Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin cải cách hành chính ngày 18/12/2019
1. Quận Long Biên, Hà Nội: Huỷ bỏ 93 quy trình nội bộ giải quyết thủ tục hành chính
2. Bộ đầu tiên phê duyệt kiến trúc Chính phủ điện tử phiên bản 2.0
3. 6/10 doanh nghiệp vẫn bị “nhũng nhiễu” về thủ tục hành chính
4. Cấp chứng nhận xuất xứ qua Cơ chế một cửa quốc gia để chống gian lận
5. Số lượng thủ tục, hồ sơ được thực hiện trên Cổng thông tin một cửa quốc gia ngày càng tăng
6. Cần Thơ điều động, bổ nhiệm loạt cán bộ chủ chốt
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
7. Cán bộ công chức sai phạm: Đa phần cán bộ đều tốt...
8. Hong Kong nghiên cứu dự luật cấm xúc phạm công chức
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Quận Long Biên, Hà Nội: Huỷ bỏ 93 quy trình nội bộ giải quyết thủ tục hành chính
Chiều 17-12, tại hội nghị giao ban báo chí do Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội tổ chức, thông tin về tình hình kinh tế - xã hội của quận Long Biên, Phó Chủ tịch UBND quận Đinh Thị Thu Hương cho biết, trong năm 2019, trên cơ sở rà soát, đánh giá, quận đã ban hành 6 quyết định huỷ bỏ 93 quy trình nội bộ giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền.
Trong số này, có 9 thủ tục về giáo dục, 62 thủ tục về lao động, thương binh và xã hội, 4 thủ tục về y tế... Bên cạnh đó, quận đã công bố, công khai 421 thủ tục hành chính, bao gồm 261 thủ tục cấp quận và 160 thủ tục cấp phường.
Năm 2019, quận Long Biên tiếp tục duy trì tốt kết quả cải cách hành chính, triển khai nhiều nội dung mới. Trong đó, quận đã ban hành bộ chỉ số đánh giá kết quả cải cách hành chính áp dụng đối với các phòng, ban của quận; xây dựng, thực hiện mô hình "Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả thân thiện, gần dân".
Quận cũng tiếp tục triển khai các mô hình sáng tạo trong tiếp nhận và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính, như: Trả kết quả tại nhà đối với một số thủ tục hành chính lĩnh vực tư pháp, lao động, thương binh và xã hội, gửi thư chúc mừng, thư chia buồn khi trả thủ tục hành chính khai sinh, đăng ký kết hôn, khai tử... Trong năm qua, tỷ lệ hồ sơ được giải quyết đúng hạn ở cấp quận đạt 99,92%; ở cấp phường đạt 99,6%.
Năm 2020, quận Long Biên xác định tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong toàn hệ thống chính trị, tập trung xây dựng và hoàn thiện mô hình "cơ quan điện tử" tiến tới "chính quyền điện tử". (Hanoimoi.com.vn 17/12, Võ Lâm) Về đầu trang
LĨNH VỰC CẢI CÁCH
Bộ đầu tiên phê duyệt kiến trúc Chính phủ điện tử phiên bản 2.0
Bộ TN&MT vừa là Bộ đầu tiên phê duyệt Kiến trúc Chính phủ điện tử phiên bản 2.0. Kiến trúc này nhằm thiết lập cơ sở, định hướng cho quá trình xây dựng Chính phủ điện tử tại Bộ TN&MT và làm cơ sở tham chiếu cho các Kiến trúc CNTT của các Sở TN&MT.
Quyết định 3196 ban hành Kiến trúc Chính phủ điện tử ngành TN&MT phiên bản 2.0 vừa được Bộ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà ký ngày 16/12/2019. Với quyết định này, Bộ TN&MT vừa là Bộ đầu tiên phê duyệt Kiến trúc Chính phủ điện tử phiên bản 2.0.
Kiến trúc Chính phủ điện tử ngành TN&MT là tài liệu mô tả chi tiết các thành phần Chính phủ điện tử của Bộ TN&MT từ Trung ương đến địa phương, kết nối, liên thông với các bộ, ngành, các tổ chức, cá nhân, khu vực, quốc tế; thể hiện việc tham chiếu, kết nối các quy trình nghiệp vụ, ứng dụng, dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật, an toàn thông tin và các thành phần khác tuân thủ Khung Kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam.
Được xây dựng nhằm thiết lập cơ sở, định hướng cho quá trình xây dựng Chính phủ điện tử tại Bộ TN&MT và làm cơ sở tham chiếu cho Kiến trúc CNTT của các Sở TN&MT địa phương, Kiến trúc Chính phủ điện tử ngành TN&MT phiên bản 2.0 sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, tăng cường công khai, minh bạch thông tin, cung cấp dịch vụ công tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp, xây dựng Chính phủ điện tử của ngành, hướng tới ngành TN&MT số, Chính phủ số và nền kinh tế số.
Mục tiêu cụ thể của Kiến trúc Chính phủ điện tử ngành TN&MT phiên bản 2.0 mới ban hành là xác định bản quy hoạch tổng thể về ứng dụng CNTT của Bộ TN&MT, trong đó có các thành phần và mối quan hệ giữa các thành phần, gắn liền ứng dụng CNTT với các hoạt động nghiệp vụ.
Định hướng và triển khai tin học hóa quy trình nghiệp vụ trong Bộ TN&MT một cách có hệ thống và thực thi chương trình cải cách thủ tục hành chính, nghiệp vụ hành chính theo hướng công khai, minh bạch để thực hiện hiệu quả, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Định hình một mô hình kết nối, liên thông, tích hợp, chia sẻ thông tin dữ liệu, tái cấu trúc cơ sở hạ tầng thông tin.
Cùng với đó, Kiến trúc cũng hướng tới mục tiêu tăng cường khả năng giám sát, đánh giá đầu tư, đảm bảo triển khai ứng dụng CNTT đồng bộ, hạn chế trùng lặp, tiết kiệm chi phí, thời gian triển khai của cơ quan, đơn vị; nâng cao tính linh hoạt khi xây dựng các thành phần, hệ thống thông tin theo điều kiện thực tế; là cơ sở xác định các thành phần, hệ thống CNTT cần xây dựng và lộ trình, trách nhiệm triển khai Chính phủ điện tử tại ngành TN&MT; đồng thời làm căn cứ đề xuất và triển khai các nhiệm vụ về ứng dụng CNTT của Bộ TN&MT.
Về lộ trình triển khai Kiến trúc Chính phủ điện tử ngành TN&MT phiên bản 2.0, Bộ TN&MT nêu rõ, việc xây dựng lộ trình triển khai dựa trên kiến trúc, trên cơ sở phân tích hiện trạng, đảm bảo đáp ứng các mục tiêu, chiến lược, chính sách phát triển, ứng dụng CNTT của Bộ.
Căn cứ Nghị quyết 17, chương trình hành động của Bộ TN&MT thực hiện Nghị quyết 17, lộ trình triển khai Kiến trúc Chính phủ điện tử ngành TN&MT được chia thành 2 giai đoạn: giai đoạn 2019 – 2020 và giai đoạn 2020 – 2025 với các mục tiêu, yêu cầu cụ thể cho từng giai đoạn đối với các nhiệm vụ xây dựng Cơ chế, chính sách; Hạ tầng, công nghệ; An toàn thông tin; Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu ngành TN&MT.
Trong đó, với giai đoạn 2019 – 2020, về cơ chế chính sách, ngành TN&MT tập trung ưu tiên việc xây dựng quy định cấu trúc các cơ sở dữ liệu của các lĩnh vực chuyên ngành, cấu trúc dữ liệu dùng chung trao đổi chia sẻ giữa các lĩnh vực, các bộ, ngành, các địa phương; hoàn thiện các quy trình kỹ thuật, định mức, đơn giá về ứng dụng CNTT trong ngành TN&MT; xây dựng các cơ chế, quy chế duy trì vận hành các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu.
Về hạ tầng, công nghệ, sẽ nghiên cứu, tiếp cận các công nghệ mới, tham gia cuộc CMCN 4.0; duy trì vận hành, xây dựng và hoàn thiện hạ tầng các Trung tâm dữ liệu của Bộ TN&MT theo hướng tập trung hóa các hệ thống CNTT của Bộ đảm bảo đủ năng lực, tính dự phòng và phân tải; tiếp tục vận hành và khai thác có hiệu quả hạ tầng tính toán lưu trữ và các dịch vụ nền tảng của Bộ TN&MT.
Đồng thời, đầu tư nâng cấp, mở rộng hạ tầng tính toán, lưu trữ đảm bảo tính kế thừa theo định hướng nền tảng công nghệ điện toán đám mây phục vụ cho quá trình chuyển đổi số trong Bộ TN&MT; triển khai nền tảng trao đổi, chia sẻ tích hợp dữ liệu; nghiên cứu xây dựng Trung tâm thông tin, dữ liệu vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Kiến trúc Chính quyền điện tử ngành TN&MT phiên bản 2.0 nhằm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, tăng cường công khai, minh bạch thông tin, cung cấp dịch vụ công tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp (Ảnh minh họa: Internet)
Cũng trong giai đoạn từ nay đến 2020, với công tác đảm bảo an toàn thông tin, Bộ TN&MT tập trung hoàn thiện xác định cấp độ và đảm bảo các phương án an toàn hệ thống thông tin cho các hệ thống CNTT của Bộ; đồng thời đầu tư, nâng cấp và hoàn thiện các giải pháp đảm bảo an toàn thông tin lớp mạng, lớp ứng dụng và các giải pháp xác thực, định danh.
Về hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, trong giai đoạn 2019 - 2020, ngành TN&MT xác định tập trung xây dựng các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu dùng chung, các dịch vụ mang tính chất nền tảng, phục vụ xây dựng, phát triển các hệ thống thông tin trong ngành; các hệ thống thông tin phục vụ hành chính nội bộ, hỗ trợ chỉ đạo điều hành; các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia có tính chất nền tảng, liên ngành, các cơ sở dữ liệu chuyên ngành đáp ứng nhu cầu chuyên môn nghiệp vụ; đồng thời cung cấp các dịch vụ công cho người dân, doanh nghiệp.
Đối với khung tham chiếu ứng dụng CNTT TN&MT cấp tỉnh, Bộ TN&MT nêu rõ nguyên tắc phải đảm bảo phù hợp với Kiến trúc Chính phủ điện tử ngành TN&MT phiên bản 2.0, với Kiến trúc Chính quyền điền tử cấp tỉnh; đồng thời phù hợp với định hướng, chiến lược ứng dụng CNTT của ngành TN&MT và địa phương. Lộ trình triển khai khung tham chiếu ứng dụng CNTT TN&MT cấp tỉnh phải tuân thủ lộ trình triển khai Kiến trúc Chính quyền điện tử ngành TN&MT phiên bản 2.0, đặc biệt là các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu có quy mô từ Trung ương đến địa phương; hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu cấp quốc gia có tính chất nền tảng, liên ngành.
Bộ TN&MT nhấn mạnh, xây dựng và duy trì kiến trúc là một quá trình liên tục. Do đó, sau khi Kiến trúc Chính phủ điện tử ngành TN&MT được phê duyệt, cần có phương án tổ chức để duy trì và vận hành. Việc này sẽ đảm bảo chất lượng của kiến trúc, khi đó kiến trúc trở thành công cụ quản lý hiệu quả trong việc tổ chức triển khai Chính phủ điện tử ngành TN&MT. (Ictnews.vn 18/12, vân Anh) Về đầu trang
6/10 doanh nghiệp vẫn bị “nhũng nhiễu” về thủ tục hành chính
Đây là số liệu khảo sát từ doanh nghiệp (DN), được đưa ra tại Hội thảo công bố Báo cáo Thực hiện Nghị quyết 02 của năm 2019 và Nghị quyết 35 năm 2016 – Góc nhìn từ doanh nghiệp, do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam – VCCI tổ chức sáng 17-12.
Theo báo cáo của VCCI, Nghị quyết 02 và 35 của Chính phủ là các Nghị quyết về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đáng chú ý, Nghị quyết 35 của Chính phủ năm 2016 đặt mục tiêu cả nước có ít nhất 1 triệu DN hoạt động vào năm 2020. Nhưng theo tính toán, nếu có thể duy trì được tốc độ tăng trưởng số DN trong 3 năm qua, từ 2015-2018 là 17,3% thì đến ngày 31-12-2020, cả nước sẽ có 984.000 DN, đạt 98,4% so với mục tiêu đề ra.
“Nếu duy trì tốc độ như trước đây, rõ ràng mục tiêu 1 triệu DN có thể không đạt được. Do vậy, năm 2020 là thời điểm tăng tốc về chuyển động của Chính phủ và địa phương. Đây là mục tiêu mà Việt Nam nên có chương trình mạnh mẽ hơn trong khoảng thời gian còn lại, cần có những biện pháp cải cách mạnh mẽ hơn rất nhiều, không chỉ về gia nhập thị trường mà còn cả các biện pháp hỗ trợ DN thì mới có thể đạt được mục tiêu đề ra” - ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế - VCCI cho biết.
Trong thời gian qua, Chính phủ đã có nhiều nỗ lực quan trọng trong việc cải cách môi trường kinh doanh của Việt Nam. Đó không chỉ là những tuyên ngôn như “Chính phủ hành động, kiến tạo” hay “lấy DN làm đối tượng phục vụ” mà đã biến thành hành động cụ thể trong các chính sách kinh tế thân thiện với DN được ban hành thực thi. Song song với các báo cáo về sự cải cách từ các bộ, ngành, địa phương, VCCI đã thực hiện riêng một báo cáo nghiên cứu độc lập để thu nhận và phản ánh cảm nhận của các DN về hiệu quả thực chất của các biện pháp trên.
“Hơn ai hết, DN là người thụ hưởng trực tiếp cải cách môi trường kinh doanh của các cơ quan nhà nước, họ là người hiểu rõ nhất sự thực chất hay chỉ là hình thức của các cải cách”, VCCI nhận định và cho biết báo cáo đánh giá thực hiện Nghị quyết 02 là một trong những sáng kiến của VCCI nhằm tăng cường tiếng nói, thúc đẩy vai trò chủ động của cộng đồng DN đồng hành với Chính phủ để cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hướng đến sự phát triển mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam.
Được biết, trong 13 báo cáo về sự thuận lợi trong kinh doanh (Doing Business) của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam có 33 cải cách được ghi nhận. Tuy nhiên, báo cáo cũng cho thấy, đang có sự cải cách không đồng đều giữa các lĩnh vực, vẫn còn tình trạng một số cơ quan cải cách một cách đối phó, hình thức. Đặc biệt, tình trạng điều kiện doanh được đưa vào luật rất chung chung gây khó khăn cho việc đảm bảo tính minh bạch, hợp lý, khả thi của quy định…
Đi vào cụ thể về chi phí thực hiện thủ tục hành chính, theo khảo sát của VCCI, có 74,7% DN cho rằng “cán bộ nhà nước giải quyết công việc hiệu quả” trong năm 2018, cao hơn mức 58% của năm 2016. Đồng thời, năm 2018 cũng có 56,9% DN cho rằng “thủ tục giấy tờ đơn giản”, tăng so với mức 49,5% của năm 2016.
Ngoài ra, các chỉ số khác về chi phí thực hiện thủ tục hành chính trong năm 2018 như: Cán bộ nhà nước thân thiện, DN không cần phải đi lại nhiều lần để lấy dấu và chữ ký, phí và lệ phí được công khai… cũng có xu hướng tích cực hơn năm 2016. Đáng chú ý là tỷ lệ DN đánh giá “các khoản chi phí không chính thức ở mức chấp nhận được” đã tăng so với năm 2017, đồng thời, tỷ lệ “các DN phải trả thêm chi phí không chính thức” cũng đã giảm, điều này cho thấy xu hướng tích cực trong việc kiểm soát tham nhũng, tham nhũng vặt có xu hướng giảm.
"Tuy giảm những vẫn còn cao, tới 58,2%, hiện tượng nhũng nhiễu khi giải quyết thủ tục hành chính cho DN còn ở mức phổ biến. Cứ 10 DN thì tới 6 DN nhận định rằng có sự nhũng nhiễu”,ông Tuấn thông tin. (Cand.com.vn 18/12, B.K) Về đầu trang
Cấp chứng nhận xuất xứ qua Cơ chế một cửa quốc gia để chống gian lận
Việc cấp chứng nhận xuất xứ chưa được thực hiện đầy đủ qua Cổng thông tin một cửa quốc gia khiến công tác quản lý gặp nhiều khó khăn và dễ nảy sinh gian lận, làm ảnh hưởng đến uy tín, lợi ích của doanh nghiệp trong nước và nền kinh tế Việt Nam.
Theo Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan)- Cơ quan Thường trực Ủy ban chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa ASEAN (ASW), Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) và tạo thuận lợi thương mại (Ủy ban 1899), từ 1/1/2018, Việt Nam đã kết nối trao đổi chứng nhận xuất xứ mẫu D điện tử (do Bộ Công Thương cấp thông qua NSW) với các nước ASEAN và đang trong quá trình trao đổi để mở rộng kết nối với các đối tác thương mại ngoài ASEAN.
Theo Bộ Tài chính, chứng nhận xuất xứ là chứng từ quan trọng liên quan quan đến thương mại hàng hóa XNK và được kết nối trao đổi với các đối tác nước ngoài. Do vậy, việc triển khai đầy đủ việc khai báo, cấp chứng nhận xuất xứ điện tử qua NSW không chỉ giúp cơ quan cấp chứng nhận xuất xứ mà cả cơ quan Hải quan có thông tin, dữ liệu phục vụ cho việc kiểm tra đánh giá, phòng chống gian lận. Đồng thời đây cũng là điều kiện cần để kết nối trao đổi thông tin theo các cam kết quốc tế.
Về thực hiện cấp chứng nhận xuất xứ qua NSW, hiện nay, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cấp giấy chứng nhận xuất xứ mẫu B đi ASEAN qua NSW từ đầu năm 2016.
Nhưng từ đó đến nay mới có 77 hồ sơ được khai báo, trong đó chỉ vỏn vẹn 2 chứng nhận được phê duyệt và cấp phép (1 trong năm 2017 và 1 trong năm 2018). Như vậy, việc cấp chứng nhận xuất xứ mẫu B đi ASEAN của VCCI qua NSW rất hạn chế.
Không những thế, thông tin cấp chứng nhận xuất xứ mẫu B đi ASEAN trong thời gian từ khi triển khai đến nay vẫn được thực hiện qua hệ thống nội bộ của VCCI hay theo hình thức khác.
Theo Bộ Tài chính, quá trình triển khai, VCCI phản ánh một số phát sinh vướng mắc và đã được Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) phối hợp với VCCI xử lý.
Mặt khác, VCCI mới thực hiện với giấy chứng nhận xuất xứ form B của hàng hóa xuất khẩu đi các nước ASEAN, chưa thực hiện với các thị trường khác ngoài ASEAN. Với trường hợp này, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) đã cung cấp dịch vụ tra cứu thông tin tờ khai để VCCI có thể tra cứu phục vụ cấp chứng nhận xuất xứ. Nhưng đến đầu tháng 12/2019, VCCI chưa phối hợp với Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) để triển khai thực hiện cho giấy chứng nhận xuất xứ mẫu B đối với hàng hóa xuất khẩu đi các nước ngoài ASEAN. Không những thế, thực hiện theo phương án này, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) sẽ không có được thông tin về quá trình cấp nên không đánh giá được rủi ro cũng như những nội dung nghiệp vụ liên quan khác.
Với việc cấp chứng nhận xuất xứ mẫu D đi ASEAN của Bộ Công Thương được thực hiện từ 2014 và tham gia trao đổi với các nước ASEAN từ ngày 1/1/2018 (qua ASW).
Đến nay, Việt Nam đã chính thức trao đổi thông tin chứng nhận xuất xứ mẫu D với 6 nước gồm: Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Brunei và Campuchia. Mặc dù việc cấp chứng nhận xuất xứ được Bộ Công Thương thực hiện một cách đẩy đủ, tuy nhiên theo yêu cầu triển khai nhanh việc kết nối NSW, Bộ Công Thương đề nghị thủ tục cấp được thực hiện theo hình thức “nhúng”, nghĩa là hồ sơ đề nghị cấp chứng nhận xuất xứ được gửi trực tiếp tới hệ thống ECOSYS (Hệ thống quản lý và cấp chứng nhận xuất xứ điện tử mức độ 4 của Bộ Công Thương-PV) và không lưu tại Cổng thông tin một cửa quốc gia.
Đến nay, Tổng cục Hải quan đã một số lần đề nghị nhưng Bộ Công Thương chưa phối hợp để chuyển đổi lại mô hình phù hợp, do đó cơ quan Hải quan không có đầy đủ dữ liệu cấp các chứng nhận xuất xứ.
Về các mẫu chứng nhận xuất xứ ưu đãi đi các thị trường khác, Bộ Công Thương chưa thực hiện cấp qua NSW. Tuy nhiên, theo yêu cầu thực hiện Chính phủ điện tử, hiện nay Bộ Công Thương có văn bản thông báo sẽ kết nối với Cổng dịch vụ công của Chính phủ để thực hiện.
Theo Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) nhằm tăng cường phòng chống gian lận xuất xứ, cần đẩy nhanh thực hiện đầy đủ việc cấp chứng nhận xuất xứ qua Cổng thông tin một cửa quốc gia để cơ quan Hải quan và cơ quan cấp chứng nhận xuất xứ có đủ thông tin phục vụ đánh giá rủi ro trong quá trình cấp và thực hiện.
Cụ thể, với VCCI, Bộ Tài chính đề nghị, thực hiện nghiêm và đầy đủ việc cấp chứng nhận xuất xứ hàng hóa không ưu đãi (qua phương thức điện tử) đi các nước ASEAN qua Cổng thông tin một cửa quốc gia. Đồng thời mở rộng cấp chứng nhận xuất xứ điện tử với thị trường ngoài ASEAN.
Với Bộ Công Thương, thực hiện chuyển đổi mô hình cấp chứng nhận xuất xứ mẫu D theo đúng mô hình thực hiện NSW và hoàn thành trước 30/9/2020.
Thực tế vừa qua, trước diễn biến phức tạp của chiến tranh thương mại giữa các nước lớn, tình hình gian lận xuất xứ hàng hóa Việt Nam diễn biến hết sức phức tạp.
Cơ quan Hải quan đã kịp thời phát hiện, xử lý không ít vụ việc hàng hóa nước ngoài “đội lốt” Made in Vietnam để xuất khẩu đi nước thứ ba hoặc tiêu thụ trong nước. (Haiquanonline.com.vn 18/12, Thái Bình) Về đầu trang
Số lượng thủ tục, hồ sơ được thực hiện trên Cổng thông tin một cửa quốc gia ngày càng tăng
Các doanh nghiệp vẫn tiếp tục đưa ra mong muốn cải thiện những khó khăn, hạn chế của thủ tục kiểm tra chuyên ngành cũng như việc thực hiện thủ tục qua Cổng một cửa quốc gia.
Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021 đã đặt nhiệm vụ cho các bộ, ngành và địa phương về việc tiếp tục cải cách toàn diện công tác quản lý, kiểm tra chuyên ngành và kết nối Cổng thông tin một cửa quốc gia.
Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết 02 năm 2019 và Nghị quyết 35 năm 2016 của Chính phủ: "Góc nhìn từ doanh nghiệp" do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thực hiện cho biết, lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hóa được đánh giá là một trong 3 lĩnh vực ít có chuyển biến nhất khi chỉ có 52% doanh nghiệp nhận thấy có sự thay đổi tích cực.
Một trong những nguyên nhân khiến lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hóa chưa được các doanh nghiệp đánh giá cao là do những vướng mắc, hạn chế của việc thực hiện thủ tục kiểm tra chuyên ngành.
Theo kết quả điều tra của VCCI, các doanh nghiệp gặp khó khăn nhiều nhất là quản lý chất lượng hàng hóa – cấp phép thuộc lần lượt các Bộ: Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Khoa học và Công nghệ, Y tế. Chỉ khoảng 15-27% doanh nghiệp đánh giá việc thực hiện các thủ tục trên là dễ hoặc rất dễ thực hiện.
Thực tế là trong năm 2019, Chính phủ đã có nhiều chỉ đạo trực tiếp và nhiều đoàn công tác kiểm tra các hoạt động kiểm tra chuyên ngành. Chính phủ đã nêu tên từng mặt hàng cụ thể, chỉ đạo biện pháp tháo gỡ, yêu cầu các bộ, ngành phải sửa đổi theo các hướng cụ thể.
Do đó, VCCI cho biết, các doanh nghiệp đều hy vọng, với những biện pháp quyết liệt như vậy, những vướng mắc trong lĩnh vực kiểm tra chuyên ngành sẽ sớm được tháo gỡ.
Cùng với việc tiếp tục cải thiện hoạt động kiểm tra chuyên ngành, Nghị quyết 02 của Chính phủ còn yêu cầu các bộ, ngành phải nghiên cứu, xây dựng giải pháp kỹ thuật kết nối đồng bộ hệ thống VNACC/VCIS và tất cả các thủ tục hành chính về quản lý, kiểm tra chuyên ngành vào Cơ chế một cửa quốc gia.
Vì thế, theo đánh giá của VCCI, các bộ ngành, trong đó Tổng cục Hải quan là cơ quan thường trực Ủy ban chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa ASEAN đã có nhiều nỗ lực để gia tăng số lượng và chất lượng kết nối các thủ tục.
Báo cáo của VCCI cho biết, các doanh nghiệp nhận xét, các thủ tục kiểm tra chuyên ngành được thực hiện trên Cổng một cửa quốc gia ngày càng nhiều, số lượng thủ tục và hồ sơ qua hệ thống một cửa ngày một tăng. Tuy nhiên, số lượng thủ tục hành chính có thể làm hoàn toàn với cấp độ 4 (hoàn toàn điện tử) chưa nhiều, đa số phải nộp kèm bản giấy.
Những doanh nghiệp thường xuyên sử dụng Cổng một cửa quốc gia thì nhận thấy, giao diện của cổng tương đối dễ hiểu, thân thiện, dễ sử dụng, nội dung đầy đủ. Tuy nhiên, với những doanh nghiệp lần đầu sử dụng thì còn thiếu những hướng dẫn thân thiện.
Hơn nữa, giai đoạn đợi để được kiểm tra hồ sơ vẫn mất nhiều thời gian. Ví dụ, thủ tục công bố mỹ phẩm phải mất từ 7-10 ngày mới có phản hồi về hồ sơ.
Đặc biệt, vấn đề nhiều doanh nghiệp quan tâm nhất là tốc độ truy cập của Cổng một cửa quốc gia, nhiều khi tốc độ tải rất chậm hoặc bị nghẽn mạng, bị từ chối truy cập hoặc chỉ tương thích với một số trình duyệt, một số máy tính. (Haiquanonline.com.vn 17/12, Hương Dịu) Về đầu trang
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
Cần Thơ điều động, bổ nhiệm loạt cán bộ chủ chốt
Chiều 17/12, UBND TP Cần Thơ tổ chức buổi trao Quyết định điều động, bổ nhiệm loạt cán bộ chủ chốt cấp TP.
Trong đó gồm 4 quyết định: điều động ông Ngô Anh Tín, Phó Chánh Văn phòng UBND TP giữ chức Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ; bổ nhiệm ông Nguyễn Thực Hiện, giữ chức Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư; điều động, bổ nhiệm ông Huỳnh Thanh Sử, Giám đốc Ban quản lý Dự án đầu tư xây dựng sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính sách TP giữ chức Chủ tịch Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa TP;
Điều động, bộ nhiệm ông Lê Văn Sơn, Chủ tịch Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa TP giữ chức Giám đốc Ban quản lý Dự án đầu tư xây dựng sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính sách TP.
Phát biểu tại Lễ trao quyết định, ông Đào Anh Dũng, Phó Chủ tịch UBND TP yêu cầu các thành viên vừa được điều động, bổ nhiệm phải thực hiện tốt việc bàn giao công việc tại cơ quan, đơn vị cũ; đồng thời khi nhận nhiệm vụ tại đơn vị mới cần chú ý rà soát quy chế làm việc, tích cực đoàn kết nội bộ, phát huy kinh nghiệm, năng lực bản thân để thực hiện tốt những nhiệm vụ UBND TP giao. (Baophapluat.vn 18/12, Hải Âu) Về đầu trang
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Cán bộ công chức sai phạm: Đa phần cán bộ đều tốt...
Rất nhiều trường hợp sau khi phát hiện cán bộ sai phạm đã tìm “cách” để biện minh cho hành vi không đúng của mình. Tuy nhiên, đa phần là cán bộ tốt, không thể nói toàn xấu cả nhưng vẫn có một số cá nhân “con sâu làm rầu nồi canh”…
Chia sẻ với Infonet về đạo đức công vụ đối với đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay, PGS.TS Ngô Thành Can, Học viện Hành chính Quốc gia cho biết, những quy định từ tác phong ứng xử hay lớn hơn là quy định về những vi phạm pháp luật, tham nhũng… trong thực thi công vụ của cán bộ, công chức đều được quy định bằng văn bản. Nếu ai vi phạm đều phải xử lý.
Đa phần cán bộ tốt, không thể nói toàn xấu cả nhưng vẫn có một số cá nhân “con sâu làm rầu nồi canh”. Theo đó, không ít những người trong thực thi công vụ ở cơ quan ứng xử với đồng nghiệp với nhân dân hống hách thậm chí nạt nộ, có người vi phạm chính sách thậm chí có trường hợp phá hoại hoặc tham nhũng. Nguyên nhân của tình trạng này, theo GS Ngô Thành Can, đó là chế tài xử lý cán bộ còn yếu.
“Khi ban hành văn bản, những cơ quan có nhiệm vụ này đều mong muốn tạo ra những chuẩn mực để đội ngũ cán bộ công chức đi vào nề nếp nhưng chế tài còn yếu.
Ví dụ, có những vi phạm xử lý chỉ mang tính chất “gãi ngứa” hoặc là xử lý rất chậm. Nếu vi phạm mà được xử lý ngay thì đâu đến mức nặng nề như vụ đất Đà Nẵng, hay vụ việc ở Thủ Thiêm (Sài Gòn)… Hầu hết những vụ việc này xảy ra từ lâu nhưng bao nhiêu năm sau mới xử lý”, GS Ngô Thành Can bày tỏ.
Nguyên nhân thứ hai, theo GS Ngô Thành Can, đó là nhiều cơ quan xử lý cán bộ sai phạm vẫn xu hướng bao che cho anh em, hoặc là lấp liếm, “đóng cửa bảo nhau”.
“Đây là những cái dở, vì thế có cán bộ có bị làm sao thì thôi 'chín bỏ làm mười'”, ông Can nói. Đặc biệt, các quy định vẫn chưa trao cho người đứng đầu được quyền xử lý cán bộ sai phạm. Nhiều khi người đứng đầu muốn xử lý phải căn cứ vào hội đồng nọ, hội đồng kia… “thành ra cũng bó chân, bó tay”. Do đó, ông Can cho rằng “hiện chúng ta có những quy định để ràng buộc nhau nhưng lại là cản trở trong trường hợp cần phải xử lý cán bộ vi phạm”.
Nguyên nhân thứ ba, theo chuyên gia về hành chính công này khẳng định đó chính là ở những người cán bộ công chức, viên chức thực thi nhiệm vụ. Có những vụ việc cán bộ lợi dụng vị trí, chức quyền để cầu lợi cho bản thân.
“Cán bộ công chức đam mê quyền lực thì cố gắng đạt được, người đam mê vật chất thì cũng tìm mọi cách, hay đam mê những thứ khác cũng cố gắng để giành được… nên nhiều khi vi phạm pháp luật”, ông Can nhấn mạnh.
Một nguyên nhân khác, theo GS Can “nói có vẻ lý thuyết” nhưng lại “hay xảy ra”. Đó là giáo dục ý thức đấu tranh với sai phạm của cán bộ công chức cũng như của người dân đối với vấn đề này chưa đạt được như kỳ vọng.
Theo đó, đồng nghiệp hay người dân thấy cán bộ vi phạm thay vì lên tiếng phản ứng, đề xuất cấp trên xử lý lại chọn cách “im lặng” thỏa hiệp với những cái xấu. Lâu dần tạo thành thói quen.
Trên thực tế, văn hóa công vụ ngoài những giá trị mà cán bộ công chức có trách nhiệm xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch và hiệu quả thì bản thân những cán bộ trong bộ máy phải tuân thủ pháp luật. Trước hết cán bộ, công chức phải tuân thủ pháp luật.
Do đó, đối với vụ việc Chánh án “mây mưa” với kế toán tại phòng làm việc gây xôn xao dư luận gần đây ở Quảng Bình, hay vụ cán bộ xã đánh bạc tại trụ sở ủy ban, vụ Thượng úy công an ném xúc xích vào nhân viên bán hàng, rồi cả nữ Đại úy công an náo loạn tại sân bay, thậm chí có trường hợp quỵt tiền của lái xe, đánh nhân viên hoặc có người quát nạt, coi thường người khác… đều vi phạm nghiêm trọng đạo đức công vụ.
“Đáng ngại là rất nhiều trường hợp sau đó tìm “cách” để biện minh cho hành vi không đúng của mình. Đó là việc Chánh án quan hệ bất chính với cấp dưới thì đổ lỗi do “say rượu”. Thậm chí có trường hợp bị bắt quả tang ăn cắp thì lại đi xin giấy chứng nhận “tâm thần”.... Đó là những trường hợp xin lòng thương của nhân dân, xin lòng thương của cấp trên, xin lòng thương của những người sẽ xử lý kỷ luật mình. Những cán bộ này lòng tự trọng đã ở mức rất thấp”, GS Ngô Thành Can bày tỏ.
Đặc biệt đối với trường hợp Chánh án ở Quảng Bình, GS Ngô Thành Can cho rằng, cần phải xem xét kỹ, không thể để một người cầm cân nẩy mực, thạo về pháp luật lại lợi dụng nó như là thứ vũ khí cầu lợi cho mình.
Theo ông, đến lúc chúng ta cần có chế tài đủ mạnh để làm trong sạch đội ngũ cán bộ trong nền hành chính công. Theo đó, những người không hoàn thành nhiệm vụ, những người vi phạm nên ra ngoài công vụ.
“Giống như lực lượng vũ trang, nếu anh vi phạm thì cho phép tự viết đơn xin ra khỏi ngành, hoặc sẽ cho ra khỏi ngành… Tôi nghĩ đối với nền hành chính công vụ cũng cần sử dụng biện pháp này để làm trong sạch hơn đội ngũ cán bộ. Quan trọng hơn, biện pháp này cũng mang tính răn đe, để người khác nhìn vào, lấy đó như bài học … Nếu anh vi phạm, anh sẽ bị loại khỏi nền công vụ”, GS Ngô Thành Can nhấn mạnh. (Infonet.vn 17/12, N. Huyền) Về đầu trang
TIN THẾ GIỚI
Hong Kong nghiên cứu dự luật cấm xúc phạm công chức
Cục An ninh Hong Kong gần đây đã hoàn thành nghiên cứu dự luật nhằm tìm cách điều chỉnh hành vi của công dân đối với các quan chức thành phố.
Không lâu sau khi chính quyền Hong Kong thất bại trong việc cấm người biểu tình sử dụng khẩu trang, một đề xuất mới liên quan đến nhóm đối tượng này đã được gửi tới các nhà lập pháp.
Người đứng đầu Sở Dân sự Joshua Law Chi-kon hôm thứ Hai thông báo rằng Cục An ninh đã hoàn thành nghiên cứu về dự luật cấm người dân xúc phạm các công chức, bao gồm cả các sĩ quan cảnh sát.
Dự luật này hiện đang được chuyển sang Bộ Tư pháp Hong Kong và các cơ quan khác để tham khảo ý kiến, ông Law cho biết sẽ không đặt thời hạn cụ thể để nghiên cứu dự luật.
Tuy nhiên, bà Ann Chiang Lai-wan thuộc Hội đồng Lập pháp Hong Kong, kêu gọi các nhà lập pháp cân nhắc về đề xuất này trước khi kết thúc nhiệm kỳ vào tháng 7 năm 2020, bà tin rằng lệnh cấm xúc phạm sẽ mang lại sự tôn trọng cho các công chức Hong Kong.
Tuy nhiên, nhiều thành viên Đảng Dân chủ, như ông Lam Cheuk-ting cho rằng động thái này sẽ tạo thêm căng thẳng giữa công chúng và chính quyền Hong Kong.
Ông Lam chỉ ra rằng các điều khoản hiện tại không chỉ được nêu trong Pháp lệnh Trật tự công quyền, vốn trao quyền cho cảnh sát thực thi luật pháp trên đường phố, mà cảnh sát sẽ không chịu trách nhiệm về hành vi của chính họ đối với người dân, dự luật mới có thể khiến tình hình trỏe nên thêm phức tạp.
Các cuộc thảo luận xung quanh dự luật cấm xúc phậm công chức diễn ra khi các cuộc biểu tình bạo lực ở Hong Kong đang có xu hướng giảm dần còn Đặc khu trưởng Carrie Lam đã có chuyến thăm tới Bắc Kinh trong tuần này.
"Tình hình ở Hong Kong năm 2019 đang trong lúc phức tạp và khó khăn nhất kể từ khi trở về đại lục", Chủ tịch Tập Cận Bình chia sẻ trong cuộc gặp mặt và Carrie Lam. "Chính phủ trung ương hoàn toàn công nhận sự can đảm và trách nhiệm mà bà đã thể hiện trong những thời điểm đặc biệt này ở Hong Kong". (Ngaynay.vn 18/12, Huy Vũ) Về đầu trang./.
Trung tâm Tin học - Công báo
- Bản tin cải cách hành chính ngày 17/12/2019 (19/12/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 16/12/2019 (19/12/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 13/12/2019 (13/12/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 12/12/2019 (12/12/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 11/12/2019 (11/12/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 10/12/2019 (10/12/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 09/12/2019 (09/12/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 06/12/2019 (06/12/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 05/12/2019 (06/12/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 04/12/2019 (04/12/2019)

