Các đơn vị cũng công khai thời gian tiếp nhận hồ sơ, 10 nguyên tắc ứng xử của đội ngũ CBCC, quy chế làm việc của BPMC, danh mục các TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết. Việc chấp hành giờ giấc làm việc của các đơn vị sau Tết Nguyên đãn nhìn chung được thực hiện tốt. Trong hoạt động tiếp công dân, các phường đều có bố trí phòng tiếp công dân, có niêm yết công khai nội quy tiếp công dân, lịch tiếp công dân…
Trao đổi với phóng viên, tại BPMC phường Dương Nội, công chức Văn phòng - Thống kê Đặng Thị Thực cho biết: Riêng từ 8h đến 10h30 sáng 12/2 các CBCC đã tiếp nhận 11 hồ sơ mà chủ yếu là chứng thực.
Anh Vương Toàn Cường (tổ Trung Kiên, phường Dương Nội) đang nộp hồ sơ khai sinh cho con đánh giá, các CBCC phường niềm nở, nhiệt tình hướng dẫn, dù mới ngày làm việc đầu năm nhưng việc giải quyết hồ sơ rất nghiêm túc. Còn tại UBND phường Đại Mỗ, bà Nguyễn Thị Vượng (tổ dân phố Đình 2 (phường Đại Mỗ) đang đợi lấy kết quả trích lục khai tử cũng chia sẻ: Các CBCC phường hướng dẫn rất tận tình, chu đáo, ai gặp khó khăn thắc mắc gì đều được giải thích, trả lời đến nơi đến chốn. Việc giải quyết TTHC ngay từ sau kỳ nghỉ Tết đã rất nhanh chóng. Thậm chí thời gian qua, nhiều người già yếu còn được công chức phường đến tận nhà trả kết quả giải quyết TTHC.
Tuy nhiên, tại UBND phường Phúc La, đoàn kiểm tra công vụ đề nghị quan tâm rà soát, cập nhật để công khai danh mục TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết đặc biệt trong lĩnh vực đất đai theo quy định hiện hành; bố trí hoàn thiện tổ chức của BPMC đảm bảo thuận lợi, trang trọng để phục vụ công dân, tổ chức. Tại phường Dương Nội, đoàn đề nghị bổ sung ngay việc công khai lịch tiếp công dân thường xuyên của UBND phường; quan tâm công khai thời gian tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả buổi chiều đảm bảo theo Quyết định 07 của UBND TP.
Trong công tác tiếp công dân, phường cần niêm yết nội quy tiếp công dân tại vị trí thuận tiện cho công dân, tổ chức quan sát; công khai lịch tiếp công dân thường xuyên và cũng cần rà soát cập nhật các biểu mẫu tiếp công dân theo quy định. Đối với phường Đại Mỗ, đoàn đề nghị phường rà soát bổ sung, thay thế các TTHC đã được công bố (như thay các TTHC đã hết hiệu lực trong lĩnh vực giáo dục, LĐTBXH, công thương).
Đánh giá tại buổi kiểm tra, Phó Giám đốc Sở Nội vụ Nguyễn Đình Hoa-Phó Trưởng đoàn Thường trực cho rằng: Dù mới 1-2 ngày làm việc sau kỳ nghỉ Tết nhưng các UBND phường có tinh thần, thái độ làm việc tốt; mọi hoạt động cơ bản đi vào nền nếp, với quân số CBCC, NLĐ đi làm đầy đủ. Về trang bị cơ sở vật chất, điển hình có UBND phường Đại Mỗ bố trí tại BPMC cũng như bộ phận tiếp công dân rất gọn gàng, khoa học, thể hiện sự tôn trọng của chính quyền với người dân. Mặc dù vậy, Phó Trưởng đoàn Thường trực cũng đề nghị các đơn vị chú ý niêm yết thời gian tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả đảm bảo đúng quy định; việc ghi chép sổ sách theo dõi việc tiếp nhận hồ sơ phải khoa học, rõ ràng… (Kinh Tế & Đô Thị 12/2, Linh Chi)Về đầu trang
Hà Nội: Số hóa hồ sơ trong lĩnh vực quy hoạch
Sở Quy hoạch – Kiến trúc (QH-KT) Hà Nội đã tiến hành hiện đại hóa công tác hành chính, cải cách bộ máy quản lý và nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ công chức viên chức, nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu mới đặt ra.
Theo Phó Giám đốc Sở QH - KT Hà Nội Phạm Quốc Tuyến, trong thời gian qua, Sở đã thực hiện chấm dứt các hợp đồng lao động chuyên môn và hoàn thiện việc bố trí sắp xếp công chức, viên chức theo đề án vị trí làm việc đã được UBND TP phê duyệt tại một số phòng, ban chuyên môn và các đơn vị sự nghiệp trực thuộc. “Sở đã phối hợp với Sở Nội vụ và Viện Quy hoạch Xây dựng Hà Nội triển khai Thông báo số 08/2018 của Ban Chỉ đạo TP về công tác quản lý tổ chức bộ máy, biên chế và thực hiện tiếp nhận công chức không qua thi tuyển” - ông Phạm Quốc Tuyến cho biết.
Đối với đội ngũ nhân sự là công chức, viên chức đang làm việc tại Sở và các đơn vị trực thuộc đều phải đăng ký kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng thực hiện và giải quyết các công việc chuyên môn. Đối với những cán bộ lãnh đạo tham gia công tác quản lý, hàng năm đều được cử đi công tác nước ngoài để học tập, nghiên cứu các chương trình liên quan đến biến đổi khí hậu, xây dựng chính quyền đô thị, công tác quy hoạch phát triển đô thị trong thời kỳ mới... để đáp ứng với nhu cầu về quản lý và phát triển đô thị trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0.
Ông Phạm Quốc Tuyến cho biết, đến thời điểm hiện tại, các thủ tục cấp phép quy hoạch và thủ tục thẩm định nhiệm vụ, nhiệm vụ điều chỉnh quy hoạch chi tiết của các dự án đầu tư xây dựng công trình theo hình thức kinh doanh đều được thực hiện bằng dịch vụ công trực tuyến ở mức 3. Việc nhận và gửi văn bản trong giao dịch hành chính và họp trực tuyến đều được thực hiện bằng ứng dụng điện tử và có chữ ký điện tử. Ứng dụng công nghệ thông tin vào giải quyết các thủ tục hành chính đã giúp rút ngắn thời gian và nâng cao chất lượng giải quyết công việc. “Cùng với đó, Sở đang tiến hành số hóa hồ sơ, tài liệu, tạo sự thuận tiện cho cán bộ công chức, viên chức trong việc tìm kiếm, tra cứu các hồ sơ chuyên môn” - ông Phạm Quốc Tuyến chia sẻ.
Trong thời gian qua, các thủ tục hành chính của Sở QH - KT đều được thực hiện theo hệ thống quản lý chất lượng tiêu chuẩn Việt Nam ISO 9001:2008. Cuối năm 2018, Sở QH - KT đã xây dựng kế hoạch mở rộng và chuyển đổi hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn Việt Nam ISO 9001:2015 và đưa vào thực hiện từ năm 2019. (Kinh Tế & Đô Thị 13/2, Mai Văn)Về đầu trang
Bình Dương chấn chỉnh việc xử lý, trả lời phản ánh của người dân và doanh nghiệp
UBND tỉnh Bình Dương vừa ra công văn yêu cầu các đơn vị, địa phương trong tỉnh chấn chỉnh việc kịp thời xử lý, trả lời các phản ánh, kiến nghị của người dân và doanh nghiệp.
Trước đó, cuối năm 2018 tại tỉnh Bình Dương xảy ra vụ việc hai cán bộ hộ tịch gây khó trong việc cấp giấy chứng tử đối với nữ sinh tử vong trong vụ tai nạn giao thông xảy ra ở phường Tân Phước Khánh, thị xã Tân Uyên. Sau sự việc này UBND phường đã thực hiện kiểm điểm và sắp xếp lại công việc đối với hai cán bộ.
Bình Dương được biết đến là một trong những tỉnh nổi bật trong cải cách hành chính. Đáng chú ý, tỉnh này đang có nhiều nỗ lực xây dựng chính quyền thân thiện, công sở thân thiện.
Năm 2019, UBND tỉnh Bình Dương yêu cầu trách nhiệm cao người đứng đầu các đơn vị, địa phương chấn chỉnh trong việc kịp thời xử lý và trả lời các phản ánh, kiến nghị của người dân và doanh nghiệp về cơ chế, chính sách, thủ tục do Văn phòng UBND tỉnh chuyển đến.
Các vấn đề phải xử lý kịp thời như phản ánh về hành vi chậm chễ, gây phiền hà, thực hiện không đúng quy định của cán bộ trong giải quyết thủ tục hành chính. Phản ánh về những cơ chế, chính sách không phù hợp với thực tế…
Nếu để xảy ra việc chậm trễ phải thực hiện phê bình thủ trưởng các đơn vị, địa phương và báo cáo ngay với Chủ tịch UBND tỉnh. (Lao Động 13/2, Đình Trọng)Về đầu trang
LĨNH VỰC CẢI CÁCH
Xử lý tốt việc kiểm tra chuyên ngành sẽ giảm chi phí kinh doanh
Không chỉ là cắt giảm thủ tục kiểm tra chuyên ngành, các doanh nghiệp (DN) cho rằng, cần lập mô hình quản lý mới theo hướng không có sự can thiệp về thủ tục của bất kỳ bộ chuyên ngành nào.
Cho đến thời điểm này, trên trang thông tin điện tử chính thức của Bộ Công thương vẫn không có phản hồi nào về việc bộ này lẽ ra phải chủ động bãi bỏ Thông tư 21/2017/TT-BCT về việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về mức giới hạn hàm lượng formaldehyde và các amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo trong sản phẩm dệt may mà ông Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đưa ra.
Theo ông Cung, đáng ra, yêu cầu bãi bỏ thông tư này đã được Ban Soạn thảo đề nghị đưa vào Nghị quyết 02/2019/NQ-CP về tiếp tục thực hiện nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021 vì văn bản này đang tạo nên chi phí không đáng có cho DN. “Bộ Công thương cũng đã thấy sự bất hợp lý trong Thông tư 21/2017/TT-BCT, đã đề nghị với Ban Soạn thảo Nghị quyết 02/2019/NQ-CP là sẽ tự bãi bỏ”, ông Cung cho biết.
Như vậy, cho dù các cơ quan quản lý có tranh luận thế nào về việc này, các doanh nghiệp sẽ vẫn phải thực hiện công bố hợp quy sản phẩm dệt may theo QCVN:01/2017/BCT theo yêu cầu của thông tư trên trước khi đưa sản phẩm dệt may ra tiêu thụ trên thị trường Việt Nam.
Về bản chất, hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành xuất phát từ lý do hàng hóa này có thể gây rủi ro, tác động bất lợi đến các lợi ích công cộng, nên phải kiểm soát chặt trước khi lưu thông trên thị trường. Hiện tại, các bộ chuyên ngành được giao thẩm quyền quyết định mặt hàng nào thuộc diện này.
Tuy nhiên, phải nhắc lại là, lý do để bãi bỏ Thông tư 37/2015/TT-BCT hồi năm 2016 của Bộ Công thương là DN đã phải trả chi phí hàng trăm tỷ đồng cho việc kiểm tra và thời gian thông quan hàng hoá kéo dài, nhưng chỉ có một tỷ lệ không đáng kể lô hàng không đạt hàm lượng quy định trong thời gian thực hiện quy định này.
Nhưng sự xuất hiện của Thông tư 21/2017/TT-BCT với bóng dáng đậm nét của cơ quan quản lý chuyên ngành trong quy trình mà DN dệt may phải tuân thủ để có được dấu CR dán trên sản phẩm trước khi bán ra thị trường đang cho thấy sự lấn cấn, không rõ ràng trong việc xác định có cần đưa hàng hóa này vào danh mục phải kiểm tra chuyên ngành hay không. Đó là chưa kể tình trạng một sản phẩm có hơn một bộ quản lý chuyên ngành, như nồi cơm điện, nồi chiên… thuộc 3 bộ cùng quản lý.
“Có cách quản lý nào khác không” là câu hỏi mà các doanh nghiệp đặt ra khi nhìn lại những khó khăn trong cải cách thủ tục kiểm tra chuyên ngành trong năm vừa qua. Báo cáo Dòng chảy pháp luật năm 2018 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cũng dành một phần riêng để nêu quan điểm về vấn đề này với nhận định chung là nhiều chuyển động tích cực, nhưng điểm vướng còn lớn.
Đặc biệt, ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế (VCCI) cho rằng, thẩm quyền ban hành danh mục hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành vẫn thuộc các bộ và chưa có tiêu chí thống nhất để xác định là lý do nhiều hàng hóa dù không có thuộc tính cần phải kiểm tra chuyên ngành, nhưng vẫn phải chịu quy định này.
“Chúng tôi đang đặt câu hỏi là có cách giải quyết tình trạng trên không? Câu trả lời là có, nếu thiết lập mô hình quản lý mới, theo đó, các bộ chuyên ngành chỉ quy định tiêu chuẩn đối với hàng hóa cần kiểm tra chuyên ngành, các doanh nghiệp nhập khẩu sẽ thuê giám định độc lập để có kết quả giám định cùng lúc tất cả các tiêu chuẩn liên quan đến sản phẩm mình nhập khẩu, xuất trình cũng bộ hồ sơ hải quan”, ông Tuấn cho biết đề xuất mà VCCI đang nghiên cứu. Song mô hình này cũng đang đối mặt với một số vấn đề, như chất lượng của tổ chức chứng nhận sự phù hợp, cơ hội của DN, tổ chức ngoài nhà nước tham gia.
Hiện tổ chức chứng nhận sự phù hợp do các bộ quản lý chuyên ngành ủy quyền hoặc chỉ định. Như Bộ Công thương chỉ định 11 cơ quan thực hiện kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm với thực phẩm nhập khẩu thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công thương; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ủy quyền cho 14 đơn vị thực hiện kiểm tra chất lượng phân bón nhập khẩu…
“Với những lĩnh vực đã mở cửa cho tư nhân tham gia, có thể có cơ chế để tránh tình trạng độc quyền của tổ chức, doanh nghiệp thực hiện đánh giá không? Có lẽ, ở đây cần sự quyết tâm cả sự hy sinh quyền quản lý của cơ quan quản lý chuyên ngành”, ông Đậu Anh Tuấn nói. (Đầu Tư 13/2, Khánh An)Về đầu trang
Rút ngắn thời gian tổ chức thi hành án
Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP ngày 06/2/2017 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020 đã đưa ra mục tiêu cụ thể về nâng cao hiệu quả và rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp hợp đồng, trong đó có hoạt động thi hành án dân sự (THADS) từ 400 ngày xuống 300 ngày trong năm 2017 và dưới 200 ngày đến năm 2020.
Theo số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới, tại Việt Nam, thời gian trung bình thực thi phán quyết của tòa án trong năm 2016 là 150 ngày và thời gian phá sản kéo dài đến 5 năm. Thứ hạng của Việt Nam trong khối ASEAN còn khiêm tốn, xếp 6/10 về thời gian thi hành án (THA) và 8/10 trong hiệu quả phá sản doanh nghiệp.
Điều đáng lưu ý là từ năm 2010 đến nay, thời gian THA (150 ngày) tại Việt Nam không có bất cứ thay đổi và cải thiện đáng kể nào. Chính sự kéo dài, trì hoãn trong thực thi công lý dẫn đến thứ hạng còn thấp trong xếp hạng tín nhiệm của các nền kinh tế thế giới. Do đó, một trong những thách thức lớn đang đặt ra đối với công tác THADS hiện nay là việc rút ngắn thời gian tổ chức THA. Để thực hiện được nhiệm vụ này, cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, cụ thể như:
Giảm tải các loại văn bản cần thông báo trong THADS: Trong quá trình tổ chức THA, có rất nhiều các loại văn bản cần thông báo cho đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy chưa có thống kê cụ thể về số lượng các loại văn bản cần thông báo nhưng thực tiễn cho thấy một hồ sơ THADS (01 việc) Chấp hành viên phải tống đạt ít nhất hai loại văn bản là Quyết định THA và giấy triệu tập. Trường hợp chỉ có hai đương sự (01 người phải THA; 01 người được THA) thì ít nhất cũng phải tống đạt bốn văn bản. Việc này sẽ tăng lên khi số đương sự, người liên quan nhiều và tùy theo mức độ phức tạp của vụ việc. Mặc dù chưa có thống kê chính thức về việc tống đạt của một chấp hành viên là bao nhiêu văn bản trên một năm.
Tuy nhiên, có thể bình quân ở mức thấp nhất cho một Chấp hành viên là khoảng 230 việc (số liệu bình quân của cả nước năm 2018)/01 Chấp hành viên nhân với 04 văn bản (ở mức độ thấp) bằng 920 văn bản/năm (tương đương với số lượng tống đạt là hơn hai văn bản/ngày/Chấp hành viên, chưa trừ ngày lễ, thứ Bảy và Chủ nhật). Như vậy có thể thấy số lượng công việc tống đạt, thông báo cũng đã và đang ở mức báo động.
Trong điều kiện việc công nghệ thông tin (CNTT) đang được phát triển mạnh mẽ hiện nay, phần lớn người dân đã sử dụng mạng internet, máy tính, điện thoại thông minh,... thì việc đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT vào thông báo THA là rất cần thiết. Việc quy định thông báo về THADS thông qua ứng dụng CNTT trong Luật THADS sẽ tạo cơ sở pháp lý và điều kiện cho việc đẩy nhanh các thủ tục, rút ngắn thời gian THA.
Theo phản ánh của nhiều cơ quan THADS, quy định về trình tự, thủ tục trong lĩnh vực THADS đang bị hành chính hóa, làm giảm đáng kể hiệu quả công tác THA. Ví dụ, các bước định giá, bán đấu giá hiện nay vẫn còn chiếm nhiều thời gian. Việc xác định mốc “giảm giá bằng hoặc thấp hơn chi phí cưỡng chế” (Điều 104 Luật THADS) là quá dài, nhất là đối với những tài sản có giá trị lớn. Do đó cần quy định khống chế về số lần bán đấu giá, hạ giá tài sản để có thể nhanh chóng giải quyết dứt điểm vụ việc THA.
Đối với các thủ tục hành chính khác, cần cắt giảm thủ tục hành chính và đẩy mạnh cơ chế một cửa trong lĩnh vực THADS như giảm bớt hồ sơ, giấy tờ, yêu cầu, điều kiện không hợp lý hoặc rút ngắn thời hạn giải quyết thủ tục.
Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quản lý, điều hành và thực hiện các thủ tục THADS. Ngay từ giai đoạn nhận bản án, quyết định từ Tòa án, trọng tài thương mại (như nhận chuyển giao qua phần mềm chuyển giao bản án, quyết định) hoặc bổ sung quy định về hình thức yêu cầu THA trực tuyến, rút ngắn quá trình ra quyết định THA. Khuyến khích thực hiện thanh toán tiền, trả lại tiền, tài sản THA bằng chuyển khoản, ứng dụng CNTT vào công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; kiểm sát, giám sát trong THADS; quản lý, xử lý tang vật; quản lý cán bộ THADS; thống kê, báo cáo và quản lý, xử lý dữ liệu về THADS...
Cạnh đó, cần giảm bớt một số loại giấy tờ trong hồ sơ THA. Trong một hồ sơ THA, có rất nhiều giấy tờ phải lưu giữ như: Quyết định THA, bản án, phiếu xác định tiền, tài sản, biên lai, phiếu thu, bảng kê nhập ngân sách, báo cáo đối chiếu kết quả THA, thông báo thi hành xong…v.v. Thời gian để hoàn thiện các loại văn bản, giấy tờ này chiếm rất nhiều thời gian tác nghiệp của Chấp hành viên và lãng phí ngân sách. Do đó nên có sự rà soát lại các loại giấy tờ bắt buộc phải có trong hồ sơ và các giấy tờ không cần thiết, hạn chế tối đa việc in ấn, thiết lập văn bản, giảm tải công việc cho Chấp hành viên. (Pháp Luật Việt Nam 13/2, Hoàng Thị Thanh Hoa)Về đầu trang
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
Sẽ trả lương cho công chức- viên chức theo vị trí việc làm
Đó là một trong những nội dung tại dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ- Công chức và Luật Viên chức đang được Bộ Nội vụ lấy kiến.
Theo đó, Bộ Nội vụ đề xuất thay đổi các quy định hiện hành về xác định vị trí việc làm, tuyển dụng, đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức nhằm thực hiện mục tiêu đổi mới nền công vụ. Dự thảo luật gồm 3 Điều, trong đó: Điều 1 sửa đổi, bổ sung 18 Điều, Khoản của Luật Cán bộ- Công chức; Điều 2 sửa đổi, bổ sung 11 Điều, Khoản của Luật Viên chức và Điều 3 hiệu lực thi hành.
Về chính sách thu hút, sử dụng, đãi ngộ người có tài năng, Chính phủ sẽ quy định khung cơ chế, chính sách và phân cấp cho bộ, ngành, địa phương căn cứ điều kiện cụ thể quy định chi tiết. Đặc biệt, việc đánh giá, phân loại cán bộ, công chức sẽ được bổ sung quy định đánh giá định lượng, bằng sản phẩm, thông qua khảo sát, công khai kết quả và so sánh với chức danh tương đương, bảo đảm xuyên suốt, liên tục, đa chiều, dân chủ, khách quan. Phân loại công chức cũng sẽ không khống chế số lượng ngạch công chức từ cao xuống thấp chỉ có 4 loại (A, B, C, D) như trước đây, mà giao cho Chính phủ quy định cụ thể thứ bậc các ngạch công chức chuyên ngành từ cao xuống thấp để tạo cơ sở thuận lợi cho việc xây dựng hệ thống vị trí việc làm và trả lương theo vị trí việc làm.
Bên cạnh đó, dự thảo luật đã sửa đổi, bổ sung các loại hợp đồng làm việc gồm: Xác định thời hạn và không xác định thời hạn. Với hợp đồng xác định thời hạn áp dụng đối với người mới trúng tuyển vào viên chức và kể từ ngày luật có hiệu lực; tất cả các trường hợp chưa thực hiện hợp đồng làm việc không xác định thời hạn phải ký kết hợp đồng xác định thời hạn…
Dự thảo cũng bổ sung quy định xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ hưu, nghỉ việc hoặc đã chuyển công tác, nhưng có hành vi vi phạm trong thời gian công tác, nhằm thể chế hóa nghiêm túc chủ trương, đường lối của Đảng, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương và sự nghiêm minh của pháp luật.
Dự kiến, luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2020. (Người Lao Động 13/2, Hoàng Triều)Về đầu trang
Sẽ xử lý nghiêm cán bộ, công chức đi đền, chùa trong giờ hành chính
Đây là khẳng định của Chủ tịch UBND huyện Thanh Chương Nguyễn Văn Quế với đoàn kiểm tra chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính của tỉnh do ông Lê Đình Lý - Phó Giám đốc Sở Nội vụ làm trưởng đoàn vào chiều 12/2.
Tại huyện Thanh Chương, đoàn đã tiến hành kiểm tra các phòng, ban thuộc UBND huyện và xã Thanh Văn. Trên cơ sở kiểm tra, đoàn nhận thấy, huyện Thanh Chương đã triển khai và chấp hành khá tốt nội dung Chỉ thị 26 của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị 17 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy.
Kiểm tra việc chấp hành giờ làm việc tại 11 phòng, ban thuộc UBND huyện, đoàn kiểm tra của tỉnh ghi nhận, cơ bản cán bộ, công chức đều có mặt với ý thức làm việc tập trung; đa số công chức đeo thẻ và chấp hành tốt giờ giấc làm việc; bài trí phòng làm việc chức năng ngăn nắp, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của cơ quan, đơn vị và đúng quy định.
Kiểm tra đột xuất tại xã Thanh Văn lúc 16h 25 phút, đoàn kiểm tra ghi nhận cán bộ xã có mặt 14/18 người, 4 người vắng mặt đều có lý do.
Đoàn kiểm tra lưu ý xã hoàn thiện các văn bản liên quan việc triển khai Chỉ thị 26 của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị 17 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; ban hành quyết định phân công công việc cụ thể cho đội ngũ cán bộ không chuyên trách,...
Trao đổi với đoàn kiểm tra, Chủ tịch UBND huyện Thanh Chương Nguyễn Văn Quế khẳng định: Huyện đặc biệt quan tâm nâng cao đạo đức công vụ, chấn chỉnh tác phong, lề lối làm việc của đội ngũ cán bộ.
"Ngay trong ngày làm việc đầu năm, Chủ tịch UBND huyện quán triệt cán bộ, công chức bắt tay làm việc ngay, triển khai Tết trồng cây; đồng thời yêu cầu cán bộ, công chức không được đi đền, chùa vào ngày làm việc và sử dụng xe công để đi đền, chùa. Nếu huyện phát hiện sự việc cán bộ vi phạm sẽ xử lý nghiêm", ông Quế nói. (Báo Nghệ An 12/2, Lê Thanh)Về đầu trang
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Đổi mới đánh giá cán bộ
Chỉ tính riêng trong năm 2018, hơn 650 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng, cố ý làm trái đã bị Ủy ban Kiểm tra các cấp thi hành kỷ luật. Con số cán bộ, đảng viên thuộc diện Trung ương quản lý đã bị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương thi hành kỷ luật trong năm vừa qua là gần 40 người, và nếu tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay thì số lượng cán bộ, đảng viên thuộc diện Trung ương quản lý đã bị thi hành kỷ luật lên tới hơn 60.
Những con số, như Tổng Bí thư, Chủ tịch Nước Nguyễn Phú Trọng từng chỉ rõ là “chưa từng có” này, cùng với sức nóng rực của “lửa lò” chống tham nhũng trong mấy năm qua đã từng bước củng cố và vun đắp niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
Nhưng sự quyết liệt, nói đi đôi với làm, không có vùng cấm trong cuộc chiến chống tham nhũng nói riêng và công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung, ở góc độ nào đó cũng còn có những tâm tư. Thậm chí, như Chủ tịch UBND một địa phương từng khiến dư luận xã hội phản ứng vừa qua khi cho rằng, các cuộc thanh tra, khởi tố một số cán bộ ở địa phương này đã làm giảm sự năng động của đội ngũ cán bộ, công chức. Thẳng thắn mà nói thì tâm lý “án binh bất động”, “chẳng dám làm gì”, “ngồi yên cho lành”… trong một bộ phận đảng viên, cán bộ, công chức hiện nay là có. Điều quan trọng là cấp ủy lãnh đạo cơ quan, đơn vị cần sớm xóa bỏ những tâm lý, tâm tư ấy bởi sự chùn bước, ì ạch của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức như vậy cũng rất dễ biến thành lực cản đối với công cuộc xây dựng bộ máy tinh gọn, trong sạch, hiệu lực và hiệu quả để phát triển kinh tế - xã hội ở thời điểm hiện nay, khi mà chúng ta đang cần sự bứt phá hơn bao giờ hết.
Có nhiều việc phải làm để ngăn tình huống này xảy ra. Trong đó, việc có thể làm ngay, không gì khác chính là sự nêu gương của người đứng đầu ở từng cơ quan, đơn vị, tổ chức. Người đứng đầu nghiêm túc thực thi công vụ, làm tròn chức trách được giao, không ngần ngại việc khó khăn, phức tạp; thực sự tôn trọng và phát huy dân chủ trong cơ quan, đơn vị mình; trọng dụng người tài thực sự, công khai, minh bạch và công bằng trong đánh giá cán bộ cấp dưới, lắng nghe và biết nghe những ý kiến đa chiều của cán bộ, đảng viên; nghiêm cẩn giữ gìn phẩm chất, đạo đức và lối sống từ những việc nhỏ nhất… Làm được như vậy thì chắc chắn, công cuộc “đốt lò” lan tới đâu cũng sẽ thiêu hết những ung nhọt, tiêu cực và mở ra những “mảnh đất” tốt lành cho những cán bộ, đảng viên thực sự là công bộc của nhân dân, là thành viên ưu tú xứng đáng đứng trong đội ngũ của Đảng phát huy hết tâm huyết và tài trí của mình để phục vụ nhân dân, phụng sự đất nước.
Cùng với sự nêu gương thì một việc căn cơ nữa là phải đổi mới toàn diện công tác đánh giá cán bộ, công chức. Tiến sĩ Đinh Duy Hòa, chuyên gia của Đoàn giám sát của QH về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2015 từng chỉ ra rằng, mặc dù Luật Cán bộ, công chức đã được QH ban hành từ năm 2008, chính thức có hiệu lực thi hành từ năm 2010 nhưng gần chục năm qua, về cơ bản, công tác đánh giá cán bộ, công chức vẫn như trước đây, không khoa học, không phản ánh đúng thực chất năng lực, kết quả và hiệu quả công việc của từng cán bộ, công chức. Một trong những lý do cơ bản của tình trạng này là vì không xác định rõ được vị trí việc làm, dẫu rằng, đến thời điểm này, cơ quan, bộ, ngành, địa phương nào cũng đã có đề án về vấn đề này.
Nói cách khác, Đề án vị trí việc làm thì đã có nhưng hai nội dung cốt lõi phải đi theo là bản mô tả công việc ứng với từng vị trí việc làm là gì, sản phẩm ra sao và tương ứng với đó là khung năng lực phải đáp ứng của mỗi vị trí như thế nào thì lại chưa có. “Lý do của lý do” được ông Đinh Duy Hòa chỉ ra là bởi, cả hai văn bản quan trọng nhất về xây dựng vị trí việc làm là Nghị định số 36 năm 2013 của Chính phủ và Thông tư 05 năm 2013 của Bộ Nội vụ đều “né” không quy định làm thế nào để ra được vị trí việc làm tại một cơ quan.
Mới đây, QH đã đồng ý bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức vào chương trình lập pháp và dự kiến, dự luật này sẽ được trình QH cho ý kiến lần đầu ngay trong Kỳ họp thứ Bảy tới. Có thể nói rằng, đây là cơ hội để trả “món nợ” suốt bao năm qua trong việc đánh giá cán bộ, công chức để mỗi người, ở từng vị trí việc làm của mình đều có thể yên tâm thực thi công vụ, không lấn cấn, sợ sai, sợ trách nhiệm, càng không thể dè chừng, ì ạch theo kiểu “ngồi yên cho lành”. (Đại Biểu Nhân Dân 13/2, tr2, Nguyễn Bình)Về đầu trang./.
- Bản tin cải cách hành chính ngày 12/02/2019 (12/02/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 11/02/2019 (12/02/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 31/01/2019 (31/01/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 30/01/2019 (31/01/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 28/01/2019 (29/01/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 24/01/2019 (24/01/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 22/01/2019 (22/01/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 16/01/2019 (17/01/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 15/01/2019 (15/01/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 14/01/2019 (15/01/2019)

