Bản tin cải cách hành chính ngày 14/11/2022

15:50, Thứ Ba, 15-11-2022

Xem với cỡ chữ : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1.        Hà Nội: Bước cải cách đột phá đáp ứng chính quyền đô thị

2.        Chính thức sử dụng nền tảng Công dân số - My Portal phục vụ dịch vụ công trực tuyến ở Đà Nẵng

3.        Thừa Thiên- Huế và Thái Nguyên chia sẻ kinh nghiệm thực hiện Đề án 06

4.        Quảng Ninh: Cải cách hành chính, phục vụ tốt người dân, doanh nghiệp

5.        Công an Vĩnh Long thực hiện nhiều giải pháp cải cách hành chính

6.        Trà Vinh: Hiệu quả thực hiện dịch vụ công trực tuyến cấp hộ chiếu phổ thông không gắn chíp điện tử 

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

7.        Cải thiện môi trường kinh doanh: Thông tư, công văn vẫn là “điểm nghẽn”

8.        BHXH Việt Nam lấy người dân làm trung tâm gắn với số hóa

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

9.        Bộ Nội vụ nêu 5 trường hợp không được thực hiện tinh giản biên chế

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN

10.     “Nghe sửa Luật Đất đai, dân mừng lắm!”

 

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Hà Nội: Bước cải cách đột phá đáp ứng chính quyền đô thị

Chủ tịch UBND TP Hà Nội vừa ký ban hành Quyết định về "Đề án mô hình Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) hiện đại các cấp”. 

Đề án được cán bộ, công chức (CBCC) các địa phương đánh giá sẽ kịp thời giải quyết những tồn tại hiện nay và xây dựng một quy chuẩn chung, đồng bộ cho bộ phận một cửa (BPMC) các cấp, gắn với đẩy mạnh chuyển đổi số và thay đổi tích cực trong tác phong, quy trình làm việc nhằm chuẩn hóa theo mô hình chính quyền đô thị, song cũng cần được khắc phục những hạn chế bất cập từ thực tế triển khai để đạt hiệu quả cao nhất trong phục vụ người dân. 

Thời gian qua, Hà Nội đã triển khai đạt kết quả đáng ghi nhận trong công tác cải cách hành chính, cải cách TTHC, với điểm Chỉ số cải cách hành chính (CCHC) năm 2021 nằm trong top 10 tỉnh, TP có điểm chỉ số cao. Tuy nhiên, TTHC trên nhiều lĩnh vực như đất đai, quản lý tài chính, đầu tư công, nội vụ, lao động, việc làm, y tế, giáo dục, hộ tịch… còn nhiều rào cản. Cơ sở vật chất, trang thiết bị, hạ tầng BPMC các cấp mới cơ bản dừng ở mức đáp ứng yêu cầu tối thiểu, chưa đạt tiêu chuẩn hiện đại, như diện tích và không gian giao tiếp một số nơi hạn chế; trang thiết bị nhiều nơi thiếu, hỏng… 

Để khắc phục tình trạng đó và xây dựng một quy chuẩn chung, đồng bộ cho BPMC các cấp trên địa bàn TP hiện đại với bản sắc, thương hiệu và yêu cầu thiết kế nội, ngoại thất, biển hiệu, trang phục, biển tên, giao diện… gắn với ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) là yêu cầu cấp thiết; đồng thời, được TP xác định là một nhiệm vụ trọng tâm về chuyển đổi số, CCHC, đổi mới việc thực hiện một cửa, một cửa liên thông trong các năm tiếp theo. 

Đề án triển khai sẽ góp phần tạo lập thương hiệu BPMC hiện đại đồng bộ toàn TP, hình thành môi trường làm việc thống nhất, văn minh; làm thay đổi thái độ, trách nhiệm của CBCC viên chức trong thực thi công vụ, hướng tới nền hành chính phục vụ; giúp cơ quan hành chính Nhà nước có quan tâm đầu tư đồng bộ, nâng cao chất lượng giải quyết TTHC; thay đổi thói quen, cách nhìn của người dân trong mối liên hệ với cơ quan hành chính khi muốn giải quyết TTHC. 

Trong đó, TP thống nhất thực hiện sử dụng Bộ nhận diện thương hiệu theo quy chuẩn chung về màu sắc, kích cỡ, tên gọi trên các ứng dụng điện tử, ứng dụng văn phòng, trang phục và các thiết kế khác tại BPMC và hệ thống thông tin giải quyết TTHC TP; đẩy mạnh ứng dụng CNTT, công khai tiến độ giải quyết hồ sơ, nâng cao tính chuyên nghiệp của CBCC tại BPMC thông qua các dịch vụ công trực tuyến... 

Theo nhiều cán bộ cơ sở, việc thực hiện Đề án có thuận lợi khi đến thời điểm này, Hà Nội đã đề xuất phân cấp, ủy quyền 700 TTHC, đạt 39,17% tổng số TTHC cấp TP và cấp huyện, trong khi Thủ tướng chỉ giao 20%; đồng thời, nhiều đơn vị đã có sáng kiến trong giải quyết TTHC để tiết kiệm thời gian, chi phí cho cá nhân, tổ chức, cơ quan Nhà nước: Mô hình “Ngày thứ sáu xanh”, “Ngày thứ ba không viết, không giấy hẹn”, “Các TTHC không chờ”… 

Lãnh đạo UBND phường Hàng Trống (quận Hoàn Kiếm) chia sẻ, việc UBND phường thực hiện “Các TTHC không chờ” đã giúp người dân không phải đi lại nhiều lần, từ đó Đề án lần này với những đổi mới được áp dụng chắc chắn sẽ giúp BPMC hoạt động hiệu quả hơn, mang lại phấn khởi cho người dân. (Kinh tế & Đô thị 14/11, Linh Chi)Về đầu trang

Chính thức sử dụng nền tảng Công dân số - My Portal phục vụ dịch vụ công trực tuyến ở Đà Nẵng

Sau thời khiển khai thí điểm nền tảng Công dân số - My Portal, ngày 12/9, Đà Nẵng chính thức đưa vào sử dụng tại địa chỉ: https://congdanso.danang.gov.vn/; https://myportal.danang.gov.vn và tích hợp trên ứng dụng DaNang Smart City sử dụng cho di động vào phục vụ dịch vụ công trực tuyến. 

Nền tảng Công dân số sẽ là nơi thu nhận, lưu trữ, cung cấp hồ sơ công dân số (thông tin hành chính, giấy tờ/dữ liệu số, lịch sử các giao dịch gắn với định danh duy nhất) và tích hợp các dịch vụ số từ chính quyền, doanh nghiệp để người dân sử dụng dịch vụ công dễ dàng, thuận lợi (thông qua việc kế thừa lại thông tin/dữ liệu trước đó, sử dụng dịch vụ qua mạng hoàn toàn theo hướng cá nhân hoá), đồng thời, người dân cũng được tự quản lý các thông tin, dữ liệu số của mình. 

Theo Sở TT&TT TP Đà Nẵng, nền tảng Công dân số Đà Nẵng đang cung cấp một số tính năng cho người dân như: Đăng ký tài khoản công dân số; dịch vụ, tiện ích của các cơ quan chính quyền (thực hiện dịch vụ công trực tuyến; khảo sát/đánh giá mức độ hài lòng; góp ý/phản ánh; đăng ký lịch, hẹn giờ khám chữa bệnh/giao dịch hồ sơ hành chính;…); dịch vụ, tiện ích từ doanh nghiệp (gồm: tra cứu thông tin điện, nước; thông tin xe lịch trình xe buýt;…); tra cứu thông tin sức khỏe, giáo dục, thuế, bảo hiểm xã hội; quản lý hồ sơ công dân số (gồm: kho dữ liệu số; lịch sử giao dịch hồ sơ…) 

Để sử dụng, người dân chỉ cần cài đặt ứng dụng DaNang Smart City, hoặc truy cập vào địa chỉ website: https://onelink.to/danangsmartcity trên thiết bị di động, sau đó đăng ký tài khoản công dân số. 

Sau khi tạo tài khoản, mỗi người dân sẽ có 1 mã QR theo chuẩn quốc gia, đại diện cho các thông tin được mã hóa, để sử dụng trong các giao dịch dịch vụ công trực tuyến. 

Thông tin của người dân sẽ được bảo mật theo mô hình 4 lớp do Bộ TT&TT quy định, xác thực đăng nhập sử dụng qua giải pháp bảo mật OTP, đảm bảo an toàn về việc quản lý dữ liệu công dân điện tử. 

Để thúc đẩy quá trình hình thành công dân số, nhằm phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số, Đà Nẵng đã áp dụng triển khai theo 2 nhóm, gồm cơ quan, tổ chức và người dân, doanh nghiệp. 

Đối với các cơ quan, tổ chức, Đà Nẵng đề nghị các đơn vị này yêu cầu cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên của mình sử dụng nền tảng Công dân số để đăng ký, mới hoặc cập nhật thông tin, dữ liệu Hồ sơ công dân số cho bản thân và các thành viên gia đình. 

Đối với người dân, doanh nghiệp, TP Đà Nẵng đề nghị UBND quận, huyện, phường, xã tập trung triển khai, đặc biệt, thông qua Tổ công nghệ số cộng đồng trực tiếp hướng dẫn, hỗ trợ từ người dân trên địa bàn đăng ký mới, hoặc cập nhật thông tin, dữ liệu Hồ sơ công dân số và sử dụng trong đời sống hằng ngày. 

Hàng tháng, các cơ quan thống kê kết quả để cung cấp, báo cáo Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số TP, từ đó, có định hướng phát triển. 

Với việc triển khai nền tảng Công dân số - My Portal, Đà Nẵng là một trong những địa phương đầu tiên thiết lập các kho dữ liệu riêng cho từng người dân. Các loại dữ liệu số được người dân cập nhật và lưu trữ trên Hệ thống gồm giấy tờ cá nhân như: chứng minh nhân dân, căn cước công dân, hộ chiếu, giấy phép lái xe, giấy khai sinh,... và các giấy tờ thành phần hồ sơ khi người dân nộp thủ tục dịch vụ công và kết quả giải quyết dịch vụ công. 

Khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến, người dân không phải khai báo lại, hoặc không nộp thêm thành phần hồ sơ đã có trong kho dữ liệu. 

Nền tảng Công dân số Đà Nẵng là giải pháp tốt để nâng cao chất lượng, hiệu quả trong cung cấp dịch vụ công trực tuyến phục vụ người dân; hướng đến hình thành công dân số, phát triển xã hội số tại TP Đà Nẵng. 

Tính đến cuối tháng 9/2022, nền tảng Công dân số - My Portal đã có hơn 242.732 tài khoản công dân số, 4.886 tài khoản sử dụng dịch vụ, tiện ích và cung cấp 1.837 dịch vụ công trực tuyến, 25 tiện ích, 321 thông báo cho người dân sử dụng. 

Đà Nẵng hiện đang cung cấp 1.745 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4, đạt 100% dịch vụ công đủ điều kiện lên mức độ 4; tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến có phát sinh hồ sơ trực tuyến đạt 82%; tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt 62%. (Viettimes.vn 13/11, Hồ Xuân Mai)Về đầu trang

Thừa Thiên- Huế và Thái Nguyên chia sẻ kinh nghiệm thực hiện Đề án 06

Tỉnh Thừa Thiên-Huế đã tháo gỡ được những khó khăn qua đợt thực tế làm việc, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm thực hiện Đề án "Phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số Quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030" (Đề án số 06) tại tỉnh Thái Nguyên vào đầu tháng 11/2022. 

Tại buổi làm việc mới đây, ông Nguyễn Thanh Bình, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên cho biết, liên quan đến tình hình triển khai thực hiện Đề án 06 trên địa bàn, tỉnh đã kiện toàn Tổ công tác thực hiện Đề án, ban hành quyết định về quy chế hoạt động của Tổ công tác; thành lập tổ công tác thực hiện Đề án tại 9 đơn vị cấp huyện, 178 đơn vị cấp xã và 2.245 tổ công tác tại các tổ dân phố, thôn, xóm. 

Sau khi được Chính phủ bổ sung là đơn vị điểm triển khai thực hiện Đề án, lãnh đạo tỉnh đã làm việc với các sở, ngành để khảo sát, đánh giá về hạ tầng, phần mềm và các ứng dụng hiện đang triển khai, với các nội dung: hệ thống dịch vụ công, một cửa; triển khai tiện ích phát triển kinh tế - xã hội, công dân số và chỉ đạo, điều hành; công tác làm sạch dữ liệu. 

Về kết quả thực hiện, đến nay, tỉnh Thái Nguyên đã có 11/11 dịch vụ công của Công an tỉnh, 11/14 dịch vụ công của các sở, ngành được hoàn thành; trên 1.200 thủ tục hành chính tại 3 cấp ở mức độ 4 được đưa lên Cổng dịch vụ công quốc gia và Cổng dịch vụ công cư trú; tiếp nhận và giải quyết trên 58.000 hồ sơ trên Cổng dịch vụ công theo đúng quy định… 

Tại Thừa Thiên-Huế, ông Nguyễn Thanh Bình, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh cho biết, thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án 06, tỉnh đã huy động tổng thể các lực lượng tổ chức triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp và bước đầu đạt được những kết quả quan trọng. Đến nay, số thủ tục hành chính đã cung cấp dịch vụ công trực tuyến trên Cổng dịch vụ công (DVC) quốc gia là 1.541 thủ tục. Toàn tỉnh đã triển khai 22/25 dịch vụ công thiết yếu của Đề án 06 (trong đó, hồ sơ cư trú tiếp nhận, giải quyết qua Cổng DVC đạt tỷ lệ 53.6%). 

Theo lãnh đạo Công an tỉnh Thừa Thiên-Huế, Công an các cấp đang tiếp tục duy trì, thực hiện quyết liệt các giải pháp "làm sạch" dữ liệu dân cư bảo đảm "đúng, đủ, sạch, sống" cho 347.680 hộ, 1.372.267 nhân khẩu thường trú trên địa bàn tỉnh. Số công dân trong độ tuổi đã được cấp thẻ căn cước công dân (CCCD) đạt 94.14%; đã thu nhận, cấp 101.049 hồ sơ tài khoản định danh điện tử mức độ 2 cho công dân.  Việc thực hiện đối sánh, làm sạch dữ liệu dân cư với cơ sở dữ liệu về chế độ chính sách, an sinh xã hội, y tế, bảo hiểm, hộ tịch... được ngành Công an và các Sở, ngành được tập trung thực hiện. 

Đại diện lãnh đạo 2 tỉnh Thừa Thiên-Huế và Thái Nguyên, cùng các Sở, ngành liên quan đã thảo luận, chia sẻ nhiều kinh nghiệm, giải pháp để xử lý những khó khăn trong quá trình thực hiện Đề án 06 như: Việc triển khai, kết nối liên thông dữ liệu giữa hệ thống quản lý đất đai với hệ thống một cửa hành chính công của tỉnh và Cổng DVC quốc gia; bố trí nguồn nhân lực thực hiện các nhiệm vụ theo Đề án 06 tại địa phương, nhất là đối với cấp xã; vai trò của một số Sở, ngành trong việc số hóa hồ sơ dịch vụ công… 

Ông Nguyễn Thanh Bình, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên khẳng định, việc trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm đem lại nhiều kết quả bổ ích cho cả 2 tỉnh, từ đó tiếp tục triển khai thực hiện Đề án 06 đạt hiệu quả cao. Đồng thời mong muốn trong thời gian tới, các Sở, ngành, cơ quan của 2 tỉnh tiếp tục có sự kết nối, chia sẻ kinh nghiệm để triển khai hiệu quả Đề án 06. 

Ông Nguyễn Thanh Bình, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế cũng nhấn mạnh, đặc biệt ấn tượng với kết quả thực hiện Đề án 06 của tỉnh Thái Nguyên; sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị cùng với sự sáng tạo, nỗ lực, cố gắng của các sở, ban, ngành, địa phương tỉnh Thái Nguyên đã khắc phục được những khó khăn, hạn chế trong quá trình thực hiện Đề án 06. Đây sẽ là kinh nghiệm quý để tỉnh Thừa Thiên-Huế thực hiện hiệu quả Đề án này… (Cand.com.vn 14/11, Hải Lan)Về đầu trang

Quảng Ninh: Cải cách hành chính, phục vụ tốt người dân, doanh nghiệp

Thời gian qua, tỉnh Quảng Ninh luôn kiên trì thực hiện công tác cải cách hành chính (CCHC) với mục tiêu “Lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp là thước đo đánh giá chất lượng phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước các cấp”. 

Triển khai công tác CCHC, Quảng Ninh đã sớm xác định cần có sự đổi mới mạnh mẽ trong việc định lượng, đo lường, đánh giá một cách thực chất, khách quan các kết quả đạt được về nội dung, mục tiêu cải cách, chứ không hô hào khẩu hiệu, hình thức. Đến nay, tỉnh đã có 9 năm tự thực hiện đánh giá Chỉ số PAR Index. Từ năm 2018, thực hiện quyết định của UBND tỉnh phê duyệt Đề án đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2018-2020, tỉnh đã thực hiện điều tra đánh giá Chỉ số SIPAS đối với các sở, ban, ngành, địa phương và cơ quan trung ương đóng trên địa bàn tỉnh; tích hợp điểm số SIPAS và kết quả PAR Index. 

Với tinh thần “dám nhìn thẳng sự thật”, tỉnh đã tập trung cải cách toàn diện, thực chất với mục tiêu lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm mục tiêu của sự phục vụ. Cùng với đó tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp được đóng góp tiếng nói, được thực thi vai trò giám sát các hoạt động điều hành kinh tế của tỉnh, sự phục vụ của chính quyền, cơ quan quản lý nhà nước, góp phần quan trọng giúp tỉnh nhìn nhận, đánh giá, rút kinh nghiệm để hoàn thiện thể chế hành chính, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. 

Quảng Ninh cũng luôn xác định phương châm xuyên suốt quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành, triển khai thực hiện công tác cải cách là "5 thật" (nghĩ thật, nói thật, làm thật, hiệu quả thật; người dân, doanh nghiệp được thụ hưởng hiệu quả thật); "6 dám" (dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn thử thách)... Tuy đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, song tỉnh chưa khi nào chủ quan, sớm hài lòng với những điều đạt được, mà luôn nhìn nhận thẳng thắn vào những điểm còn hạn chế trong công tác cải cách. Trong đó, những yếu tố tác động đến sự hài lòng của người dân và cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư luôn được tỉnh tập trung nghiên cứu, đánh giá kỹ càng, tìm nguyên nhân và đề ra các giải pháp cải thiện.

Điển hình, tỉnh đã thẳng thắn chỉ ra kết quả khảo sát điều tra sự hài lòng của người dân cho thấy vẫn còn tình trạng CBCCVC thuộc một số lĩnh vực còn chưa làm tròn nhiệm vụ khi giải quyết công việc cho cá nhân, tổ chức, nhất là trong lĩnh vực đất đai, xây dựng, cấp giấy phép kinh doanh...; tinh thần trách nhiệm phối hợp, xử lý công việc của một số CBCC là chưa cao; có đơn vị chưa thu hút được người có tài năng, có trình độ chuyên môn thuộc các lĩnh vực tỉnh cần vào bộ máy hành chính. Hay như việc cắt giảm, đơn giản hóa quy định trong TTHC còn có nơi mang tính hình thức, chưa chú trọng tham vấn chính sách đối với các đối tượng chịu tác động; công tác kiểm tra, giám sát của một số cơ quan, đơn vị đối với CBCCVC thực thi quy trình giải quyết TTHC chưa chặt chẽ, chưa kịp thời phát hiện, xử lý ngay, ảnh hưởng đến giải quyết TTHC cho người dân, doanh nghiệp… 

Cụ thể, theo kết quả đánh giá Chỉ số SIPAS năm 2021, tỉnh Quảng Ninh tuy vẫn dẫn đầu toàn quốc với điểm số 94,07%, song đã bị giảm 1,69 điểm % so với năm 2020 (95,76%) và cả 5/5 chỉ số thành phần đều giảm điểm so với năm 2020. Đặc biệt, vẫn còn 5,25% người dân đánh giá bình thường hoặc không hài lòng về công chức; tỷ lệ hài lòng trung bình về công chức đạt 94,75%, thấp hơn so với năm 2020 là 0,52 điểm %. Trong 7 tiêu chí đánh giá về công chức năm 2021, cả 7 tiêu chí đánh giá tỷ lệ hài lòng đều thấp hơn so với năm 2020… (Baoquangninh.com.vn 14/11, Minh Hà)Về đầu trang

Công an Vĩnh Long thực hiện nhiều giải pháp cải cách hành chính

Từ đầu năm đến nay, Công an tỉnh Vĩnh Long đã thực hiện nhiều biện pháp đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính trên tất cả các lĩnh vực công tác. 

Công an tỉnh Vĩnh Long chủ động phối hợp Sở Thông tin và Truyền thông tổ chức triển khai các dịch vụ công trực tuyến thuộc thẩm quyền giải quyết của Công an tỉnh trên Cổng dịch vụ công, rút ngắn thời gian giải quyết công việc, nhất là các công việc có liên quan đến cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp. 

Qua đó, nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 góp phần phục vụ người dân, doanh nghiệp thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử. Trong lĩnh vực phòng cháy chữa cháy, đã cung cấp dịch vụ công trực tuyến ở mức độ 3, mức độ 4 trên Cổng dịch vụ công Bộ Công an đối với 17 thủ tục hành chính. Lực lượng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ đã tiếp nhận và giải quyết hơn 1.500 hồ sơ đảm bảo thời gian quy định, kể cả giải quyết trước hạn, nhận được sự đồng thuận, tin tưởng từ người dân, doanh nghiệp. 

Cùng với cả nước, từ ngày 21/5, Công an tỉnh Vĩnh Long thực hiện phân cấp công tác cấp, thu hồi đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ theo quy định đối với 8 đơn vị Công an cấp huyện và 71 Công an xã, phường. Qua hơn 5 tháng thực hiện, đã mang đến hiệu quả và nhận được sự đồng thuận, ủng hộ cao của cấp ủy, chính quyền và nhân dân. Đây là sự quyết tâm cải cách hành chính của Công an tỉnh Vĩnh Long, giúp người dân tiết kiệm thời gian, công sức, chi phí đi lại khi giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực đăng ký, quản lý phương tiện. 

Để giúp người dân, doanh nghiệp thấy rõ được lợi ích và vai trò, trách nhiệm của bản thân, cũng như tính tất yếu của việc chuyển đổi, số hóa các thủ tục hành chính và tích cực tham gia, Công an các địa phương tổ chức tuyên truyền bằng nhiều hình thức phù hợp với từng nhóm để doanh nghiệp và người dân dễ dàng tiếp cận, thực hiện. Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội và Công an các huyện, thị xã, thành phố đã và đang khẩn trương đẩy nhanh tiến độ thu nhận hồ sơ cấp tài khoản định danh điện tử thông qua công tác cấp, đổi, cấp lại thẻ căn cước công dân gắn chip điện tử. Tại các bộ phận tiếp nhận giải quyết thủ tục hành chính, Công an các địa phương niêm yết công khai, đầy đủ các thủ tục, xây dựng nội quy làm việc  rõ ràng,  tạo sự gần gũi, thân thiện với nhân dân khi đến làm việc. 

Thượng tá Đoàn Văn Thuận, Trưởng Công an huyện Tam Bình cho biết: "Chúng tôi thường xuyên tổ chức lấy ý kiến của người dân đánh giá sự hài lòng, phấn đấu đạt được sự hài lòng của người dân một cách cao nhất và xem đây là tiêu chí thi đua đối với cán bộ, chiến sĩ". 

Thực hiện đợt thi đua 90 ngày đêm cấp hộ chiếu phổ thông không gắn chip điện tử cho công dân từ ngày 20/6 đến ngày 20/9, Công an tỉnh Vĩnh Long đã bố trí bàn hướng dẫn và phân công cán bộ phát số thứ tự và trực tiếp hướng dẫn công dân về cách kê khai đảm bảo trật tự, an toàn, nhanh chóng. Công an tỉnh Vĩnh Long đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 đối với thủ tục cấp hộ chiếu trên Cổng dịch vụ công quốc gia, kết hợp tuyên truyền trực tiếp cho công dân và trực quan qua màn hình tại nơi tiếp dân, tuyên truyền rộng rãi qua mạng xã hội. 

Nhiều cơ sở lưu trú, khách sạn trên địa bàn TP Vĩnh Long cho biết từ khi tiếp cận và sử dụng dịch vụ này, các chủ cơ sở lưu trú không cần phải đến trụ sở Công an mà chỉ cần thao tác trên máy tính hoặc điện thoại có kết nối internet là có thể khai báo trực tuyến và đăng ký lưu trú cho khách một cách nhanh chóng, thuận tiện. Thượng tá Nguyễn Minh Hải, Phó trưởng Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cho biết: "Đơn vị đã tổ chức triển khai có hiệu quả các công tác cải cách hành chính theo chức năng nhiệm vụ và chủ động phối hợp với Công an các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục chỉ đạo quyết liệt hiệu quả công tác làm sạch dữ liệu luôn đúng, đủ, sạch, sống". 

Những kết quả đạt được trong công tác cải cách hành chính của lực lượng Công an Vĩnh Long, tác động tích cực, tạo chuyển biến mạnh mẽ, làm thay đổi nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, chiến sỹ trong quá trình giải quyết các thủ tục hành chính cho cơ quan, tổ chức, cá nhân, quyết tâm thực hiện cải cách hành chính để phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn. (Cand.com.vn 13/11, Văn Vĩnh)Về đầu trang

Trà Vinh: Hiệu quả thực hiện dịch vụ công trực tuyến cấp hộ chiếu phổ thông không gắn chíp điện tử

Thực hiện Đề án số 06, Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh Trà Vinh đã ứng dụng công nghệ thông tin trong tiếp nhận, giải quyết nhiều thủ tục hành chính và thực hiện cơ chế một cửa, cung cấp dịch vụ công ở nhiều cấp độ. 

Việc cấp hộ chiếu phổ thông không gắn chíp điện tử qua Cổng dịch vụ công Chính phủ hoặc Cổng dịch vụ công Bộ Công an, thanh toán trực tuyến, nhận hộ chiếu qua bưu chính hoặc tại cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh đã giảm thiểu tối đa thời gian chờ đợi nộp hồ sơ, nhận kết quả, tiết kiệm công sức, chi phí đi lại cho nhân dân. 

Thượng úy Nguyễn Huỳnh Mai, cán bộ Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh Trà Vinh cho biết: Phòng đã triển khai thực hiện dịch vụ công trực tuyến tại đơn vị và người dân có thể thực hiện dịch vụ công mức độ 4 để làm thủ tục đề nghị cấp hộ chiếu tại nhà. Để thực hiện, đầu tiên người dân phải kiểm tra được thông tin chính chủ hay không, sau đó vào cổng dịch vụ công quốc gia để đăng ký tài khoản. 

Anh Thạch Sốc SơRun (ngụ huyện Trà Cú) phấn khởi: “Quy trình bây giờ thực hiện rất nhanh, thủ tục, giấy tờ ít hơn nhiều và không phức tạp so với trước đây. Cán bộ giúp đỡ nhiệt tình, nhanh chóng, chỉ cần một cái điện thoại và căn cước công dân gắn chíp là có thể làm được hộ chiếu hoàn chỉnh”. Chỉ mất từ 10 đến 20 phút, người dân có thể hoàn thành các thủ tục đề nghị cấp hộ chiếu phổ thông không gắn chíp điện tử mà không phải xếp hàng lấy tờ khai, không phải đến chụp ảnh, có thể nhận hộ chiếu tại cơ quan xuất nhập cảnh hoặc nhận tại nhà qua đường bưu chính. 

Vào các ngày trong tuần, tại khu vực nộp hồ sơ đề nghị cấp hộ chiếu của Phòng Quản lý xuất nhập cảnh có rất nhiều người dân đến làm thủ tục. Phòng Quản lý xuất nhập cảnh bố trí hai cán bộ để tiếp và hỗ trợ công dân kê khai thông tin đề nghị cấp hộ chiếu qua dịch vụ công trực tuyến. Phòng Quản lý xuất nhập cảnh phối hợp với các đơn vị liên quan và Công an các đơn vị, địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền để người dân nắm rõ các thủ tục đem đến sự tiện ích, hài lòng nhất đối với người dân và doanh nghiệp. 

Thượng tá Nguyễn Minh Thụ, Trưởng phòng Phòng Quản lý xuất nhập cảnh cho biết: “Thời gian tới, đơn vị tiếp tục phối hợp với các đơn vị, địa phương làm tốt công tác tuyên truyền, thường xuyên tập huấn để cán bộ, chiến sĩ đơn vị nghiên cứu sâu, nắm vững các quy trình, thao tác, các bước để hướng dẫn cho người dân”. 

Khi triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 có rất nhiều thuận lợi cho người dân. Hồ sơ được số hóa sẽ giảm áp lực giấy tờ lên cơ quan nhà nước, giảm thiểu việc tiếp xúc trực tiếp với cán bộ, hạn chế tiêu cực, phiền hà, đồng thời tăng tính công khai, minh bạch của thủ tục hành chính. Việc triển khai cấp hộ chiếu phổ thông cho công dân qua Cổng dịch vụ công góp phần đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác quản lý xuất nhập cảnh, đem đến tiện ích, sự hài lòng tốt nhất đối với người dân và doanh nghiệp. (Cand.com.vn 14/11, Phạm Hơn) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Cải thiện môi trường kinh doanh: Thông tư, công văn vẫn là “điểm nghẽn”

Trong khi luật, nghị định được đánh giá là khá thông thoáng thì thông tư, công văn vẫn đang là “điểm nghẽn” của môi trường kinh doanh. Khảo sát của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho thấy số lượng thông tư hiện chiếm hơn 68% tổng số lượng văn bản quy phạm pháp luật ban hành.

Bất cập, vướng mắc

Cuối tuần qua, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo “Chất lượng của quy định và sự thuận lợi của môi trường kinh doanh”. Đây là hoạt động được thực hiện trong khuôn khổ dự án Tăng cường tiếng nói của doanh nghiệp (DN) trong việc giám sát và thực hiện tái cơ cấu kinh tế (thuộc Chương trình Australia hỗ trợ cải cách kinh tế Việt Nam - Aus4Reform). 

Tại Hội thảo, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký – Trưởng Ban Pháp chế VCCI đã nêu lên một thực tế là trong hoạt động cải thiện môi trường kinh doanh hiện nay, các cơ quan chính sách tập trung nhiều vào các văn bản cấp luật, nghị định. Trong khi đó, với đặc thù của hệ thống pháp luật nước ta, để một quy định có thể thực thi trên thực tế, phụ thuộc lớn vào các quy định tại thông tư, thậm chí là công văn. “Vì vậy, có hiện tượng, mặc dù các văn bản cấp luật, nghị định có tinh thần tiến bộ rất rõ, nhưng khi xuống đến đến thông tư, công văn lại nảy sinh nhiều vấn đề bất cập, vướng mắc, khiến tính cải cách của chính sách không phát huy trên thực tế” - ông Tuấn nhận định. 

Thông tư 11/2022/TT-BGDĐT quy định về liên kết tổ chức thi cấp chứng chỉ năng lực ngoại ngữ của nước ngoài được nhắc đến như một ví dụ điển hình và thời sự nhất về ảnh hưởng của thông tư, công văn. “Chỉ 1 thông tư thôi, nhưng đang làm xáo trộn cuộc sống của người dân, DN” - ông Tuấn dẫn chứng. 

Ông Nguyễn Quốc Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội Nhà thầu xây dựng Việt Nam (VACC) đã có một bảng liệt kê về 14 bất cập trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh bất động sản, nhà ở. Theo ông, 12 luật liên quan đến lĩnh vực này mà không luật nào theo luật nào, nên DN như trong một “mớ bòng bong”, nhiều cuộc gặp tháo gỡ vẫn chưa xong. “Nếu nói ách tắc thì chắc nói suốt ngày không hết, nhiều văn bản rất trớ trêu…”, ông Hiệp chia sẻ. 

Bà Trần Ngọc Ánh, Đại diện Hội đồng kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN dẫn chứng về việc công văn mâu thuẫn với thông tư. Đơn cử như cứ sản phẩm dạng lỏng là quy về Chương “Đồ uống và nước giải khát”. Do vậy, nhiều mặt hàng đối mặt với việc thông quan tại các cửa khẩu khác nhau bị áp thuế khác nhau. “Công văn mâu thuẫn nhưng một khi được ký, đóng dấu thì hải quan địa phương sẽ tiến hành truy thu DN trước” - bà Ánh phản ánh. 

Ông Nguyễn Văn Đệ, Chủ tịch Hiệp hội Bệnh viện tư nhân Việt Nam sau khi liệt kê một loạt thông tư đang “làm khổ” DN đã chua chát nhận xét: Thông tư vẫn “to” hơn bghị định (!?). “Thông tư còn nguy hiểm hơn tham nhũng, vì thông tư chất lượng kém khiến DN không làm được, cản trở DN thì người dân không có việc làm, như vậy, Nhà nước làm sao thu được ngân sách? Đáng ra thông tư là thúc đẩy DN làm theo luật, “phanh” DN trước những vùng cấm. Tôi rất mong muốn các ý kiến này, các vấn đề mà VCCI đang nghiên cứu đến được Chính phủ, Quốc hội” - ông Đệ thẳng thắn. 

Khảo sát của VCCI cho thấy, tính từ 1/1/2016 đến ngày 20/7/2020, số lượng thông tư chiếm hơn 68% tổng số lượng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) ban hành. Theo bà Nguyễn Thị Diệu Hồng, Ban Pháp chế, VCCI, quy trình ban hành thông tư ít minh bạch hơn nếu so sánh với quy trình ban hành của nghị định, luật, pháp lệnh. Việc soạn thảo và ban hành thông tư chủ yếu thực hiện giữa các đơn vị chuyên môn của bộ, trong khi các VBQPPL từ cấp nghị định trở lên, có sự tham gia của nhiều cơ quan Nhà nước khác nhau và có mức độ kiểm soát về chất lượng và tính minh bạch tốt hơn. 

Cũng theo bà Hồng, thông tư có một số giới hạn nhất định trong các quy định như: Không được ban hành điều kiện kinh doanh (ĐKKD), thủ tục hành chính (TTHC); Chỉ được quy định chi tiết các điều, khoản, điểm tại các điều, khoản, điểm được giao tại các VBQPPL có giá trị pháp lý cao hơn… Mặc dù quy định cấm thông tư ban hành ĐKKD từ năm 2005 và Chính phủ có đợt rà soát năm 2016 để loại bỏ các thông tư quy định ĐKKD, nhưng đến nay vẫn không khó để tìm thấy các thông tư quy định về ĐKKD trong hệ thống VBQPPL nước ta. 

Theo bà Hồng, có những thông tư ban hành ĐKKD “công khai” (ví dụ: trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng), có những thông tư lại ban hành ĐKKD ở dạng “ẩn”, lồng ghép trong các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật (ví dụ: bộ quy tắc “thực hành tốt” trong kinh doanh dược…). “Việc thông tư ban hành ĐKKD sẽ khiến nguy cơ môi trường đầu tư, kinh doanh trở nên kém thuận lợi vì rào cản từ các ĐKKD được ban hành bởi quy trình xây dựng không được giám sát chặt chẽ của các cơ quan Nhà nước, cũng như cộng đồng DN” - bà Hồng quan ngại. 

Thay mặt nhóm nghiên cứu VCCI, bà Hồng khẳng định, việc lạm dụng ban hành thông tư hướng dẫn vừa khiến cho hệ thống pháp luật nước ta trở nên phức tạp, vừa không đảm bảo chất lượng của các quy định pháp luật. Do đó, cần kiểm soát hiện tượng thông tư ban hành ĐKKD, TTHC ngay từ luật. Trong các luật chuyên ngành cần chú trọng đến việc ủy quyền cho các thông tư hướng dẫn, trong đó tuyệt đối không ủy quyền cho thông tư quy định các quy định có tính chất là ĐKKD và hạn chế tối đa ủy quyền quy định về TTHC. 

“Việc không gắn trách nhiệm của cơ quan ban hành văn bản dường như sẽ khiến cho chất lượng của các văn bản trên không được chú trọng, trong khi các văn bản này lại tác động khá lớn đến hoạt động kinh doanh của DN, thậm chí là cả môi trường đầu tư kinh doanh. Do đó, cần phải có cơ chế để xác định trách nhiệm của các cơ quan ban hành văn bản gây thiệt hại cho DN”- đại diện Ban Pháp chế VCCI đề xuất. (Baophapluat.vn 14/11, Thanh Thanh)Về đầu trang

BHXH Việt Nam lấy người dân làm trung tâm gắn với số hóa

Trong những năm vừa qua, Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam đã đầu tư mạnh cho cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số để phục vụ người dân, doanh nghiệp ngày càng tốt hơn. Chuyển đổi số giúp tăng hiệu quả hoạt động của ngành BHXH, hướng tới sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp. 

Ông Lê Hùng Sơn, Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam cho hay, những năm qua, BHXH Việt Nam đã và đang đầu tư xây dựng, hoàn thiện hệ thống công nghệ thông tin của ngành theo định hướng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số; tích hợp, tập trung cấp quốc gia, đảm bảo an toàn, an ninh thông tin, hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế, hướng tới khách hàng. Nhờ chuyển đổi số, quy trình nghiệp vụ của ngành BHXH đã đạt tự động hóa ở mức cao, đáp ứng yêu cầu đảm bảo an sinh xã hội quốc gia, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn, toàn diện hơn trong lĩnh vực BHXH, BHYT. 

Cũng theo ông Sơn, tới nay, hệ thống Giám định BHYT đã liên thông với các cơ sở y tế có thực hiện khám chữa bệnh BHYT toàn quốc theo thời gian thực. Từ năm 2016 tới nay, hệ thống này đã tự động sàng lọc, cảnh báo hồ sơ đáng ngờ, từ đó cơ quan BHXH đã phát hiện và từ chối thanh toán trên 10 nghìn tỷ đồng do hồ sơ trùng lặp, chi không hợp lý. “Tới nay, cơ quan BHXH đã thực hiện toàn bộ 25 thủ tục hành chính theo phương thức điện tử mức độ 4. Chỉ có thủ tục nhận chế độ BHXH bằng tiền mặt buộc phải làm trực tiếp. Đồng thời, BHXH Việt Nam đã liên thông thủ tục khai sinh để cấp thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi, hệ thống dữ liệu khai tử để quản lý người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH...”, ông Sơn nói. 

Ông Sơn cho biết thêm: Việc ứng dụng công nghệ thông tin của ngành BHXH đã thực hiện từ nhiều năm trước, nay Chính phủ có Đề án 06 về chuyển đổi số hướng tới Chính phủ điện tử càng thuận lợi cho quá trình này của BHXH Việt Nam. Trên cơ sở nhiệm vụ Chính phủ giao, tất cả 25 đơn vị thuộc BHXH Việt Nam, từng đơn vị phải xây dựng kế hoạch cụ thể về chuyển đổi số theo lĩnh vực phân công, từ đó tổng hợp thành của ngành và lộ trình thực hiện từng năm. Hiện BHXH Việt Nam đã có dữ liệu của hơn 90 triệu người tham gia BHYT, hơn 28 triệu hộ gia đình, và thường xuyên được làm sạch, làm giàu kho dữ liệu. 

Kho dữ liệu này đã được đối soát, xác nhận với dữ liệu của 55 triệu người trên kho Dữ liệu dân cư, tới nay chưa có cơ sở dữ liệu nào xác thực được với dữ liệu dân cư số lượng lớn như vậy. 

Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số là việc làm thường xuyên của toàn ngành BHXH, theo đó là chuyển đổi quy trình nghiệp vụ để khai thác hiệu quả tiện ích công nghệ mang lại. Điển hình, với thanh kiểm tra chuyên ngành đóng BHXH, BHYT, trước đây kiểm tra trực tiếp tại doanh nghiệp phải mất 2-4 ngày. Nay, với dữ liệu đã có, trước thanh tra sẽ sàng lọc dữ liệu điện tử, chỉ rõ các sai phạm, dấu hiệu bất thường, khi thanh kiểm tra chỉ cần khớp lại dữ liệu đã có, nên rút ngắn nửa thời gian so với trước. Dữ liệu điện tử là công cụ hữu hiệu cho thực hiện nhiệm vụ của toàn ngành BHXH. (Tienphong.vn 14/11, Phạm Thanh)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Bộ Nội vụ nêu 5 trường hợp không được thực hiện tinh giản biên chế

Bộ Nội vụ cho biết trong thời gian qua, Bộ này nhận được báo cáo kết quả thực hiện tinh giản biên chế của các Bộ, ngành, địa phương để kiểm tra theo quy định. 

Qua kiểm tra kết quả thực hiện tinh giản biên chế, có một số Bộ, ngành, địa phương đã thực hiện tinh giản biên chế chưa đúng đối tượng nên Bộ Nội vụ đã phải yêu cầu báo cáo, giải trình và đề nghị không thực hiện tinh giản biên chế đối với các trường hợp này. 

Theo đó, có 5 nhóm đối tượng không được thực hiện tinh giản biên chế, gồm: Chưa đạt trình độ đào tạo theo tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ mà vẫn bố trí vào làm công chức, viên chức hoặc cán bộ cấp xã; công chức, viên chức có 2 năm liên tiếp bị đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ nhưng vẫn đề nghị giải quyết tinh giản biên chế; công chức, viên chức không hoàn thành nhiệm vụ đề nghị giải quyết tinh giản biên chế nhưng vẫn được nâng bậc lương thường xuyên theo quy định. 

Nhóm chưa đủ thời gian công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn để tinh giản biên chế ở tuổi nghỉ hưu thấp hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường; công chức, viên chức dôi dư do sắp xếp tổ chức bộ máy nhưng không làm rõ được việc sắp xếp tổ chức, bộ máy của cơ quan, tổ chức, đơn vị... 

Do vậy, để tránh trường hợp phải khắc phục việc giải quyết tinh giản biên chế không đúng quy định, Bộ Nội vụ đề nghị các Bộ, ngành, địa phương cần phải thực hiện tinh giản biên chế đúng đối tượng, áp dụng đúng chế độ, chính sách tinh giản biên chế và trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. 

Theo báo cáo của Bộ Nội vụ, tính đến hết tháng 6/2022, tổng số đối tượng được giải quyết chính sách tinh giản biên chế theo Nghị định số 108/2014/NĐ- CP của Chính phủ ở các Bộ, ngành, địa phương là 78.234 người (chiếm tỷ lệ 22,6% so với số biên chế công chức, viên chức giảm giai đoạn 2016-2021); trong đó, các Bộ, ngành là 5.451 người và địa phương là 72.783 người. 

Số liệu thống kê cho thấy, số lượng công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước năm 2021 được giao là 247.722 biên chế (Bộ, ngành Trung ương là 106.890; địa phương là 140.832), giảm 27.530 biên chế. 

Trong đó, biên chế công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước giảm 10,01%; biên chế viên chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước giảm được 11,67%; công chức cấp xã đã giảm được 9% so với số năm 2015, như vậy tính chung cả nước đã đạt được mục tiêu giảm tối thiểu 10% theo Nghị quyết của Đảng. 

Vấn đề tinh giản biên chế cũng được nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm tại phiên chất vấn Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà hôm 4/11. Theo các đại biểu, việc tinh giản biên chế chủ yếu là giảm cơ học về số lượng, chưa thực sự gắn với việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đội ngũ công chức, viên chức. 

Về vấn đề này, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà thừa nhận, dù nỗ lực vượt bậc trong việc tinh gọn bộ máy, giảm số người hưởng lương từ ngân sách nhà nước, song cũng có tình trạng cào bằng, giảm theo hướng cơ học ở một vài nơi.  

Trong thời gian tới, Bộ Nội vụ sẽ tiếp tục thực hiện cơ cấu và sắp xếp lại bộ máy; tập trung hoàn thiện xong vị trí việc làm, khung năng lực của vị trí việc làm để xác định rõ biên chế của các cơ quan, đơn vị hành chính cũng như cơ quan, đơn vị sự nghiệp. Cùng với đó là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện chuyển đổi số, đẩy mạnh cải cách hành chính để số người không nhiều nhưng vẫn phải đáp ứng được mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra. (Vneconomy.vn 14/11, Nhật Dương)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN

“Nghe sửa Luật Đất đai, dân mừng lắm!”

Là 1 trong hơn 200 đại biểu dự hội thảo tham vấn về dự án Luật Đất đai (sửa đổi) do Báo Đại biểu Nhân dân phối hợp Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức chiều qua, đại biểu Quốc hội Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp) kể: “Dân nghe sửa Luật Đất đai họ mừng lắm dù chưa biết sẽ sửa thế nào”. Một chi tiết nhỏ cho thấy người dân và cử tri cả nước quan tâm và kỳ vọng chừng nào ở sự kiện pháp lý đặc biệt này! 

Sáng 14/11, tại Hội trường Diên Hồng, Quốc hội cho ý kiến lần đầu vào dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Ngay trước thềm phiên họp này, Báo Đại biểu Nhân dân phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức hội thảo tham vấn ý kiến đại biểu Quốc hội và chuyên gia về một số nội dung quan trọng trong dự án Luật Đất đai (sửa đổi) với mong muốn góp phần hoàn thiện dự án Luật với chất lượng cao nhất. 

Chia sẻ của các đại biểu tại hội thảo một lần nữa cho thấy, người dân và cộng đồng doanh nghiệp cả nước rất quan tâm và gửi gắm nhiều kỳ vọng vào việc sửa đổi Luật Đất đai lần này. Người dân quan tâm bởi chính sách đất đai liên quan mật thiết tới đời sống, sinh kế, tài sản của họ. Nhìn rộng hơn, chính sách tốt, quy định hay sẽ phát huy cao nhất hiệu quả nguồn lực đất đai trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế và người dân sẽ được thụ hưởng thành quả đó. Người dân kỳ vọng bởi thâm tâm họ mong muốn sửa đổi Luật Đất đai sẽ giải quyết được rất nhiều vướng mắc nảy sinh trong gần 10 năm thực hiện Luật Đất đai năm 2013.  

Có thể kể đến sự không thống nhất, đồng bộ trong trong hệ thống pháp luật có liên quan đến đất đai; cơ chế thu hồi đất nhiều bất cập…. Cùng với đó, chức năng đại diện chủ sở hữu đất đai và chức năng thống nhất quản lý của Nhà nước về đất đai cũng chưa được minh định rõ, Nhà nước có rất nhiều quyền nhưng chưa thực sự quản lý chặt chẽ được đất đai. Đây là những nguyên nhân dẫn đến tình trạng các cơ quan nhà nước có thẩm quyền lạm quyền, tiêu cực trong việc quyết định số phận pháp lý của đất đai, tiềm ẩn nguy cơ tham nhũng. 

Tuy nhiên, như các đại biểu đã thống nhất tại hội thảo, không phải sửa Luật Đất đai là sẽ giải quyết hết được những vướng mắc liên quan hiện nay. Bởi lẽ hàng loạt vấn đề tiêu cực hiện nay như tình trạng đầu cơ, thổi giá đất, quy hoạch treo, thu hồi đất dẫn đến khiếu nại tố cáo, tham nhũng và lãng phí trong lĩnh vực đất đai… không hoàn toàn xuất phát từ bất cập của Luật Đất đai mà liên quan đến cả hệ thống pháp luật. Để đáp ứng được kỳ vọng của người dân, tiến trình sửa đổi Luật Đất đai cần bám sát kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại phiên họp chuyên đề tháng 9.2022. 

Theo đó, cần thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 18-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5. Sửa Luật phải khắc phục bất cập trong thực tiễn nhưng cũng phải bảo đảm tính tổng thể, chiến lược. Cùng với đó, phải rà soát sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa các quy định của pháp luật trong quản lý, sử dụng đất, có phương án xử lý phù hợp và tiếp tục cải cách thủ tục hành chính đất đai. Đặc biệt, phải tách bạch rõ để quy định vào Luật quan hệ đất đai mang tính chất công (quan hệ quản lý nhà nước về đất đai; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, đối tượng sử dụng đất; giao đất, cho thuê đất; cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; xác định giá đất; thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư…) và quan hệ đất đai mang tính chất tư (giao dịch góp vốn, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, tặng, cho quyền sử dụng đất…). 

Những yêu cầu trên cũng là những vấn đề cốt lõi, cần được nghiên cứu kỹ lưỡng và cụ thể hóa thành các chính sách, quy định đúng đắn, dễ hiểu, khả thi. Tại hội thảo chiều qua, các đại biểu Quốc hội và chuyên gia kinh tế không chỉ chuyển tải kỳ vọng của người dân, cộng đồng doanh nghiệp mà còn đề xuất nhiều giải pháp cho những vấn đề gốc rễ của chính sách đất đai như vậy. Không hẹn mà gặp, các đại biểu đều ghi nhận và đánh giá cao sự nỗ lực, khẩn trương, quyết tâm và đặc biệt là tinh thần cầu thị của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong tiến trình sửa đổi Luật Đất đai.  

Hồ sơ dự án Luật Đất đai (sửa đổi) gửi tới các đại biểu Quốc hội hết sức đồ sộ, lên tới cả nghìn trang cho thấy luật đang được sửa đổi hết sức công phu, kỹ lưỡng với trách nhiệm cao nhất để đáp ứng mong mỏi của người dân. Đây cũng là chỉ dấu củng cố niềm tin rằng vào Kỳ họp cuối năm sau, Quốc hội sẽ bấm nút thông qua một dự Luật Đất đai có chất lượng tốt nhất với sức sống thật lâu bền, đưa đất đai thành động lực thúc đẩy Việt Nam tiến tới đích thịnh vượng. (Đại biểu nhân dân 14/11, Hà Lan)Về đầu trang./.

Trung tâm Tin học - Công báo

Các tin khác

Lượt truy cập: 11.996.047 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này