Bản tin cải cách hành chính ngày 06/8/2020

15:21, Thứ Sáu, 7-8-2020

Xem với cỡ chữ : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. Đẩy mạnh dịch vụ trực tuyến trong bối cảnh dịch bệnh

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

2. Khánh Hòa: Doanh nghiệp hài lòng với cải cách của cơ quan thuế

3. Đấu thầu các dự án giao thông qua mạng ở Khánh Hòa: Hiệu quả nhiều mặt!

4. Cần Thơ: Cải cách thủ tục hành chính mạnh mẽ hơn nữa

5. Thanh Hoá: Nâng cao chất lượng xử lý văn bản, hồ sơ công việc trên môi trường điện tử

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

6. Thống nhất quy trình kiểm soát chi kho bạc cấp tỉnh: Nỗ lực cải cách của hệ thống kho bạc

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

7. Bảo vệ vị trí công tác của người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức

8. Cần loại những công chức “ngồi nhầm chỗ, giao sai việc”

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

9. Còn nhiều khoảng trống

TIN THẾ GIỚI

10. New Zealand bảo đảm lương công bằng cho phụ nữ

         

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Đẩy mạnh dịch vụ trực tuyến trong bối cảnh dịch bệnh

Với đặc điểm hạn chế việc tiếp xúc trực tiếp nơi đông người, hệ thống dịch vụ công trực tuyến đang được xem là phương tiện hữu hiệu giúp người dân giảm bớt nỗi lo lây lan dịch bệnh Covid-19 khi cần giải quyết các thủ tục hành chính.

Theo Cục Kiểm soát thủ tục hành chính (Văn phòng Chính phủ), tính đến cuối tháng 7, đã có 875 thủ tục hành chính cung cấp dịch vụ công trực tuyến trên Cổng dịch vụ công quốc gia (DVCQG); hơn 204 nghìn tài khoản đăng ký, tăng hơn 26 nghìn tài khoản so với tháng trước và hơn 53 triệu lượt truy cập tìm hiểu thông tin và thực hiện dịch vụ. Đã có trên 12,6 triệu hồ sơ đồng bộ trạng thái để phục vụ tra cứu, theo dõi, giám sát, đánh giá quá trình giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính; trên 226 nghìn hồ sơ thực hiện trực tuyến từ Cổng DVCQG… Đặc biệt, tính riêng trong tháng 7/2020, Cổng DVCQG đã xử lý 3.316 giao dịch thanh toán trực tuyến phí, lệ phí, đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện, gia hạn thẻ bảo hiểm y tế và thu phạt giao thông.

Một thông tin được người dân và doanh nghiệp quan tâm trong tháng 8 này đó là dịch vụ công thứ 1.000 về đăng ký ô tô, xe máy trực tuyến và demo trải nghiệm dịch vụ này trên thực tiễn dự kiến sẽ được công bố vào ngày 15/8. Như vậy, người dân, doanh nghiệp có thể ngồi một chỗ đăng ký ô tô, xe máy, nộp thuế trước bạ... không phụ thuộc thời gian, không phụ thuộc địa giới hành chính. Không chỉ công bố dịch vụ đăng ký ô tô, xe máy qua mạng, các dịch vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp, bệnh nghề nghiệp...cũng sẽ lên Cổng DVCQG và người dân có thể ở nhà làm một cú kích chuột có thể thực hiện thủ tục hành chính mà không cần mất công đến cơ quan công quyền.

Theo Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng: Trong bối cảnh dịch Covid-19 hoành hành gây nhiều hệ lụy, việc vận hành Cổng DVCQG cho thấy tính ưu việt của giao dịch trực tuyến trong lĩnh vực hành chính và dịch vụ công. Theo đó, người dân, doanh nghiệp không phải đến tận trụ sở cơ quan nhà nước hoặc đơn vị sự nghiệp công, tiếp xúc trực tiếp với cán bộ giải quyết; chỉ cần lập một tài khoản trên Cổng DVCQG là có thể giải quyết thủ tục hành chính (TTHC), sử dụng dịch vụ công ở nhiều bộ, ngành, địa phương khác nhau. “Đây chính là giải pháp góp phần thực hiện giãn cách xã hội, giảm tiếp xúc trực tiếp, giảm nguy cơ lây lan dịch bệnh trong cộng đồng”- Bộ trưởng nhấn mạnh.

Trước diễn biến ngày càng phức tạp của dịch Covid-19, trong các cuộc họp gần đây, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thường xuyên nhắc tới việc cần rà soát, cắt giảm hoặc đơn giản hóa TTHC nhiều hơn cho người dân, doanh nghiệp.

Liên quan đến nội dung này, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng cho hay: Với mục tiêu xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo, hành động, phục vụ, yêu cầu rà soát, cắt giảm hoặc đơn giản hóa TTHC là sợi chỉ đỏ xuyên suốt công tác chỉ đạo, điều hành của Thủ tướng Chính phủ từ đầu nhiệm kỳ tới nay. Trong bối cảnh dịch Covid-19 có diễn biến ngày càng phức tạp, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới cả sức khỏe cộng đồng lẫn phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội, yêu cầu rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa TTHC và đẩy mạnh thực hiện TTHC, cung cấp dịch vụ công trực tuyến càng trở nên cấp thiết hơn. Bởi vậy, trong hầu hết các cuộc họp chỉ đạo công tác phòng, chống dịch Covid-19, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đều nhấn mạnh yêu cầu này.

Đánh giá về kết quả vận hành Cổng DVCQG, Bộ trưởng nhận định có thể coi là đã đạt được kế hoạch đề ra, nhưng vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ, của các cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan và của người dân, doanh nghiệp.

Cụ thể: Chưa thực hiện đồng bộ trạng thái hồ sơ giải quyết TTHC; đôi khi việc gửi, nhận hồ sơ trực tuyến đến các bộ, địa phương còn chưa thông suốt do chậm xử lý kỹ thuật đường truyền; một số bộ, ngành còn chậm công bố, công khai TTHC, dẫn tới địa phương cũng phải chậm công bố, công khai TTHC trong lĩnh vực đó… Những vấn đề này cần nhanh chóng tháo gỡ để thu hút người dân ngày càng sử dụng nhiều hơn dịch vụ công trực tuyến. (Đại đoàn kết 06/8, Nguyên Khánh)Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Khánh Hòa: Doanh nghiệp hài lòng với cải cách của cơ quan thuế

Cục Thuế Khánh Hòa luôn chú trọng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý thuế. Đồng thời, Cục thuế cũng tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, rõ ràng, minh bạch, nhằm tạo thuận lợi, giảm chi phí thời gian cho doanh nghiệp và người nộp thuế; giải đáp kịp thời những kiến nghị của người nộp thuế trong quá trình thực thi pháp luật thuế.

Trao đổi với phóng viên về công tác cải cách thủ tục hành chính (TTHC) thuế trên địa bàn, ông Lương Văn Ngà – Cục trưởng Cục Thuế Khánh Hòa cho biết, để công tác cải cách TTHC thuế đi vào trọng tâm, mang lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp (DN) và người nộp thuế (NNT), cục thuế đã phát động phong trào thi đua đến tất cả cán bộ, công chức trong toàn đơn vị; lấy kết quả, hiệu quả công tác cải cách TTHC là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và đánh giá công chức, đảng viên hàng năm.

“Cụ thể, chúng tôi đã đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, 100% DN trên địa bàn thực hiện kê khai thuế điện tử; tỷ lệ DN nộp thuế điện tử đạt tối thiểu 95%; số tiền thuế được nộp bằng phương thức điện tử đạt tối thiểu 95%; tỷ lệ số hồ sơ đề nghị hoàn được giải quyết đúng hạn đạt tối thiểu 95%; tối thiểu 95% hồ sơ hoàn thuế GTGT được nộp và trả kết quả qua mạng...” - ông Ngà nói.

Ông Ngà cho biết thêm, đơn vị cũng đặt mục tiêu đảm bảo 100% các văn bản, tài liệu chính thức của cơ quan thuế với các cơ quan hành chính trong tỉnh được trao đổi trên môi trường mạng và ứng dụng chữ ký số thực hiện dưới dạng văn bản điện tử trên phần mềm E-Office; 100% cán bộ, công chức sử dụng hệ thống thư điện tử công vụ, phần mềm  E-Office; phần mềm quản lý thuế (TMS)..., trong công việc bảo đảm dữ liệu phục vụ hầu hết các hoạt động trong cơ quan.

Đại diện Cục Thuế Khánh Hòa cho biết, đến nay hầu hết các mục tiêu đơn vị đặt ra trong công tác cải cách TTHC đều hoàn thành và hoàn thành vượt mục tiêu. Cụ thể, tính đến thời điểm hiện tại, 100% DN đang hoạt động trên địa bàn đã thực hiện kê khai thuế qua mạng; tỷ lệ DN nộp thuế điện tử hàng tháng đạt trên 96%; 100% số hồ sơ đề nghị hoàn thuế được giải quyết bằng phương thức điện tử…

Cũng tính đến thời điểm hiện tại, 80% số TTHC thuế trên địa bàn được cung cấp dịch vụ trực tuyến ở mức độ 3, mức độ 4; 100% hồ sơ trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 được tiếp nhận giải quyết thành công; 100% yêu cầu hỗ trợ của NNT được thực hiện đúng pháp luật, đúng thời gian quy định…

Ông Lương Xuân Thu - Trưởng phòng Tuyên truyền hỗ trợ NNT, Cục Thuế Khánh Hòa cho biết, việc phải thực hiện biện pháp giãn cách xã hội để phòng chống dịch Covid-19 trong những tháng đầu năm đã ảnh hưởng khá lớn đến công tác tuyên truyền pháp luật thuế. Tuy nhiên, bộ phận tuyên truyền khắc phục khó khăn, thực hiện tuyên truyền pháp luật thuế đến NNT dưới nhiều hình thức đa dạng như: gửi thư điện tử, nhắn tin sms, sử dụng mạng xã hội facebook, zalo, viber... ông Thu nhấn mạnh. (Thoibaotaichinhvietnam.vn 05/8, Văn Tuấn)Về đầu trang

Đấu thầu các dự án giao thông qua mạng ở Khánh Hòa: Hiệu quả nhiều mặt!

Theo lãnh đạo Sở Giao thông vận tải Khánh Hòa, từ nhiều năm nay, đơn vị đã áp dụng hình thức đấu thầu các gói xây lắp của dự án giao thông qua mạng. Hình thức này góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu, tạo môi trường cạnh tranh công bằng, minh bạch và tiết kiệm thời gian, chi phí, giảm thiểu thủ tục hành chính...

“Trước đây, thói quen lựa chọn nhà thầu trực tiếp tốn nhiều thời gian và thủ tục rườm rà, trong khi hiệu quả lại chưa cao. Từ năm 2016 đến nay, sở đã thay đổi thói quen và nhận thức của các bên liên quan, khuyến khích chọn nhà thầu qua mạng. Việc tổ chức lựa chọn nhà thầu qua mạng góp phần cải cách thủ tục hành chính, tăng cường hiệu quả kinh tế, giảm thiểu các vấn đề tiêu cực trong đấu thầu, tạo nhiều thuận lợi cho chủ đầu tư, nhà thầu, rút ngắn thời gian đấu thầu... Sau khi có kết quả đấu thầu, sở tổ chức họp thẩm định năng lực của nhà thầu để bảo đảm giao thầu đúng, trúng. Các nhà thầu trúng thầu đều bảo đảm về chất lượng, năng lực tổ chức thi công”, ông Nguyễn Văn Dần - Giám đốc Sở Giao thông vận tải cho biết.

Thực tế, từ năm 2016 đến nay, thông qua đấu thầu công khai rộng rãi qua mạng đối với các gói thầu xây lắp, sở đã tiết kiệm cho ngân sách hơn 50 tỷ đồng; đặc biệt, trong 3 năm 2018 - 2020, bình quân giảm thầu các gói xây lắp gần 20% so với giá trị dự toán. Thời gian tổ chức lựa chọn nhà thầu cũng giảm bình quân khoảng 3 - 5 ngày, nhân sự tham gia tổ chức lựa chọn nhà thầu, thủ tục và chi phí hành chính, chi phí đi lại giảm… Vốn kết dư từ công tác đấu thầu đã giúp sở triển khai sửa chữa hàng chục tuyến đường bị hư hỏng nặng, xuống cấp trên địa bàn tỉnh. Gần đây nhất, có thể kể đến tuyến Tỉnh lộ 3 (qua TP. Nha Trang và huyện Cam Lâm), đây là tuyến hư hỏng nhiều năm qua nhưng do vướng dự án nâng cấp mở rộng nên không thể đưa vào sửa chữa lớn.

Tuy nhiên, do tính cấp bách cần phải đảm bảo an toàn giao thông, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đi lại nên sở đã dùng vốn dư từ đấu thầu qua mạng để sửa chữa tuyến đường này. Dự án đã hoàn thành và đưa vào khai thác. Hoặc như cầu tràn Thác Ngựa trên tuyến Tỉnh lộ 8B (huyện Khánh Vĩnh), năm 2019, do mưa lũ, taluy tràn và đường dẫn cầu bị sạt lở, gây nguy hiểm, mất an toàn cho người tham gia giao thông. Sở đã dùng vốn kết dư để đầu tư sửa chữa công trình này. Tính riêng trong năm 2019, vốn kết dư từ đấu thầu công khai qua mạng được gần 3 tỷ đồng.

Bên cạnh mặt tích cực, hình thức đấu thầu qua mạng cũng gặp một số khó khăn nhất định. Hiện nay, hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, dung lượng hồ sơ mời thầu và hồ sơ dự thầu bị hạn chế dẫn đến khó khăn trong việc đính kèm hồ sơ của các gói thầu xây lắp, gây trở ngại cho người sử dụng. Ngoài ra, vẫn còn một bộ phận nhà thầu chưa thực sự quen với hình thức này. Tuy nhiên, với những kết quả đã đạt được, lãnh đạo Sở Giao thông vận tải cho biết, thời gian tới, đơn vị sẽ tiếp tục triển khai sâu rộng việc đấu thầu các gói xây lắp qua mạng, nâng cao hiệu quả, tiết kiệm cho ngân sách. (Baokhanhhoa.vn 05/8, Thành Nam)Về đầu trang

Cần Thơ: Cải cách thủ tục hành chính mạnh mẽ hơn nữa

Tài nguyên và Môi trường, Công Thương, Bổ trợ Tư pháp và Hành chính Tư pháp là những lĩnh vực có số lượng lớn tổ chức, công dân liên hệ giải quyết thủ tục hành chính (TTHC). Tại buổi giám sát về công tác cải cách hành chính vào cuối tháng 7-2020, Ban Pháp chế - HĐND TP Cần Thơ nêu rõ quá trình thực hiện TTHC thuộc các lĩnh vực này vẫn còn một số hạn chế, gây phiền hà cho người dân. Vì vậy, cần có những giải pháp đẩy mạnh cải cách TTHC hơn nữa...

Theo bà Nguyễn Phương Thủy, Phó Trưởng Ban Pháp chế, các sở, ngành lĩnh vực TN&MT, Công Thương, Bổ trợ Tư pháp và Hành chính Tư pháp thường xuyên rà soát, đánh giá TTHC theo quy định. Ðồng thời, chủ động nghiên cứu các giải pháp, sáng kiến cắt giảm thời gian giải quyết hồ sơ tại cơ quan, đơn vị; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, tích hợp các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 đạt kết quả cao. Ðiển hình như Sở Công Thương có 100% hồ sơ giải quyết TTHC được thực hiện thông qua hệ thống thông tin một cửa điện tử. Số hồ sơ tiếp nhận qua Cổng dịch vụ công mức độ 3, 4 tính đến tháng 5-2020, đạt 62,57% (8.464/13.521 hồ sơ), trong khi kế hoạch là từ 20% trở lên. Sở này đã tích hợp 60,3% các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 lĩnh vực Công Thương (73/121 TTHC) với Cổng dịch vụ công quốc gia, trong khi tỷ lệ cần là 30%.

Ở lĩnh vực Bổ trợ Tư pháp và Hành chính Tư pháp, điểm sáng là 100% hồ sơ giải quyết đúng hẹn. Công tác rà soát, kiểm tra trình UBND thành phố phương án đơn giản hóa TTHC được thực hiện thường xuyên, đảm bảo. Sở Tư pháp TP Cần Thơ có sáng kiến liên thông nội bộ TTHC giữa cấp phiếu lý lịch tư pháp với 9 thủ tục liên quan đến luật sư, công chứng, hành chính tư pháp. Sở đang trình UBND thành phố dự thảo Quy chế phối hợp liên ngành về giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trên địa bàn thành phố. Hay như lĩnh vực TN&MT có số TTHC thực hiện tiếp nhận và trả kết quả trực tiếp là 105 thủ tục, trong đó có 94 TTHC tiếp nhận và trả kết quả qua dịch vụ bưu chính công ích, 61 TTHC được giải quyết theo cơ chế một cửa liên thông.

Bên cạnh đó, các sở, ngành còn đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, áp dụng ISO, ban hành những quy định về phương thức, lề lối làm việc, nâng cao chất lượng phục vụ người dân.

Tại buổi giám sát của Ban Pháp chế, các đại biểu nêu rõ, tại Sở TN&MT, số hồ sơ giải quyết trễ hẹn khá cao, việc thực hiện xin lỗi công dân cũng chưa đầy đủ. Bà Cao Thị Minh Thảo, Phó Giám đốc Sở TN&MT thành phố, chia sẻ khó khăn do hồ sơ đất đai cần thời gian đo đạc, thẩm định; việc chuyển hồ sơ tại Văn phòng Ðăng ký đất đai chi nhánh các quận, huyện lên thành phố cũng cần thời gian. Lãnh đạo Văn phòng Ðăng ký đất đai TP Cần Thơ cho rằng, khó khăn hiện nay là biên chế mỗi chi nhánh tại quận, huyện chỉ có 3-5 người, trong khi để giải quyết hồ sơ đất đai phải qua nhiều khâu, từ đo đạc thực địa, đến thẩm định và hoàn tất các thủ tục, vì vậy viên chức làm việc rất vất vả.

Ông Ðinh Trung Trực, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQVN TP Cần Thơ, kể câu chuyện một gia đình phải đi lại 3 lần để làm hồ sơ đất đai nhưng vẫn chưa xong. Một số đại biểu khác cũng chia sẻ câu chuyện tương tự khi đích thân đi làm giấy tờ đất đai và rất hiếm khi được trả kết quả đúng hẹn. Từ những phản ánh trên, bà Cao Thị Minh Thảo, Phó Giám đốc Sở TN&MT thành phố, cho biết: Ban Giám đốc Sở sẽ làm việc với các Chi nhánh Văn phòng Ðăng ký đất đai các quận, huyện để chấn chỉnh, khắc phục tình trạng hồ sơ trễ hẹn.

Ở lĩnh vực Công Thương, báo cáo của Ban Pháp chế chỉ ra rằng số lượng hồ sơ tiếp nhận qua dịch vụ bưu chính công ích rất thấp so với các dịch vụ bưu chính khác, chỉ chiếm 0,016% (184/10.977 hồ sơ). Hay như Sở Tư pháp tuy có triển khai dịch vụ bưu chính công ích và dịch vụ công trực tuyến thuộc lĩnh vực Bổ trợ Tư pháp, Hành chính Tư pháp nhưng chưa phát sinh hồ sơ. Các sở, ngành vẫn còn tình trạng chậm tham mưu trong việc xây dựng quy trình điện tử giải quyết TTHC tại phần mềm của hệ thống thông tin một cửa điện tử trên cơ sở quy trình nội bộ được phê duyệt. Ngoài ra, các đơn vị còn chậm và chưa chủ động đề xuất các TTHC thực hiện liên thông, việc ứng dụng công nghệ thông tin thiếu sự đồng bộ và chia sẻ, kết nối liên thông, đặc biệt giữa thành phố với các bộ, ngành.

Ông Nguyễn Văn Vinh, Trưởng Ban Pháp chế, lưu ý các cơ quan cần nghiên cứu đề ra những giải pháp đẩy mạnh cải cách TTHC bởi đây là nội dung được thành phố quan tâm chỉ đạo thực hiện. Các sở, ngành phải phối hợp chặt chẽ trong thực hiện nhiệm vụ liên quan đến công tác cải cách hành chính. Ðối với lĩnh vực TN&MT, ngành cần sớm có giải pháp khắc phục tình trạng giải quyết hồ sơ trễ hẹn cho người dân; thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức nhằm phục vụ người dân tốt hơn. (Baocantho.com.vn 06/8, Quốc Thái)Về đầu trang

Thanh Hoá: Nâng cao chất lượng xử lý văn bản, hồ sơ công việc trên môi trường điện tử

UBND tỉnh Thanh Hóa vừa có công văn về việc khắc phục các hạn chế, yếu kém trong việc tạo lập, trao đổi, xử lý và ký số văn bản, hồ sơ công việc trên môi trường điện tử.

Theo báo cáo của Sở Thông tin và Truyền thông Thanh  Hóa, hiện vẫn còn một số cơ quan, đơn vị chưa quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành, chưa ban hành Quy định, Kế hoạch, đăng ký chứng thư số. Ngoài ra còn một số khó khăn, vướng mắc như: phiên bản phần mềm tại các cơ quan, đơn vị còn nhiều tính năng chưa phù hợp, hoạt động chưa ổn định; hệ thống trang thiết bị công nghệ thông tin (CNTT) tại một số cơ quan, đơn vị đã xuống cấp; trình độ CNTT của một số cán bộ, công chức còn hạn chế, khó khăn trong việc sử dụng các phần mềm dùng chung của tỉnh.

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên, UBND tỉnh yêu cầu giám đốc các Sở, Thủ trưởng các ban, ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố, các cơ quan, đơn vị chưa ban hành Quy chế, Kế hoạch, đăng ký chứng thư số để triển khai tiếp nhận, xử lý văn bản điện tử, khẩn trương ban hành; kiểm điểm trách nhiệm tập thể, cá nhân trong việc chậm trễ thực hiện Chỉ thị số 15/CT-UBND của Chủ tịch UBND tỉnh; gửi về Văn phòng UBND tỉnh, Sở Thông tin và Truyền thông tổng hợp, báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh trước ngày 17-8-2020.

Bên cạnh đó, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo UBND cấp xã chuẩn bị tốt các điều kiện, đảm bảo từ ngày 1-9-2020 trở đi 100% văn bản, hồ sơ công việc của cấp xã được trao đổi, tạo lập, xử lý, ký số trên môi trường điện tử; Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND tỉnh về kết quả triển khai thực hiện, các chỉ tiêu được giao của UBND cấp xã; Phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông để giải quyết các khó khăn, vướng mắc, đề xuất trong việc xử lý, ký số văn bản trên môi trường điện tử.

Văn phòng UBND tỉnh theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở các đơn vị không thực hiện các nhiệm vụ được giao; không tiếp nhận, tham mưu xử lý văn bản, hồ sơ bằng giấy của các sở, ban, ngành và UBND cấp huyện; trả lại các văn bản, hồ sơ thực hiện chưa đúng quy trình, quy định; báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh theo quy định.

Sở Nội vụ theo dõi, tổng hợp, chấm điểm đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ của các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố; báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh. (Baothanhhoa.vn 06/8)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Thống nhất quy trình kiểm soát chi kho bạc cấp tỉnh: Nỗ lực cải cách của hệ thống kho bạc

Thống nhất quy trình kiểm soát chi tại Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh đã được Kho bạc Nhà nước chuẩn bị từ năm 2019 và coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của năm 2020. Hiện nay, mô hình giao dịch viên chuyên sâu đã được khách hàng là các đơn vị sử dụng ngân sách đón nhận và phản hồi tốt. Quy trình nghiệp vụ mới này tỏ ra an toàn, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính của Chính phủ.

Với mục tiêu sắp xếp tinh gọn đầu mối quản lý và nâng cao hiệu lực hiệu quả của hệ thống Kho bạc Nhà nước (KBNN), tạo điều kiện thuận lợi để tin học hóa, đẩy mạnh triển khai dịch vụ công trực tuyến; KBNN triển khai mô hình giao dịch viên chuyên sâu đối với mô hình cấp tỉnh.

Theo đó phòng kiểm soát chi thực hiện kiểm soát thanh toán đối với chi đầu tư, chi ban quản lý dự án của các dự án đầu tư; phòng kế toán nhà nước thực hiện toàn bộ việc kiểm soát chi thường xuyên. Mỗi khoản chi ngân sách nhà nước (NSNN) sẽ được giao dịch viên phòng kiểm soát chi/kế toán nhà nước thuộc KBNN tỉnh thực hiện tất cả các khâu của quy trình kiểm soát, thanh toán từ tiếp nhận hồ sơ, kiểm soát chi, hạch toán kế toán, thanh toán, trả kết quả cho đơn vị giao dịch.

Để đảm bảo việc triển khai mô hình cấp tỉnh được thuận lợi, đáp ứng đúng mục tiêu, yêu cầu và lộ trình đề ra, công tác chuẩn bị tổ chức triển khai thống nhất quy trình kiểm soát chi NSNN thuộc KBNN cấp tỉnh đã được KBNN chuẩn bị từ năm 2019 và đưa vào nhiệm vụ trọng tâm năm 2020. Theo đó, KBNN đã hoàn thiện cơ chế chính sách với định hướng cải cách tin học hóa đẩy mạnh triển khai dịch vụ công trực tuyến (DVCTT). Cụ thể, KBNN đã xây dựng dự thảo nghị định quy định thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực KBNN, rà soát các thủ tục hành chính theo hướng cải cách, đơn giản hóa và phù hợp với cơ chế chính sách mới, tạo thuận lợi cho các đơn vị, cá nhân trong quá trình giao dịch với KBNN.

Đồng thời, quy trình phân định rõ trách nhiệm của KBNN và đơn vị sử dụng ngân sách trong từng khâu kiểm soát thanh toán các khoản chi NSNN qua KBNN; thực hiện chỉnh sửa các mẫu biểu cho phù hợp với định hướng cải cách tin học hóa đẩy mạnh triển khai DVCTT như mẫu bảng thanh toán tiền lương, bảng kê chứng từ thanh toán... Theo đó, Chính phủ ký ban hành Nghị định số 11/2020/NĐ-CP quy định các thủ tục hành chính trong lĩnh vực KBNN; KBNN trình Bộ Tài chính ký ban hành Thông tư số 62/2020/TT-BTC ngày 22/6/2020 hướng dẫn kiểm soát, thanh toán các khoản chi thường xuyên từ NSNN qua KBNN.

Trên cơ sở mô hình cấp tỉnh đã được lãnh đạo KBNN phê duyệt và ý kiến tham gia của các KBNN địa phương, ngay từ đầu năm 2019, KBNN đã nghiên cứu cải cách quy trình nghiệp vụ kiểm soát chi NSNN theo hướng chuyên sâu áp dụng mô hình Giao dịch viên để thống nhất với mô hình cấp huyện đã thực hiện từ tháng 6/2018 (chỉ có 3 công chức tham gia vào quy trình). Giao dịch viên phòng kiểm soát chi, phòng kế toán nhà nước thuộc KBNN tỉnh thực hiện tất cả các khâu của quy trình kiểm soát thanh toán từ tiếp nhận hồ sơ, kiểm soát cam kết chi, kiểm soát chi, hạch toán kế toán, thanh toán... trả kết quả cho đơn vị giao dịch.

Việc thực hiện như trên đã đáp ứng yêu cầu đơn giản hoá quy trình, giảm bớt các bước trung gian, các đầu mối thực hiện, không phải thực hiện bàn giao, luân chuyển chứng từ giữa phòng kiểm soát chi và phòng kế toán nhà nước. Theo đó, giảm thời gian kiểm soát chi, giảm tải cho hệ thống TABMIS khi giảm được lượng người trong 1 dây/luồng/cây xử lý của một bút toán phù hợp với việc áp dụng công nghệ thông tin, triển khai dịch vụ công điện tử tiến tới hình thành quy trình kiểm soát chi điện tử.

Trung tuần tháng 6 vừa qua, KBNN đã ban hành quy trình thí điểm giao dịch và luân chuyển hồ sơ, chứng từ các khoản chi NSNN tại KBNN cấp tỉnh kèm theo Quyết định số 3077/QĐ-KBNN của Tổng giám đốc KBNN. Quy trình triển khai thí điểm được KBNN Hải Phòng và KBNN Thái Nguyên đánh giá hoạt động ổn định, phân định rõ trách nhiệm các công chức tham gia phê duyệt hồ sơ chứng từ, không có nhiều lỗi phát sinh, các vướng mắc được đội hỗ trợ của KBNN giải quyết kịp thời. Sau thời gian triển khai thí điểm, KBNN hoàn thiện quy trình và ban hành quyết định để KBNN tỉnh, thành phố triển khai mô hình cấp tỉnh từ ngày 1/7/2020.

Việc thực hiện mô hình giao dịch này, công chức kho bạc có điều kiện tập trung cho công việc, thực hiện nghiệp vụ chuyên sâu. Chỉ trong tuần đầu thí điểm, kết quả tại KBNN Thái Nguyên đã chứng minh hiệu quả. Tại đây, đã tiếp nhận, xử lý thành công hơn 2.600 chứng từ và thanh toán gần 1.200 tỷ đồng. Quy trình thí điểm vận hành ổn định, vướng mắc phát sinh được giải quyết kịp thời. Đến thời điểm này, sau 1 tháng triển khai trên diện rộng, tại nhiều kho bạc cấp tỉnh đã nhận được sự đồng thuận từ khách hàng. (Thoibaotaichinhvietnam.vn 05/8, Minh Anh)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Bảo vệ vị trí công tác của người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức

Mới đây, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư quy định chi tiết về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, biện pháp bảo vệ vị trí công tác của người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức.

Về hưu đã nhiều năm, nhưng đến nay ông Hoàng Quang Trung vẫn chưa hết bức xúc. Lý do là bởi 3 nội dung mà ông tố cáo liên quan đến việc chi tiêu sai nguyên tắc tại Ban Chỉ huy Quân sự huyện Lộc Bình, Lạng Sơn có 2 nội dung đúng, 1 nội dung đúng một phần. Nhưng sau đó chính ông sau đó cũng bị kỷ luật khiển trách. Và đây cũng là lý do ông không được thăng quân hàm theo quy định.

Ông Hoàng Quang Trung - nguyên Phó Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự huyện Lộc Bình, Lạng Sơn cho hay: "Đã có kết luận tôi tố cáo đúng nhưng cấp trên vẫn đè tôi ra kỷ luật với lý do là thiếu tinh thần trách nhiệm, gây mất đoàn kết trong đơn vị. Cái nữa là thực hiện không nghiêm cơ chế dân chủ ở cơ sở".

Những chuyện bị trù dập như ông Trung không phải là hiếm. Nhiều trường hợp còn có biểu hiện tinh vi hơn như điều chuyển hay không bố trí công việc. 8 năm qua, đã có hơn 5.000 người tố cáo, trong đó nhiều người là công chức, viên chức có yêu cầu được bảo vệ.

Theo Thông tư về bảo vệ vị trí công tác của người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức vừa ban hành, từ nay người tố cáo sẽ không bị kỷ luật. Vị trí công tác của những người đấu tranh với tiêu cực cũng được bảo vệ bằng nhiều biện pháp.

Theo ông Vũ Đăng Minh - Chánh Văn phòng Bộ Nội vụ: "Thứ nhất ta khẳng định được là các vị trí công việc, việc làm của người khiếu nại tố cáo cần được bảo vệ. Thứ hai, trong quá trình người khiếu nại tố cáo đó mà cơ quan có thẩm quyền bảo vệ thì ta có quy định cụ thể đó là không được điều động công tác. Thứ ba, quy định rất rõ không được xem xét kỷ luật trong thời gian thực hiện bảo vệ đối với người tố cáo".

Ông Phạm Trọng Đạt - nguyên Cục trưởng Cục Chống tham nhũng, Thanh tra Chính phủ - cho biết: "Lần này nó quy định rõ ràng hơn, cụ thể hơn về trách nhiệm quyền lợi của người tố cáo. Cũng là quy định mang tính hành lang pháp lý một cách rõ ràng cho từng cơ quan một phải bảo vệ người tố cáo như thế nào. Nghĩa là phải khuyến khích được người tố cáo và hai là xử lý cho được người lợi dụng cái này gây mất đoàn kết, làm mất danh dự cho cơ quan, tổ chức".

Sẽ không còn chuyện kỷ luật cũng không còn chuyện điều động, biệt phái, chuyển đổi vị trí việc làm đối với người tố cáo gây bức xúc xã hội. Với quy định vừa ban hành, chắc chắn người dân sẽ yên tâm hơn trong cuộc đấu tranh với tham nhũng tiêu cực. (Kênh VTV1 – Thời sự 19h ngày 05/8)Về đầu trang

Cần loại những công chức “ngồi nhầm chỗ, giao sai việc”

Ngày 5-8, Bộ Nội vụ tổ chức cuộc hội thảo khoa học về chủ đề “Phát triển nhân lực hành chính nhà nước”.

“Làm gì thì làm, yếu tố con người có vai trò rất quan trọng” - Thứ trưởng Bộ Nội vụ Trần Anh Tuấn nhấn mạnh trong lời phát biểu khai mạc. “Tuy nhiên, gần 20 năm cải cách hành chính nhà nước, chúng ta tập trung vào cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính mà quên mất yếu tố rất quan trọng là con người!” - Thứ trưởng Tuấn nói.

Theo ông Tuấn, từ việc xây dựng thể chế, trình cấp có thẩm quyền ban hành hay tổ chức bộ máy, quản lý tài chính công..., suy cho cùng con người đều giữ vai trò quyết định. “Chúng ta nói “cơ chế một cửa” nhưng liên quan đến con người nên vẫn sinh ra một cửa nhiều khóa, nhiều ngách” - ông Tuấn nói.

Ông Tuấn cũng đánh giá thời gian qua, việc tinh giản biên chế chưa thực hiện triệt để, chỉ tinh giản số người nghỉ hưu, cắt biên chế trong kế hoạch hoặc số chuyển công tác ra khỏi khu vực công. Cạnh đó, việc đánh giá, phân loại, đưa những người không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, không đủ năng lực thực thi công vụ hoặc không đảm bảo sức khỏe vào diện tinh giản biên chế chưa được thực hiện đúng theo tinh thần tinh giản biên chế.

“Nhân lực hành chính thiếu vẫn thiếu, thừa vẫn thừa. Thiếu những người làm việc được và thừa những người không làm việc được” - ông Tuấn nói thêm.

“Những vấn đề liên quan đến nguồn nhân lực hiện vẫn là khâu yếu nhất của nền hành chính quốc gia” - TS Nguyễn Đình Quyền, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nhận xét.

Với hai cuộc cải cách hành chính trong hai thập niên qua, ông Quyền đánh giá bộ máy cồng kềnh vẫn… cồng kềnh, biên chế vẫn nhiều, hiệu lực, hiệu quả thấp, đặc biệt là kỷ luật, kỷ cương công vụ không nghiêm.

Trong phát biểu của mình, ông Quyền đặc biệt quan tâm tới vấn đề kỷ luật, kỷ cương công vụ, bởi đây đang là “phần yếu nhất của khâu yếu nhất”. Ông nhấn mạnh kỷ luật, kỷ cương công vụ cần phải được thực hiện ở mọi khâu của hoạt động hành pháp, từ việc tuyển dụng, phân công nhiệm vụ, đánh giá cán bộ, lấy phiếu tín nhiệm, bổ nhiệm…

Nguyên viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp cũng nhắc tới phương châm “đúng vai, thuộc bài” mà Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhiều lần đề cập và cho rằng còn tình trạng ngồi sai vị trí, giao sai nhiệm vụ, sai chức năng, sai thẩm quyền… thì không thể bảo đảm được kỷ luật, kỷ cương công vụ.

“Bằng cách này hay cách khác, để duy trì vị trí, chỗ ngồi, nhất là sự tồn tại của mình, chức vụ của mình, những người này buộc phải vi phạm, phá bỏ những kỷ luật, kỷ cương công vụ” - ông Quyền khẳng định.

Nhắc tới Chỉ thị số 16/CT-TTg năm 2016 của Thủ tướng về tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính nhà nước, ông Quyền đề nghị cần tiếp tục rà soát để loại ra khỏi nền hành chính nhà nước những công chức, viên chức yếu kém về năng lực, thiếu trách nhiệm, không hoàn thành nhiệm vụ. Hay nói cách khác là những người ngồi không đúng chỗ, được giao không đúng nhiệm vụ, quyền hạn, nhất là thẩm quyền trong thực thi nhiệm vụ, công vụ.

Nêu quan điểm tại hội thảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ Văn Tất Thu cho rằng “mọi vấn đề nằm ở chính sách”. Ông Thu cho rằng cần phải có chế độ tiền lương và đãi ngộ thỏa đáng, tương thích với thành tích, cống hiến để cán bộ, công chức an tâm làm việc, không phải lo đến đời sống vật chất hằng ngày.

Theo ông, chừng nào đội ngũ cán bộ, công chức có một chính sách lương ở mức trung bình khá trở lên, khi đó chúng ta mới kỳ vọng họ có được khát vọng vươn lên để đề cao trách nhiệm, đạo đức và văn hóa công vụ…

“Ở nhiều nước, ngoài chế độ tiền lương, công chức còn có chế độ nhà ở và các phúc lợi khác khi yêu cầu họ thực thi công vụ và phục vụ người dân tốt hơn. Tại sao chúng ta không nghĩ đến việc này mà loay hoay mãi trong cải cách tiền lương? Trong khi cải cách tiền lương của chúng ta không giải quyết được bài toán đặt ra hiện nay” - ông Thu nêu vấn đề.

Trong khi đó, PGS-TS Nguyễn Văn Thạo, nguyên trợ lý Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, cũng đánh giá “đội ngũ cán bộ, công chức đông nhưng không mạnh”. “Nhà nước chỉ mất tiền lương nuôi thôi cũng đã là gánh nặng với dân” - ông Thạo bình luận.

Theo ông Thạo, nhức nhối lớn hiện nay là tình trạng phá hoại của một bộ phận cán bộ, gây bức xúc xã hội. “Chưa nói đến những cá nhân không được rèn luyện, chọn không đúng người, với cơ chế này, nhiều người tốt cũng không giữ được mình, ai muốn giữ mình thì bị văng ra. Nếu một tập thể mạnh thì giữ được mình, còn tập thể yếu, thủ trưởng không nghiêm túc, người nào không “nhập hội” sẽ bị văng ra” - ông Thạo cho hay.

Ông Thạo phân tích giữa thể chế và phẩm chất đạo đức cán bộ, về lâu dài vẫn là thể chế phải có trước. Thể chế tốt thì người tốt vào phát huy được, người xấu vào không thể làm việc bậy bạ. Tuy nhiên, thể chế của ta hoàn thiện quá chậm, chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm không rõ, làm cũng được, không làm cũng được.

“Tiền lương không phải nguồn thu nhập chính của cán bộ, công chức. Bây giờ vì sao người ta thích làm cán bộ, công chức, vì có phần ngoài lương, thậm chí bổng nhiều hơn lương. Còn nếu chỉ có lương thì không ai thích vào cả” - ông Thạo khẳng định. (Plo.vn 06/8, Đức Minh)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Còn nhiều khoảng trống

đại biểu Quốc hội Nguyễn Mai Bộ (An Giang) nêu ý kiến về Dự thảo Luật Cư trú (sửa đổi) hiện đang được tiếp thu, chỉnh lý: “Theo tôi, có mấy vấn đề phải tiếp tục hoàn thiện. Về mặt nguyên tắc để quản lý cư trú của người nước ngoài gần như bị bỏ trống.

Tất nhiên phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật mới chỉ điều chỉnh về cư trú của công dân Việt Nam nhưng giả sử câu chuyện công dân Việt Nam mang hai quốc tịch, trong đó có một quốc tịch Việt Nam thì quản lý cư trú của đối tượng này như thế nào? - Cả dự thảo Luật này gần như bỏ trống. Cho nên vừa qua, báo chí phản ánh việc người nước ngoài nhờ người Việt Nam mua đất ở những khu trọng yếu về an ninh quốc phòng. Đây cũng là một câu chuyện cần nghiên cứu.

Tiếp đó, Khoản 9 Điều 7 chỉ cấm hành vi thuê và cho thuê giấy tờ cư trú. Vậy bây giờ tôi cho mượn thì sao? Cho nên bản chất vấn đề ở đây là cấm việc sử dụng giấy tờ cư trú của người khác hoặc cho người khác sử dụng giấy tờ cư trú, dùng từ “thuê” và “cho thuê” là không bao hàm hết các trường hợp. Điều 8 quy định “Công dân có quyền được cấp giấy tờ xác nhận về cư trú theo yêu cầu chính đáng của mình”, kết hợp với câu chuyện bỏ sổ hộ khẩu.

Tôi cũng tin tưởng Bộ Công an đánh giá kỹ chuyện này rồi nhưng ở đây có một câu chuyện khi đi xin học cho con đúng tuyến, trái tuyến hay nhiều giao dịch nữa mà yêu cầu công dân lấy xác nhận cư trú, trong khi nếu bỏ sổ hộ khẩu thì nguy cơ phát sinh ra một thủ tục hành chính mà dân sẽ thường xuyên phải đến cơ quan công quyền để xin xác nhận. Tôi đang rất e ngại câu chuyện này, đề nghị Bộ Công an phải tính tới. Hơn nữa để đồng bộ với hạ tầng cơ sở trong môi trường giáo dục, đặc biệt là các lớp đầu cấp đi xin học ồ ạt thì liệu cơ sở giáo dục của chúng ta có bảo đảm để theo dự thảo Luật Cư trú này không?

Bên cạnh đó, đề nghị nghiên cứu tiếp Điều 9 về các trường hợp bị hạn chế quyền tự do cư trú. Khoản 1 điều này quy định “người bị cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú” nhưng ở khoản 2 lại quy định “bị can, bị cáo đang tại ngoại”. Thực ra khoản 1 “nấp” trong khoản 2 rồi, trường hợp đang tại ngoại tức là không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tạm giữ, cấm đi khỏi nơi cư trú hay đặt tiền để bảo đảm… Quy định như vậy chưa ổn lắm.

Điều 20 quy định về câu chuyện được cấp “Giấy xác nhận khai báo cư trú” theo quy định tại khoản 2 thì ở đây lật lại một điểm nữa để thấy rằng câu chuyện thủ tục hành chính phát sinh sẽ là rất nhiều và sẽ gây rất nhiều bất cập cho người dân khi chúng ta bỏ sổ hộ khẩu. Tôi nghĩ sổ hộ khẩu có giá trị của nó. Liệu khi chúng ta thay bằng thẻ Căn cước công dân thì có giải mã được toàn bộ như trong sổ hộ khẩu không? Sổ hộ khẩu ở đây không phải là chúng ta ngăn chặn không cho dân vào nội thành nội đô hay chuyển tỉnh, nhưng như trong câu chuyện Covid hiện nay thì rõ ràng để khoanh vùng dập dịch thì giá trị của hộ khẩu, đăng ký quản lý hộ khẩu là rất cao.

Điều 21 điều kiện đăng ký thường trú, đề nghị nghiên cứu xem có mâu thuẫn với Khoản 3 Điều 10 và Khoản 11 Điều 12 không. Về nội hàm là mâu thuẫn và chưa giải quyết được câu chuyện hiện nay rất nhiều người đặc biệt ở khu vực Hà Nội hầu như có hai nhà, một nhà ở Hà Nội và một nhà ở địa phương khác; thậm chí ngay tại Hà Nội thì có nhà quận này, nhà quận kia. Như cạnh nhà tôi có một gia đình có một căn hộ ở đây nhưng đồng thời có nhà trên Thái Nguyên, họ là lao động tự do, nửa thời gian ở Hà Nội, nửa thời gian lại ở dưới địa phương thì câu chuyện quản lý cư trú như thế nào? Đăng ký một nơi nhưng ở một nơi thì câu chuyện thực hiện nghĩa vụ trách nhiệm một công dân như thế nào? 

Một vấn đề nữa là điều kiện đăng ký cũng chưa đề cập tới câu chuyện phạm nhân khi kết thúc thời hạn thi hành án phạt tù ở Khoản 2 Điều 2. Chúng ta biết khi kết thúc thi hành án phạt tù thì bao giờ cũng được cấp giấy ra trại. Vậy giá trị của giấy ra trại này để làm hộ khẩu thường trú ở nơi nào đấy thì dự thảo Luật chưa lường tới. Bên cạnh đó, nếu khi người ra tù bị áp dụng biện pháp quản chế hoặc biện pháp cấm cư trú thì câu chuyện lồng ghép này dự thảo Luật chưa lường tới. Tôi đề nghị nghiên cứu tiếp và ở Điều 23 bổ sung câu chuyện của giấy ra tù cho đồng bộ.

Điều 28 về điều kiện đăng ký tạm trú có hai khoản. Tôi không hiểu rằng quy định hai khoản thì đòi hỏi một người phải có đủ điều kiện của cả hai khoản hay chỉ cần một điều kiện?

Rõ ràng quy định của dự thảo Luật về tính minh bạch của quy phạm là chưa rõ dẫn tới sau này chúng ta áp dụng sẽ tương đối khó. (Đại biểu nhân dân 06/8)Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

New Zealand bảo đảm lương công bằng cho phụ nữ

Sau khi Quốc hội New Zealand thông qua dự luật Trả lương công bằng sửa đổi, phụ nữ nước này giờ đây được hưởng lợi nhiều hơn vì những đóng góp của mình tại nơi làm việc, thay vì bị đánh giá thấp hơn trong lực lượng lao động mà họ thống trị.

Luật Trả lương công bằng sẽ tạo ra khung thương lượng pháp lý cho người lao động để đưa ra yêu cầu được trả lương công bằng với chủ lao động. Văn bản trên nhận được sự ủng hộ của cả Hội đồng Công đoàn lẫn BusinessNZ - nhóm vận động lớn nhất cho doanh nghiệp ở đất nước Kiwi. Được biết, hai tổ chức trên đã tích cực vận động vào năm ngoái để luật được điều chỉnh. Đây cũng chính là điều mà nhiều người chờ đợi từ lâu.

Theo Bộ trưởng Bộ Phụ nữ Julie Anne Genter, New Zealand có lịch sử lâu đời về việc trả lương cho lực lượng lao động do nữ làm chủ ít hơn lực lượng lao động do nam giới làm chủ. Vì vậy, “để giải quyết vấn đề này, chúng ta cần phải soạn thảo lại các quy định để phụ nữ được hỗ trợ và có quyền đàm phán trả lương công bằng cho cùng một giá trị công việc”.

Năm 2014, Kristine Bartlett, nhân viên chăm sóc người già tại Nhà dưỡng lão Terranova Home, đã kiện Terranova Home ra tòa để yêu cầu phải trả lương công bằng cho những công việc có giá trị ngang nhau. Cô cho rằng mình bị trả lương thấp vì công việc chăm sóc chủ yếu do phụ nữ thực hiện. Vụ án Bartlett đã được đưa lên Tòa án Tối cao và cuối cùng được tòa ra phán quyết rằng cô đã bị trả lương thấp do phân biệt giới tính. Sau đó, Chính phủ vào cuộc và đàm phán thỏa thuận với các công đoàn có liên quan nhằm tránh hành động pháp lý tiếp theo. Từ đó, tiền lương của 55.000 người, chủ yếu là phụ nữ, làm việc trong lĩnh vực chăm sóc người cao tuổi, dịch vụ hỗ trợ người khuyết tật và dịch vụ hỗ trợ tại nhà đã được tăng lên.

Như vậy, quyết định khởi kiện của Kristine đã tạo ra con đường mới giúp giải quyết các yêu cầu đòi trả lương công bằng, đồng thời là bước ngoặt đối với New Zealand. Bởi nó mở rộng việc áp dụng Luật Trả lương công bằng từ mức lương tương đương cho cùng công việc, thành mức lương tương đương cho công việc có giá trị tương đương.

Chính phủ liên minh của Công đảng, sau khi dẹp dự luật tương tự của chính quyền trước vào năm 2017, đã giới thiệu dự luật Trả lương công bằng của riêng mình vào năm 2018. Tháng trước, chính phủ sửa đổi dự luật, cho phép các công đoàn đưa ra yêu cầu trả lương công bằng cho các thành viên và chuyển những yêu cầu này đến với nhiều chủ lao động. Và giờ đây, khi được thông qua, nó đã trở thành “cột mốc vô cùng quan trọng” như lời Bộ trưởng Julie Anne Genter.  (Đại biểu nhân dân 06/8, Linh Anh)Về đầu trang./.

 

Trung tâm Tin học - Công báo

Các tin khác

Lượt truy cập: 12.026.444 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này