Bản tin cải cách hành chính ngày 14/10/2019

15:50, Thứ Ba, 15-10-2019

Xem với cỡ chữ : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. Nghị định về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số đã được Bộ TT&TT trình lên Chính phủ

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

2. Hà Nội triển khai cấp lại thẻ BHYT tại Bộ phận một cửa ngay trong ngày

3. Hải Phòng: 1.230 hồ sơ giáo dục được giải quyết qua dịch vụ công trực tuyến

4. Chủ tịch Hà Tĩnh muốn “uống cà phê” với doanh nhân

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

5. Xây dựng Chính phủ điện tử tại Việt Nam: Đã bước đầu gỡ được những “điểm nghẽn” lớn 

6. Bộ Quốc phòng: Bãi bỏ 7 thủ tục hành chính lĩnh vực BHYT

7. BHXH Việt Nam đi đầu cải cách, hội nhập sâu rộng

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

8. “Cán bộ, công chức, viên chức trẻ với công tác dân vận chính quyền”

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

9. Dùng bằng giả tiến thân cũng là chạy chức, chạy quyền

TIN THẾ GIỚI

10. "Quả ngọt" cải cách

         

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Nghị định về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số đã được Bộ TT&TT trình lên Chính phủ

Bộ TT&TT thời gian qua đã xây dựng dự thảo “Nghị định về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước” và hiện dự thảo Nghị định này đã được trình lên Chính phủ xem xét ban hành.

Thông tin nêu trên vừa được Bộ TT&TT cho biết trong nội dung thông tin trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Quảng Ninh gửi tới Thủ tướng Chính phủ sau kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIV.

Cử tri tỉnh Quảng Ninh đã đề nghị “rà soát, ban hành văn bản hướng dẫn để thống nhất các bộ, ngành Trung ương và các địa phương trong việc xây dựng các phần mềm giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan Trung ương có giải pháp bảo đảm tương thích, kết nối, chia sẻ được dữ liệu với các phần mềm giải quyết thủ tục hành chính do các địa phương xây dựng để kiểm soát quy trình giải quyết thủ tục hành chính theo một thể thống nhất, tương thích, đồng bộ”.

Về vấn đề nêu trên, Bộ TT&TT cho biết, hiện nay việc triển khai xây dựng các phần mềm giải quyết các thủ tục hành chính trong cơ quan nhà nước còn có hiện tượng chưa đồng bộ giữa các bộ, ngành triển khai theo ngành dọc và địa phương triển khai theo chiều ngang.

Cụ thể, bộ, ngành xây dựng phần mềm giải quyết thủ tục hành chính triển khai về địa phương và các phần mềm một cửa, giải quyết thủ tục hành chính được các địa phương xây dựng chưa có sự kết nối, chia sẻ dữ liệu hoặc sự kết nối, chia sẻ dữ liệu còn rất hạn chế dẫn đến tình trạng có một số đơn vị phải cùng lúc truy cập và nhập dữ liệu đồng thời trên cả 2 phần mềm của bộ, ngành triển khai xuống và phần mềm của địa phương xây dựng. Ví dụ như, Hệ thống bảo hiểm thất nghiệp (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội); Hệ thống thông tin quản lý, đăng ký hộ tịch (Bộ Tư pháp); Hệ thống dịch vụ công cấp mã số đơn vị có quan hệ với ngân sách (Bộ Tài chính); Hệ thống quản lý xuất cảnh (Bộ Công an).

Theo phân tích của Bộ TT&TT, nguyên nhân của tình trạng kể trên là do chưa có văn bản pháp lý cấp Nghị định quy định về việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước, văn bản pháp lý quy định về việc giải quyết các thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.

Để khắc phục vấn đề đó, Chính phủ đã giao Bộ TT&TT xây dựng “Nghị định về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước”. Dự thảo Nghị định đã quy định bắt buộc các cơ quan nhà nước phải kết nối, chia sẻ dữ liệu để phục vụ quản lý nhà nước, cải cách hành chính cho người dân, doanh nghiệp, yêu cầu đảm bảo tính sẵn sàng trong hoạt động ứng dụng CNTT phục vụ chia sẻ dữ liệu; chuẩn hóa các hoạt động chia sẻ dữ liệu bao gồm cả hình thức, cách thức, quy trình kết nối, chia sẻ dữ liệu, quản lý các hoạt động kết nối, chia sẻ dữ liệu.

Cùng với đó, Chính phủ cũng đã giao Văn phòng Chính phủ xây dựng “Nghị định về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử”. Dự thảo Nghị định này đã quy định các cá nhân, tổ chức không phải khai, nộp lại những thông tin, hồ sơ điện tử đã cung cấp và được cơ quan nhà nước công nhận; quy định các bộ, ngành, địa phương hàng năm rà soát thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết, đề xuất danh mục thủ tục hành chính dự kiến cung cấp việc thực hiện trên môi trường điện tử để kiểm soát quy trình giải quyết thủ tục hành chính thống nhất, đồng bộ.

Đến nay, dự thảo “Nghị định về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước” đã được Bộ TT&TT trình Chính phủ xem xét ban hành. Còn với “Nghị định về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử”, hiện nay dự thảo Nghị định đang được Văn phòng Chính phủ hoàn thiện và dự kiến sẽ trình Chính phủ trong tháng 12/2019.

“Sau khi các Nghị định trên được ban hành và có hiệu lực sẽ giải quyết được các vấn đề vướng mắc mà cử tri tỉnh Quảng Ninh kiến nghị, đảm bảo tính kết nối, thống nhất, tương thích và đồng bộ giữa các phần mềm của bộ, ngành tại Trung ương triển khai xuống địa phương và phần mềm của địa phương trong giải quyết các thủ tục hành chính, dịch vụ công cho người dân, doanh nghiệp”, Bộ TT&TT cho hay. (Ictnews.vn 13/10, Vân Anh) Về đầu trang 

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Hà Nội triển khai cấp lại thẻ BHYT tại Bộ phận một cửa ngay trong ngày

BHXH Hà Nội yêu cầu BHXH các quận, huyện, thị xã, tổ chức thực hiện việc cấp lại thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) do mất, hỏng không thay đổi thông tin được giải quyết ngay trong ngày làm việc.

Nhằm thực hiện Công văn số 4996/BHXH-CSYT ngày 29-11-2018 của BHXH Việt Nam hướng dẫn triển khai thực hiện một số nội dung trong Nghị định 146/2018/NĐ-CP, BHXH Hà Nội triển khai việc cấp lại thẻ bảo hiểm y tế do mất, hỏng nhưng không thay đổi thông tin cho tất cả người tham gia bảo hiểm y tế trên địa bàn thành phố Hà Nội tại Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính (Bộ phận một cửa) của các đơn vị trực thuộc.

BHXH Hà Nội đề nghị BHXH các quận, huyện, thị xã, tùy tình hình thực tế tại đơn vị mình để tổ chức thực hiện, đảm bảo việc cấp lại thẻ bảo hiểm y tế do mất, hỏng, không thay đổi thông tin được giải quyết ngay trong ngày làm việc.

Đối với việc thực hiện in thẻ tại Bộ phận một cửa, viên chức làm nhiệm vụ in thẻ được cấp user phân quyền in thẻ, thực hiện mở sổ theo dõi sử dụng phôi, quyết toán phôi như viên chức in thẻ tại bộ phận sổ thẻ.

Để việc cấp lại thẻ BHYT cho người tham gia được thuận tiện, góp phần cải cách thủ tục hành chính, BHXH thành phố yêu cầu Giám đốc BHXH quận, huyện, thị xã, trưởng các phòng nghiệp vụ tổ chức thực hiện đúng quy định. (Phapluatxahoi.vn 14/10, Hải Phòng) Về đầu trang

Hải Phòng: 1.230 hồ sơ giáo dục được giải quyết qua dịch vụ công trực tuyến

Sở Giáo dục - Đào tạo (GD-ĐT) Hải Phòng cho biết, từ đầu năm đến nay, đơn vị đã tiếp nhận và giải quyết 1.331 hồ sơ thủ tục hành chính (TTHC), trong đó có 1.230 hồ sơ được tiếp nhận qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến.

Ngoài ra, có 44 hồ sơ trả kết quả qua dịch vụ bưu chính công ích; 101 hồ sơ tiếp nhận qua các hình thức khác… Các hồ sơ đều được thực hiện đúng quy trình, thủ tục và trả kết quả sớm hoặc đúng thời hạn quy định.

Báo cáo từ Sở GD-ĐT Hải Phòng cho biết, thực hiện công tác cải cách hành chính, ngay từ đầu năm, sở đã ban hành kế hoạch tuyên truyền cải cách hành chính đến toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, giáo viên, nhân viên trong ngành GD-ĐT thành phố; hoàn thiện hệ thống các quy định về lĩnh vực được phân công; các loại hồ sơ, TTHC đều được công khai minh bạch về phiếu tiếp nhận, quy trình, thời gian giải quyết…

Bên cạnh đó, Sở GD-ĐT Hải Phòng cũng chủ động khai thác hiệu quả phần mềm văn phòng điện tử HP-eOffice giúp giảm thời gian xử lý văn bản, giảm chi phí. Đến thời điểm này, đơn vị đã cấp tài khoản sử dụng cho 2.500 cá nhân của 800 đơn vị giáo dục trực thuộc Sở GD- ĐT Hải Phòng thực hiện việc gửi, nhận văn bản trên hệ thống.

Tuy nhiên, cũng báo cáo này cho biết, mặc dù công tác cải cách hành chính thời gian qua tại Sở GD- ĐT Hải Phòng đã có sự tiến bộ nhưng chưa có sự bứt phá về vị trí xếp hạng chỉ số cải cách hành chính. Do đó, trong thời gian tới, Sở GD-ĐT Hải Phòng sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính; khắc phục tình trạng chậm trễ trong việc ban hành các kế hoạch. Đặc biệt, Sở GD-ĐT Hải Phòng sẽ tập trung vận hành hiệu quả hệ thống một cửa điện tử và dịch vụ công trực tuyến.

Song song với đó, sở cũng tuyên truyền, vận động để người dân, tổ chức tăng cường sử dụng các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4; tăng tỷ lệ hồ sơ nhận và trả kết quả qua dịch vụ công trực tuyến; đẩy nhanh tiến độ xây dựng, trình thẩm định các đề án sắp xếp đơn vị sự nghiệp công lập. Đồng thời, sở cũng thực hiện hiệu quả, thực chất việc áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2015. (Thoibaotaichinhvietnam.vn 13/10, An Nhi) Về đầu trang

Chủ tịch Hà Tĩnh muốn “uống cà phê” với doanh nhân

Ông Trần Tiến Hưng, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh nói tỉnh đang nghiên cứu làm mô hình cà phê doanh nhân, để có thể tiếp nhận phản ánh của doanh nghiệp. Ý tưởng này được đưa ra tại buổi tọa đàm, đối thoại với hàng trăm giám đốc doanh nghiệp, hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh chiều 11/10.

"Tôi trăn trở với lãnh đạo tỉnh, làm sao tiếp nhận được tất cả thông tin, vướng mắc của doanh nghiệp để tìm phương pháp, cách thức tháo gỡ. Chẳng hạn, có thể mở quán cà phê doanh nhân, định kỳ tuần hoặc tháng lắng nghe ý kiến trực tiếp của lãnh đạo các công ty, cùng giải quyết", ông Hưng nói.

Chủ tịch Hà Tĩnh cho VnExpress biết, mô hình "Chủ tịch tỉnh uống cà phê với doanh nhân" đã được tỉnh Đồng Tháp và một số địa phương khác làm. "Cái này tùy thuộc vào nhiều điều kiện, yếu tố như địa điểm, không gian, thời gian... Lãnh đạo tỉnh đang chỉ đạo các cấp nghiên cứu, học tập, nếu phù hợp sẽ thực hiện trong thời gian tới", ông Hưng thông tin.

Đại diện nhiều doanh nghiệp cho hay đồng tình với ý tưởng này, mong tỉnh Hà Tĩnh sớm thực hiện. "Doanh nhân thông qua ly cà phê, hoặc ly trà có thể ngồi trao đổi ý kiến thẳng thắn với lãnh đạo tỉnh thì thực sự rất tốt, sẽ rút ngắn được nhiều khoảng cách", Phó giám đốc công ty xây dựng ở thị xã Hồng Lĩnh nói.

Một giám đốc công ty vận tải chia sẻ: "Để uống cà phê theo tuần hoặc tháng thực tế rất khó. Doanh nghiệp có thể dự, song Chủ tịch tỉnh bận nhiều việc, sắp xếp thời gian không đơn giản. Nếu tổ chức mà ủy quyền cho cấp dưới đi thì các vấn đề được nêu ra sẽ không đi tới đâu, vì họ không đủ thẩm quyền quyết định".

Hà Tĩnh có gần 7.000 doanh nghiệp, đơn vị sản xuất kinh doanh hoạt động. Năm 2019, các doanh nghiệp đã giải quyết việc làm cho hàng chục nghìn người. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh thành lập mới 812 doanh nghiệp, tăng 11% so với cùng kỳ. (Vnexpress.net 14/10, Đức Hùng) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Xây dựng Chính phủ điện tử tại Việt Nam: Đã bước đầu gỡ được những “điểm nghẽn” lớn

Theo đánh giá của các chuyên gia, chặng đường gần 2 năm qua đã ghi dấu bước chuyển lớn trong xây dựng Chính phủ điện tử, với việc nhiều “điểm nghẽn” lớn bước đầu được tháo gỡ như: khó khăn trong đầu tư, thuê dịch vụ CNTT; tình trạng các hệ thống CNTT “không nói chuyện với nhau”…

Việc Thủ tướng Chính phủ lần đầu tiên ký văn bản điện tử và ban hành trực tiếp được đánh giá là một dấu mốc rất lớn trong xây dựng Chính phủ điện tử (Trong ảnh: Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ký Quyết định phê duyệt Đề án Cổng dịch vụ công quốc gia trên Hệ thống phần mềm quản lý hồ sơ công việc và gửi nhận văn bản điện tử).

Nhìn lại chặng đường trong gần 2 năm qua, với quan điểm chỉ đạo đã được Thủ tướng Chính phủ quán triệt, đó là xây dựng Chính phủ điện tử gắn với cải cách hành chính, xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế, xã hội số và việc xây dựng Chính phủ điện tử phải “Nghĩ lớn, nhìn tổng thể, hành động nhanh, bắt đầu từ những việc nhỏ nhưng hiệu quả lớn”, lãnh đạo Đảng, Nhà nước cũng như các chuyên gia đều đánh giá, công cuộc xây dựng Chính phủ điện tử tại Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực.

Cụ thể, trong phát biểu khai mạc phiên toàn thể Diễn đàn cấp cao về công nghiệp 4.0 - Industry 4.0 Summit 2019 chủ đề “Chủ trương và chương trình hành động của Việt Nam chủ động tham gia cách mạng công nghiệp lần thứ tư” được tổ chức ngày 3/10 vừa qua, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình đã nhấn mạnh: “Việc xây dựng Chính phủ điện tử tiến tới Chính phủ số đã được triển khai bước đầu đạt kết quả tích cực”.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về Chính phủ điện tử trong kết luận hội nghị trực tuyến của Ủy ban với các Ban chỉ đạo xây dựng Chính phủ điện tử, Chính quyền điện tử bộ, ngành, địa phương hồi trung tuần tháng 7/2019 cũng đánh giá, thời gian qua các bộ, ngành, địa phương đã có nhiều chuyển biến trong nhận thức và quá trình triển khai xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số, gắn kết chặt chẽ giữa cải cách hành chính với ứng dụng CNTT, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm.

Cụ thể, việc triển khai xây dựng Chính phủ điện tử đã bước đầu đã đạt được một số kết quả tích cực như: Nghị quyết 17 ngày 7/3/2019 của Chính phủ về “Một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019 – 2020, định hướng đến năm 2025” đã được các bộ, ngành, địa phương quán triệt và tích cực triển khai. Cùng việc thiết lập cơ quan chỉ đạo liên ngành ở Trung ương là Ủy ban Quốc gia về Chính phủ điện tử, tại bộ, ngành, địa phương đã thành lập các Ban chỉ đạo xây dựng Chính phủ điện tử, Chính quyền điện tử. Khung pháp lý đồng bộ về xây dựng Chính phủ điện tử đang từng bước được hoàn thiện, cơ chế đầu tư, thuê dịch vụ CNTT dần được tháo gỡ.

Bên cạnh đó, đã đưa vào vận hành Trục liên thông văn bản quốc gia phục vụ gửi, nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước. Một số cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm, tài chính, đất đai… được quan tâm triển khai. Việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 tiếp tục được tăng cường. Công tác bảo đảm an toàn, an ninh được cải thiện. Kinh phí phục vụ triển khai xây dựng Chính phủ điện tử được quan tâm bố trí một phần.

Ở góc độ của một doanh nghiệp CNTT đã có nhiều năm tham gia vào quá trình triển khai các dự án, chương trình về xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử, trao đổi với ICTnews, ông Nguyễn Thế Trung, Chủ tịch Công ty cổ phần Công nghệ DTT nhấn mạnh, trong gần 2 năm vừa qua việc xây dựng Chính phủ điện tử tại Việt Nam đã có những chuyển biến mạnh mẽ, tạo ra được những bước chuyển lớn mang tính “bẻ lái” cho công cuộc xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số.

Trước hết, về nhận thức, chúng ta đều nghe rất nhiều và nhìn thấy sự quyết tâm của lãnh đạo cao nhất. Lần đầu tiên, Thủ tướng Chính phủ ký số văn bản điện tử và ban hành trực tiếp. Sau đó, nhiều văn bản điện tử khác cũng đã được ký, nhiều văn bản được phát hành ra chỉ trong khoảng nửa ngày, trong khi trước đó có những văn bản phải mất cả tuần người dân, doanh nghiệp mới được tiếp cận, biết đến.

“Đây là một việc tưởng như rất đơn giản nhưng chúng ta đã phải mất rất nhiều năm để có thể làm được. Bởi lẽ, để làm được việc ký và ban hành văn bản điện tử, tất cả các điều kiện khác phải đầy đủ, đảm bảo rằng khi Thủ tướng Chính phủ ký văn bản điện tử thì văn bản đó phải có tính pháp lý, tính an toàn, bảo mật tương tự như văn bản giấy. Chúng ta đã phải mất một thời gian dài để làm việc này này, đó không chỉ là bài toán kỹ thuật mà còn là bài toán thể chế thế nào? bài toán trong bộ máy giúp việc của Chính phủ thế nào để đảm bảo câu chuyện đó được thực thi.

Tôi nghĩ rằng, đó là một dấu mốc rất lớn trong xây dựng Chính phủ điện tử, khi chúng ta có văn bản do người đứng đầu ký trực tiếp bằng chữ ký số và ban hành ngay lập tức tới toàn bộ mọi người trong hệ thống. CNTT phải giúp rút ngắn thời gian xử lý các công việc và nhờ ứng dụng CNTT chúng ta có thể theo dõi phản hồi để cải thiện”, ông Nguyễn Thế Trung chia sẻ.

Chuyên gia Nguyễn Thế Trung đánh giá rất cao việc Chính phủ đã đưa ra được Nghị quyết 17, một bản Nghị quyết khác biệt và mới mẻ, đã chỉ rõ những lỗ hổng về thể chế chính sách mà nếu không có thì chúng ta không thể xây dựng được một Chính phủ điện tử tốt, hoạt động hiệu quả.

Đặc biệt, theo ông Trung, liên quan đến vấn đề công nghệ, theo tinh thần của Nghị quyết 17, thời gian vừa qua, chúng ta không chỉ đang nói đến một số ứng dụng Chính phủ điện tử mà đã đặt ra vấn đề xây dựng nền tảng cho Chính phủ điện tử, đã yêu cầu mọi hệ thống phải tham gia vào nền tảng này. Câu chuyện để chuyển thông tin từ hệ thống A sang hệ thống B sẽ không còn rào cản về mặt kỹ thuật.

Lý giải rõ hơn tầm quan trọng của việc cần có nền tảng cho Chính phủ điện tử, vị chuyên gia này chỉ rõ: “Nếu chúng ta muốn xâu chuỗi các hoạt động của Chính phủ điện tử lại với nhau và điều hành công việc dựa trên thông tin tức thời thì chúng ta phải dựa trên một nền tảng chung, chứ không thể nào bao nhiêu đơn vị của Chính phủ là bấy nhiêu hệ thống CNTT “không nói chuyện với nhau””.

Nền tảng chung này (Trục liên thông văn bản quốc gia và trong tương lai sẽ phát triển thành nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia – PV) hiện nay đang được tích cực xây dựng, đã được ứng dụng trong xử lý văn bản điện tử; đã tích hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương với Trung ương trong việc cung cấp một số dịch vụ công về hộ tịch, đăng ký kinh doanh…; và sắp tới Cổng Dịch vụ công quốc gia, Hệ thống báo cáo quốc gia cũng sẽ được tích hợp vào.

Đi kèm với các giải pháp công nghệ mà đi kèm, để đảm bảo việc các hệ thống CNTT có thể “nói chuyện với nhau”, Chính phủ đã giao Bộ TT&TT xây dựng Nghị định về kết nối, chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước. Dự thảo Nghị định này đã được xây dựng, trình lên Chính phủ và về cơ bản trong bản dự thảo đã tạo điều kiện để các đơn vị có thể kết nối, chia sẻ dữ liệu với nhau.

Tuy nhiên, theo đánh giá của Thủ tướng Chính phủ, việc triển khai xây dựng Chính phủ điện tử nói chung và Nghị quyết 17 nói riêng vẫn còn những tồn tại hạn chế, đơn cử như: một số nhiệm vụ triển khai chưa đáp ứng được tiến độ theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; còn tình trạng xin lùi thời hạn, chưa chủ động trong thực hiện.

Bên cạnh đó, do thiếu sự lãnh đạo tập trung trong xây dựng Chính phủ điện tử dẫn đến tình trạng đầu tư trung lặp, lãng phí, thiếu đồng bộ tại một số bộ, ngành, địa phương; một số văn bản tạo hành lang pháp lý cho xây dựng Chính phủ điện tử chưa được ban hành; tiến độ xây dựng một số hệ thống thông tin làm nền tảng phát triển Chính phủ điện tử còn chậm, đặc biệt là Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; số lượng dịch vụ công trực tuyến nhiều nhưng tỷ lệ phát sinh hồ sơ thấp, hiệu quả chưa cao; còn tiềm ẩn nguy cơ về an ninh, an toàn thông tin, lộ lọt bí mật nhà nước; việc bố trí ngân sách cho xây dựng Chính phủ điện tử còn gặp nhiều khó khăn.

Chuyên gia Nguyễn Thế Trung cũng nhấn mạnh: "Thách thức lớn trong giai đoạn tiếp theo là từ những bước chuyển mang tính “bẻ lái” của giai đoạn vừa qua để nhân rộng, lan tỏa đến các địa phương, đơn vị đang làm là một khối lượng công việc khổng lồ. Giai đoạn tới, yêu cầu đặt ra không phải chỉ đòi hỏi một vài dự án, đề án mà cần có một khung kỹ thuật, khung thể chế và khung đầu tư để các bên có thể tham gia hiệu quả nhất". (Ictnews.vn 13/10, M.T) Về đầu trang

Bộ Quốc phòng: Bãi bỏ 7 thủ tục hành chính lĩnh vực BHYT

Bộ Quốc phòng: Bãi bỏ 7 thủ tục hành chính lĩnh vực BHYT - Bộ Quốc phòng vừa ban hành Quyết định số 4324/QĐ-BQP ngày 02/10/2019, theo đó, công bố các thủ tục hành chính bị bãi bỏ lĩnh vực BHYT thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Quốc phòng.

Từ 1/2020: Sử dụng thẻ bảo hiểm y tế điện tử

Có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký, Quyết định số 4324/QĐ-BQP bãi bỏ 07 thủ tục hành chính lĩnh vực BHYT thuộc phạm vi chức năng quản lý, bao gồm:

Thanh toán chi phí khám, chữa bệnh tại cơ sở dân y đối với công nhân viên chức quốc phòng, lao động hợp đồng có chỉ tiêu của Bộ Tổng Tham mưu, trong trường hợp phải xử lý cấp cứu do bị thương, tai nạn, các bệnh lý (nội, ngoại khoa, chuyên khoa), hoặc thai sản, hoặc tiêm phòng dại khi đi công tác, nghỉ phép ở những nơi không có cơ sở khám chữa bệnh của quân đội, nếu chuyển theo tuyến trên sẽ không bảo đảm an toàn cho người bệnh. 

Thanh toán chi phí khám, chữa bệnh tại cơ sở dân y đối với công nhân viên chức quốc phòng, lao động hợp đồng có chỉ tiêu của Bộ Tổng Tham mưu, trong trường hợp phải xử lý cấp cứu do bị thương, tai nạn, các bệnh lý (nội, ngoại khoa, chuyên khoa) hoặc thai sản, hoặc tiêm phòng dại khi đi công tác, nghỉ phép ở những nơi không có cơ sở khám chữa bệnh của quân đội, nếu chuyển theo tuyến trên sẽ không bảo đảm an toàn cho người bệnh - Trường hợp chi phí khám, chữa bệnh ở cơ sở dân y cao hơn mức quy định được hưởng.

Thanh toán chi phí khám, chữa bệnh tại cơ sở dân y đối với công nhân viên chức quốc phòng, lao động hợp đồng có chỉ tiêu của Bộ Tổng Tham mưu, trong trường hợp phải xử lý cấp cứu do bị thương, tai nạn, các bệnh lý (nội, ngoại khoa, chuyên khoa), hoặc thai sản, hoặc tiêm phòng dại do địa bàn đóng quân thuộc vùng sâu, vùng xa giao thông đi lại khó khăn, xa cơ sở khám, chữa bệnh của quân đội hoặc cơ sở khám, chữa bệnh của quân đội không có chuyên khoa hay không đủ năng lực điều trị, phải giới thiệu ra cơ sở dân y để đảm bảo an toàn cho người bệnh.

Thanh toán chi phí khám, chữa bệnh tại cơ sở dân y đối với công nhân viên chức quốc phòng, lao động hợp đồng có chỉ tiêu của Bộ Tổng Tham mưu, trong trường hợp phải xử lý cấp cứu do bị thương, tai nạn, các bệnh lý (nội, ngoại khoa, chuyên khoa), hoặc thai sản, hoặc tiêm phòng dại do địa bàn đóng quân thuộc vùng sâu, vùng xa giao thông đi lại khó khăn, xa cơ sở khám, chữa bệnh của quân đội hoặc cơ sở khám, chữa bệnh của quân đội không có chuyên khoa hay không đủ năng lực điều trị, phải giới thiệu ra cơ sở dân y để đảm bảo an toàn cho người bệnh - Trường hợp chi phí khám, chữa bệnh ở cơ sở dân y cao hơn mức quy định được hưởng.

Thanh toán chi phí khám, chữa bệnh tại cơ sở dân y đối với nữ công nhân viên chức quốc phòng, nữ lao động hợp đồng có chỉ tiêu của Bộ Tổng Tham mưu, trong trường hợp khám bệnh và điều trị các bệnh sản, phụ khoa, khám thai và sinh con mà cơ sở khám, chữa bệnh của quân đội không có chuyên khoa phụ sản hoặc cơ sở dân y ở gần hơn bệnh viện quân đội có chuyên khoa phụ sản.

Thanh toán chi phí khám, chữa bệnh tại cơ sở dân y đối với nữ công nhân viên chức quốc phòng, nữ lao động hợp đồng có chỉ tiêu của Bộ Tổng Tham mưu, trong trường hợp khám bệnh và điều trị các bệnh sản, phụ khoa, khám thai và sinh con mà cơ sở khám, chữa bệnh của quân đội không có chuyên khoa phụ sản hoặc cơ sở dân y ở gần hơn bệnh viện quân đội có chuyên khoa phụ sản - Trường hợp chi phí khám, chữa bệnh ở cơ sở dân y cao hơn mức quy định được hưởng.

Thanh toán chi phí khám, chữa bệnh tại cơ sở dân y đối với công nhân viên chức quốc phòng, lao động hợp đồng có chỉ tiêu của Bộ Tổng Tham mưu, trường hợp người bệnh có bệnh lý thuộc chuyên khoa sâu, đòi hỏi ứng dụng các kỹ thuật cao trong chẩn đoán và điều trị, vượt quá khả năng chuyên môn của cơ sở khám chữa bệnh quân đội. (Nguoilambao.vn 13/10, PV) Về đầu trang

BHXH Việt Nam đi đầu cải cách, hội nhập sâu rộng

Những năm gần đây, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam không ngừng đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính gắn liền với ứng dụng CNTT trong công tác quản lý, hoạt động nghiệp vụ. Từ yêu cầu thực tiễn của đất nước nói chung, trong đó có công tác hội nhập quốc tế của ngành BHXH nói riêng đòi hỏi phải được tăng cường mạnh mẽ hơn, sáng tạo hơn.

Theo ThS. Nguyễn Hòa Bình, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam, những năm gần đây, toàn ngành đã chú trọng đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) và tin học hóa trong công tác quản lý, chỉ đạo điều hành; thực hiện việc hoàn thiện và liên thông các phần mềm nghiệp vụ, cấp mã số BHXH duy nhất cho người tham gia, đáp ứng yêu cầu quản lý dữ liệu tập trung, đảm bảo việc chia sẻ, kết nối dữ liệu trong toàn hệ thống.

BHXH Việt Nam cũng đa dạng hóa các hình thức giao dịch trong tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) nhằm tối đa hóa các điều kiện thuận lợi cho người sử dụng lao động, người lao động và cá nhân khi tham gia giao dịch với cơ quan BHXH.

“Với sự quyết liệt trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện, hiện nay, số lượng TTHC về BHXH, BHYT đã giảm đáng kể so với trước kia. Cụ thể, đã giảm trên 70% số lượng, từ 115 thủ tục (năm 2014) xuống còn 28 thủ tục (năm 2017); đến tháng 5/2019 còn 27 thủ tục. Về số giờ thực hiện TTHC, theo đánh giá của Ngân hàng thế giới - WB, BHXH Việt Nam đã giảm số giờ thực hiện TTHC cho người dân và doanh nghiệp từ 335 giờ (năm 2015) xuống còn 147 giờ (năm 2018)”, ThS. Nguyễn Hòa Bình cho hay.  

Về ứng dụng CNTT, theo ông Bình, BHXH Việt Nam đã tăng 18 bậc so với năm 2016, vươn lên vị trí thứ 2 trong bảng xếp hạng chung của 25 bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có dịch vụ công.

Trong khi đó, về tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả TTHC, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế cho hay, ngành đã chủ động thay đổi các hình thức tiếp nhận hồ sơ phù hợp với yêu cầu của xã hội như: giao dịch điện tử; giao dịch tại trụ sở cơ quan BHXH; giao dịch qua dịch vụ bưu chính công ích (doanh nghiệp không phải trả phí chuyển phát hồ sơ); Cung cấp 19 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 trên 27 TTHC.

Đồng thời, BHXH Việt Nam thực hiện kết nối chia sẻ dữ liệu với Tổng cục Thuế để chia sẻ các thông tin về doanh nghiệp; với Bộ Y tế và các cơ sở khám, chữa bệnh để sử dụng bộ mã danh mục dùng chung áp dụng trong quản lý khám bệnh, chữa bệnh và thanh toán BHYT; với Bộ Tư pháp trong việc cung cấp thông tin đăng ký kê khai và cấp thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi; thông tin về khai tử khi đối tượng hưởng chế độ tuất...

Liên quan đến hoạt động hợp tác quốc tế về an sinh xã hội (ASXH), theo Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Đào Việt Ánh, thời gian qua, không chỉ thực hiện tốt vai trò là Chủ tịch Hội nghị Ban chấp hành Hiệp hội An sinh xã hội ASEAN (ASSA) nhiệm kỳ 2018-2019, BHXH Việt Nam cũng đã tích cực thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hợp tác quốc tế, từng bước đạt được các mục tiêu trong Chiến lược đã được Chính phủ giao, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ được đặt ra trong Nghị quyết 28-NQ/TW.

“Các hoạt động hợp tác song phương và đa phương - tham gia các diễn đàn, tổ chức An sinh xã hội của khu vực như ASSA, cũng như thế giới - ISSA, ILO, World Bank… đang ngày càng được thúc đẩy”, ông Ánh cho hay.

Cũng theo Phó Tổng Giám đốc, BHXH Việt Nam đã chú trọng triển khai công tác đào tạo nhân lực, bao gồm cả đào tạo kỹ năng ngoại ngữ, kiến thức quốc tế về ASXH (phối hợp với Đại học Waikato, New Zealand); thiết lập hệ thống cán bộ thông tin đối ngoại trong toàn ngành… Đây là những biện pháp nhằm từng bước xây dựng nền tảng vững chắc để nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế của ngành BHXH và sẽ được thực hiện một cách tích cực hơn trong thời gian tới.

Tuy nhiên, từ yêu cầu thực tiễn hội nhập của đất nước, tổ chức thực hiện BHXH, BHYT nói chung, trong đó có công tác hội nhập quốc tế của ngành BHXH nói riêng đòi hỏi phải được tăng cường mạnh mẽ hơn, sáng tạo hơn. Chẳng hạn như việc Việt Nam thực hiện nhiều hơn các hiệp định thương mại tự do - FTA với các quốc gia, khu vực trên thế giới, sẽ tác động đến cung, cầu hàng hóa, ảnh hưởng thị trường lao động. Bên cạnh đó là những thay đổi nhanh chóng do sự phát triển của công nghệ, dẫn đến thay đổi tính chất việc làm, phát sinh quan hệ lao động kiểu mới…

“Những vấn đề này đòi hỏi công tác xây dựng, hoàn thiện các chính sách An sinh xã hội nói chung, BHXH, BHYT nói riêng, phải được thực hiện nhanh hơn, đồng bộ hơn; công tác tổ chức thực hiện phải ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại hơn. Chính vì vậy, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế là yêu cầu tất yếu với n gành BHXH”, Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Đào Việt Ánh kết luận. (Tienphong.vn 14/10, An Phú) Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

“Cán bộ, công chức, viên chức trẻ với công tác dân vận chính quyền”

Diễn đàn “Cán bộ, công chức, viên chức trẻ với công tác dân vận chính quyền” do Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức ngày 13/10 tại TP Hải Phòng với mong muốn góp thêm các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác dân vận chính quyền trong thời gian tới.

Phát biểu đề dẫn, đồng chí Vũ Thị Giáng Hương, Trưởng ban Công nhân và đô thị, Trung ương Đoàn nhắc lại lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việc dân vận rất quan trọng, dân vận kém thì việc gì cũng kém, dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”. Công tác dân vận là một trong những nhiệm vụ thường xuyên của hệ thống chính trị trong đó, công tác dân vận chính quyền có vai trò quan trọng, góp phần tạo sự đồng thuận của nhân dân trong việc tổ chức thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Nhằm tăng cường công tác dân vận chính quyền, góp phần xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo, phục vụ nhân dân và thực hiện có hiệu quả nghị quyết của Trung ương về công tác dân vận, Ban Dân vận Trung ương phối hợp Ban Cán sự Đảng Chính phủ chọn chủ đề công tác năm 2019 là “Năm dân vận chính quyền”.

Với vai trò là tổ chức của những người trẻ, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã phát động và triển khai các phong trào hành động cách mạng để khơi dậy tiềm năng của cán bộ, công chức, viên chức trẻ trong tham gia đề xuất các sáng kiến đổi mới quy trình, thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác tham mưu, phục vụ; đổi mới tư duy, phương pháp, lề lối, tác phong làm việc, qua đó, đóng góp tích cực vào kết quả triển khai các hoạt động của “Năm dân vận chính quyền” 2019.

Bày tỏ suy nghĩ tại diễn đàn, đồng chí Nguyễn Biên Cương, Chính trị viên Liên đội 27, Lữ đoàn 113, Binh chủng Đặc công cho biết, để thực hiện phong trào “3 trách nhiệm” (Trách nhiệm với công việc, trách nhiệm với cộng đồng và trách nhiệm với bản thân) không có gì là khó khăn hay cao siêu cả, mà đơn giản sự gần gũi, lắng nghe, đồng cảm, chia sẻ, giúp đỡ đồng chí, đồng đội; là sự xung kích, gắn bó say mê, hoá thân vào công việc và coi việc của tập thể là việc của chính mình.

Với suy nghĩ như vậy, Chính trị viên Nguyễn Biên Cương đã có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật được áp dụng vào thực tiễn mang lại hiệu quả. Anh được Hội đồng khoa học Lữ đoàn công nhận và trao giải A với cải tiến “Áo phao tập bơi”, “Bộ sản phẩm cắt chữ”; giải B với sáng kiến “Bộ giá chân bia các bài bắn chống khủng bố”…

Tại buổi tọa đàm, các đại biểu đã tập trung trao đổi về vai trò của dân vận chính quyền trong việc xây dựng Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân và trách nhiệm của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đối với công tác dân vận chính quyền; vai trò của cán bộ, công chức, viên chức trẻ trong tham gia công tác dân vận chính quyền tại các địa phương, đơn vị; góp ý kiến về những nội dung Đoàn có thể tham gia thực hiện hiệu quả công tác dân vận chính quyền; trao đổi những mô hình hay, cách làm hiệu quả của Đoàn trong công tác dân vận chính quyền…

Các đại biểu cũng đã đề xuất giải pháp nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức trẻ về công tác dân vận; phương pháp dân vận hiệu quả của cán bộ, công chức, viên chức trẻ đáp ứng yêu cầu tình hình mới; những nội dung phối hợp giữa Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với các cấp chính quyền để nâng cao hiệu quả dân vận chính quyền.

Phát biểu kết luận, Bí thư thường trực Trung ương Đoàn Nguyễn Anh Tuấn cho biết, hai năm vừa qua tổ chức Đoàn các cấp đã tạo môi trường thực tiễn sinh động, phong phú để cán bộ, công chức, viên chức trẻ có nhiều sáng kiến, cách làm hay tham gia vào công tác dân vận chính quyền để có nhiều hơn những tập thể, cá nhân điển hình và những mô hình dân vận khéo đóng góp vào thành công chung của “Năm dân vận chính quyền” 2018 và 2019.

Bí thư thường trực Trung ương Đoàn cho rằng, thời gian tới, cần có nhận thức đầy đủ, đúng đắn hơn về dân vận chính quyền cũng như trách nhiệm của các cấp bộ Đoàn, cán bộ, công chức, viên chức trẻ trong việc thực hiện. Muốn vậy, mỗi cán bộ, công chức, viên chức trẻ phải cố gắng học tập, rèn luyện theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, trước hết là nâng cao trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng, đạo đức công vụ, thể hiện tinh thần trách nhiệm với công việc, với người dân, với doanh nghiệp, với cộng đồng.

Tổ chức Đoàn các cấp cần tạo ra nhiều hơn các sân chơi, diễn đàn, phương thức hoạt động mới để cán bộ, công chức, viên chức trẻ có cơ hội được tham gia đóng góp sáng kiến cũng như chủ động đề xuất với lãnh đạo để ứng dụng các giải pháp, sáng kiến vào thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả công việc, tham gia tốt vào công tác dân vận chính quyền./. (Dangcongsan.vn 13/10, Minh Châu) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Dùng bằng giả tiến thân cũng là chạy chức, chạy quyền

"Chiếu với Quy định 205 của Bộ Chính trị thì việc cán bộ công chức dùng bằng giả để tiến thân đó cũng chính là một biểu hiện của chạy chức, chạy quyền”, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục – Thanh thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội Lê Như Tiến nói.

Người sử dụng bằng giả có lỗi, nhưng người thẩm định, tuyển dụng, giới thiệu cán bộ sử dụng bằng giả cũng không thể vô can. Đó là quan điểm của nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục – Thanh thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội Lê Như Tiến.

Bởi theo ông Tiến, Quy định 205 của Bộ Chính trị đã nêu rõ cá nhân của người giới thiệu nhân sự cho Đảng cũng phải có trách nhiệm trong đó.

“Tôi cũng đã từng phát biểu cần phải công khai danh tính người giới thiệu nhân sự cho tổ chức cho Đảng để đề bạt, cất nhắc, tuyển dụng cán bộ.

Để nếu sau này, người ta làm tốt thì người giới thiệu được tiếng thơm, người ta làm không tốt, bị kỷ luật thì người giới thiệu cũng phải có trách nhiệm chứ không thể phủi tay, coi đó như là trách nhiệm tập thể. Tôi cho rằng, không trừ trường hợp nào, đã giới thiệu phải công khai danh tính.

Chiếu với Quy định 205 thì việc dùng bằng giả để tiến thân đó cũng chính là một biểu hiện của chạy chức, chạy quyền”, ông Lê Như Tiến nhấn mạnh.

Việc tuyển dụng và kết nạp vào Đảng phải qua rất nhiều khâu nhưng thực tế ở Đắk Lắk, theo ông lê Như Tiến là đã “lọt lưới quá nhiều khâu”. “Chúng ta trách nhân sự đó đã đành nhưng ở đây tôi cho rằng có phần trách nhiệm của công tác cán bộ. Công tác tổ chức cán bộ ở đây còn quá lỏng lẻo. Thậm chí có người khi thấy những vi phạm như thế nhưng đã lờ đi bởi lý do này, lí do khác”.

Vị Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban này cũng đánh rất cao trong thời gian vừa qua có sự vào cuộc của dư luận xã hội và các cơ quan báo chí đã phanh phui ra nhiều vụ việc thậm chí là những vụ việc vi phạm pháp luật. Các cơ quan truyền thông phát hiện ra nhiều và cung cấp thông tin cho Đảng và Nhà nước. Còn cơ quan quản lý ở đây cũng có sự đáng trách khi đã không kiểm tra, phát hiện sớm vụ việc.

Trả lời báo giới về hình thức xử lý đối với những trường hợp sử dụng bằng giả nói chung, cụ thể là trường hợp nữ trưởng phòng ở Đắk Lắk, luật sư Hoàng Ngọc Biên (Phó Chủ tịch Hội đồng Kỷ luật - Khen thưởng đoàn Luật sư TP. Hà Nội) cho biết, theo thông tin từ tỉnh ủy Đăk Lăk thì người phụ nữ này chưa có bằng tốt nghiệp cấp 3 nhưng có hành vi khai báo gian dối, sử dụng giấy tờ, bằng cấp của chị gái mình để thăng quan tiến chức; đây là hành vi sai phạm, đáng bị lên án.

Có thể đánh giá hành vi của nữ trưởng phòng đã gây ra hậu quả rất nghiêm trọng cần thiết phải áp dụng hình thức kỷ luật.

“Tỉnh ủy Đắk Lắk cần phải xử lý nghiêm vụ việc trên theo quy định của Điều lệ Đảng với hình thức kỷ luật cao nhất, có thể áp dụng hình thức sa thải (đuổi việc) nữ trưởng phòng này.

Căn cứ theo Quy định 102-QĐ/TW năm 2017 về việc xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm. Trong trường hợp nữ đảng viên này có hành vi “Làm giả hồ sơ để được xét đi học, tiếp nhận, tuyển dụng vào các cơ quan, tổ chức” là thể hiện không trung thực trong kê khai lý lịch, lịch sử bản thân trong hồ sơ cán bộ công chức và lý lịch đảng viên. Vì vậy, cần áp dụng điểm d, khoản 3 Điều 11, điểm a, khoản 2 Điều 22 Quy định 102-QĐ/TW năm 2017 của Ban chấp hành Trung ương Đảng để xem xét xử lý”, Luật sư Hoàng Ngọc Biên nhấn mạnh.

Đối với những người có chức vụ, quyền hạn khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao đã có hành vi cung cấp tài liệu, tạo dựng hồ sơ xác minh không trung thực, xác nhận lý lịch vào lý lịch đảng viên mới không đúng danh tính người được kết nạp Đảng viên cho nữ trưởng phòng này, theo luật sư Ngọc Biên “nếu vì động cơ vụ lợi mà cố tình che giấu, nâng đỡ cho bà này thì cần áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 11 Quy định 102-QĐ/TW năm 2017 của Ban chấp hành Trung ương Đảng để xem xét xử lý”.

Theo đó, tỉnh ủy Đắk Lắk cần thiết phải rà soát lại quy trình công tác và bổ nhiệm của nữ trưởng phòng này, đồng thời làm rõ vai trò, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan về tính chất, mức độ vi phạm để có hình thức xử lý theo đúng quy định của Điều lệ Đảng, quy định của Ban chấp hành Trung ương khi xem xét và xử lý đối với tổ chức, cá nhân có sai phạm trong vụ việc. (Infonet.vn 14/10, N. Huyền) Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

"Quả ngọt" cải cách

Trong lúc hầu hết các quốc gia châu Á và khu vực châu Á - Thái Bình Dương tụt hạng, Việt Nam ghi được 3,5 điểm và tăng 10 bậc trên bảng xếp hạng Năng lực cạnh tranh (NLCT) toàn cầu 2019 của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF).

Chỉ số NLCT toàn cầu của Việt Nam (GCI) đã vươn lên vị trí thứ 67 trong tổng số 141 nền kinh tế được xếp hạng. Ðáng mừng là với thành tích này, WEF ghi nhận Việt Nam là quốc gia có điểm số tăng mạnh nhất toàn cầu và nằm trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương có NLCT cao nhất thế giới.

Hơn nữa, đây là lần đầu Việt Nam có hai chỉ số thành phần đạt điểm tối đa (100 điểm), gồm tỷ lệ lạm phát ổn định nhất thế giới và mức độ xảy ra khủng bố thấp nhất thế giới. Trong số 12 trụ cột được đánh giá, Việt Nam chỉ có một trụ cột giảm điểm là sức khỏe, một trụ cột giữ nguyên điểm là ổn định vĩ mô, còn lại đều tăng điểm. Xét về thứ bậc, có ba trụ cột giảm bậc nhẹ là hạ tầng, sức khỏe và hệ thống tài chính, chín trụ cột còn lại đều tăng bậc.

Ðiều gì đã làm nên ấn tượng Việt Nam trong Báo cáo GCI 2019? Theo các nhà nghiên cứu, trước hết, đó là quyết tâm cải cách thể chế kinh tế với một trong những nội dung rất quan trọng là thay đổi tư duy trong bộ máy hành chính, tháo bỏ mọi rào cản, trở ngại đang kìm hãm sức sáng tạo của người dân và doanh nghiệp (DN). Liên tục từ năm 2014 đến nay, năm nào Chính phủ cũng ban hành nghị quyết về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao NLCT quốc gia. Trong đó đặt các mục tiêu cụ thể về cải thiện thứ hạng của Việt Nam trong các báo cáo xếp hạng quốc tế và giao đầu mối cho từng bộ, ban, ngành thực hiện cũng như kiểm tra, giám sát tiến độ triển khai thực tế.

Thủ tướng cũng yêu cầu đưa nhiệm vụ cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao NLCT quốc gia trở thành tiêu chí thi đua của các địa phương. Kết quả là đã tạo được niềm tin trong xã hội về một Nhà nước kiến tạo với những nỗ lực cải cách nổi bật như cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh; thay đổi phương thức quản lý Nhà nước trong hoạt động quản lý, kiểm tra chuyên ngành từ cơ chế tiền kiểm sang hậu kiểm; đẩy mạnh Chính phủ điện tử và giao dịch không dùng tiền mặt; cải cách công tác thanh tra, kiểm tra DN; giảm chi phí của người dân và DN trong tuân thủ các thủ tục hành chính…

Bên cạnh đó, sự thăng hạng của Việt Nam cũng một phần nhờ nền kinh tế có khả năng tận dụng tốt các cơ hội từ chiến tranh thương mại để thu hút đầu tư và trở thành một trung tâm thương mại hấp dẫn hơn trong khu vực. Nắm bắt được lợi thế của tự do hóa thương mại, kết hợp tự do hóa bên ngoài cùng với tiến hành cải cách từ bên trong thông qua việc gỡ bỏ hàng loạt rào cản và giảm chi phí kinh doanh đã giúp Việt Nam biến thách thức thành cơ hội, tiếp tục vững vàng đi lên trong bối cảnh kinh tế, chính trị thế giới ngày càng bất định.

Tuy nhiên, thăng hạng đã khó, giữ duy trì được đà cải thiện vị trí trong bảng xếp hạng còn khó hơn. Nhìn lại quá trình kể từ khi WEF đưa Việt Nam vào báo cáo đánh giá mức độ cạnh tranh toàn cầu năm 2006, có thời điểm chúng ta tụt hạng liên tiếp ba năm liền do giảm cả điểm số và thứ hạng. Cũng có năm, Việt Nam tăng điểm nhưng vẫn tụt hạng do nỗ lực cải cách của chúng ta chưa thấm vào đâu so với sự vươn lên mạnh mẽ của các quốc gia khác. Ðiển hình là năm 2018, Việt Nam tăng nhẹ 0,2 điểm với ba cải cách được ghi nhận nhưng lại giảm ba bậc so với năm 2017, đứng ở vị trí 77 trong số 140.

Hiện nay, Việt Nam mới tiến đến vị trí thứ sáu trong các nước ASEAN, muốn lọt vào tốp ASEAN 4 như mục tiêu Chính phủ đặt ra còn phải trải qua chặng đường dài. Ðể tới đích, Chính phủ cần tiếp tục "giữ lửa" cải cách. Trong đó, tiếp tục đẩy mạnh cắt giảm thực chất các điều kiện kinh doanh; tập trung thực hiện cho được mục tiêu cắt giảm tỷ lệ nhóm hàng, mặt hàng phải kiểm tra chuyên ngành; đẩy mạnh thanh toán điện tử và dịch vụ công trực tuyến mức 4, góp phần giảm chi phí cho người dân, DN và công khai, minh bạch, chống tham nhũng; đẩy mạnh đổi mới sáng tạo trên tinh thần DN là trung tâm, cổ vũ cho sáng tạo... (Nhandan.com.vn 14/10, Bích Ngân) Về đầu trang./.

 

     Trung tâm Tin học - Công báo

Các tin khác

Lượt truy cập: 12.035.790 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này