Bản tin phục vụ lãnh đạo ngày 26/3/2018

Font size : A- A A+

CÔNG BỐ CHỈ SỐ PCI NĂM 2017. 1

1.  "Bí quyết" giúp Quảng Ninh dẫn đầu bảng xếp hạng PCI 2017. 1

2.  PCI không phải chuyện riêng của các địa phương. 3

3.  Tăng cạnh tranh nhờ cải cách. 4

CHÍNH SÁCH MỚI 5

4.  Để xảy ra tham nhũng sẽ bị xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ. 5

5.  Bộ Chính trị ban hành nghị quyết về chính sách phát triển công nghiệp. 5

CHỈ THỊ MỚI 6

6.  Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tuần từ 19-23/3. 6

TƯ DUY MỚI - CÁCH LÀM HAY. 7

7.  Diễn đàn "Chiều thứ 6 nghe dân nói" – cách làm hay ở Hà Giang. 7

MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ  - HỘI NHẬP. 8

8.  Nền kinh tế Việt Nam 2018 có nhiều khởi sắc. 8

9.  Gần 63% doanh nghiệp Việt Nam thực hiện tự động hóa. 9

10.  Rào cản nào khiến 48% doanh nghiệp tại Việt Nam kinh doanh thua lỗ?. 9

PHÂN TÍCH -BÌNH LUẬN.. 10

11.  Cán bộ cần phải “ra đường” nhiều hơn. 10

QUẢN LÝ. 11

12.  GDP tăng trưởng nhưng người dân không tăng được tiền tiết kiệm, phải đi vay để tiêu dùng  11

13.  Sẽ giữ lại 70% phần tăng thu ngân sách địa phương làm nguồn cải cách tiền lương. 13

14.  Rút đề xuất hợp nhất cơ quan thu thuế và bảo hiểm xã hội 14

15.  Bộ LĐ-TB&XH: Nhiều sai phạm quản lý tài chính, sử dụng tài sản công. 15

16.  Hoàn thiện Đề án xây dựng bộ chỉ số đánh giá mức độ phát triển doanh nghiệp. 16

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH. 16

17.  Hà Nội: Hiệu quả từ cơ chế “một cửa”. 16

THẾ GIỚI 17

18.  Chính phủ Mỹ chính thức thoát nguy cơ đóng cửa lần thứ 3. 17


CÔNG BỐ CHỈ SỐ PCI NĂM 2017

"Bí quyết" giúp Quảng Ninh dẫn đầu bảng xếp hạng PCI 2017

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh chính là thước đo, là động lực để Quảng Ninh đẩy mạnh cải cách, nâng cao chất lượng điều hành, phát triển kinh tế.

Đánh giá về kết quả tỉnh Quảng Ninh đạt được với 70.7 điểm để dẫn đầu trong bảng xếp hạng Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI 2017) do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố, chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong cho biết, điều này thể hiện niềm tin, sự đánh giá ngày càng cao và sự ghi nhận của cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư cũng như kết quả của sự cố gắng, quyết tâm của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở nhằm nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của Quảng Ninh.

“PCI là chỉ số đánh giá sự chủ động của các cấp chính quyền địa phương trong cải thiện môi trường đầu tư. Trong suốt thời gian triển khai vừa qua, chỉ số này càng hoàn thiện hơn, đồng thời ngày càng trở thành động lực thúc đẩy, là mục tiêu để các địa phương phấn đấu trong cải thiện xếp hạng và trong thực tiễn. Quảng Ninh là 1 ví dụ, từ ở vị trí đội sổ mà lên tới đầu bảng là ví dụ điển hình. Điều này cho thấy sự nỗ lực của Quảng Ninh, cũng như tính khách quan của chỉ số PCI này”, ông Nguyễn Minh Phong khẳng định.

Đến nay, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của tỉnh Quảng Ninh đạt trên 6 tỷ USD, đứng thứ 12 trong thu hút đầu tư FDI của cả nước. Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng cao qua các năm: chỉ riêng năm 2017, tỉnh đã có gần 2.400 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 35%. Đến nay, trên địa bàn tỉnh có gần 16.000 doanh nghiệp, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế tỉnh với tốc độ tăng trưởng luôn trong nhóm dẫn đầu cả nước.

“Chính quyền tỉnh luôn luôn lắng nghe và đồng hành với chúng tôi trong tất cả các công việc. Khi có phản ánh của cộng đồng doanh nghiệp đến các cấp các ngành đều được phản hồi và tìm ra giải pháp tháo gỡ nhanh nhất”, ông Đỗ Mạnh Hùng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Quảng Ninh cho biết.

Theo bà Nguyễn Thuỳ Hương, Giám đốc Công ty Cổ phần Ngọc Trai Hạ Long, 5 năm trước để tiếp cận với các cấp địa phương rất khó khăn, sự hướng dẫn thủ tục đối với doanh nghiệp manh mún. Tuy nhiên, việc các Trung tâm Hành chính công của tỉnh Quảng Ninh đi vào vận hành đã giúp doanh nghiệp giảm thời gian, tài chính và thể hiện tính minh bạch khi tiếp cận với các Sở, ban, ngành.

“Khi bắt đầu triển khai công việc ở Quảng Ninh cũng gặp rất nhiều khó khăn, ví dụ như vùng nuôi. Vịnh Hạ Long là di sản, không chỉ nằm trong tầm quản lý riêng của tỉnh Quảng Ninh, nên để nuôi được con trai ở Vịnh Hạ Long là cả 1 vấn đề. Nhưng tỉnh Quảng Ninh rất lắng nghe, đã tạo điều kiện cho chúng tôi thuê được diện tích mặt nước biển ở ngoài vùng lõi của Vịnh Hạ Long. Đây là sự giúp đỡ rất lớn của tỉnh Quảng Ninh”, bà Nguyễn Thuỳ Hương cho biết thêm.

Để luôn theo sát, hỗ trợ doanh nghiệp một cách hiệu quả nhất, tỉnh Quảng Ninh không ngừng tìm kiếm, chủ động mở nhiều kênh, nhiều cách thức khác nhau để lắng nghe, tạo không gian mở và thân thiện, gần gũi giữa chính quyền các cấp, các cơ quan sở ngành với nhà đầu tư, doanh nghiệp. Đồng thời, thực hiện hiệu quả xúc tiến đầu tư tại chỗ với nhiều giải pháp thiết thực như: “Đồng hành cùng doanh nghiệp”, thực hiện “chăm sóc, phục vụ doanh nghiệp” từ những việc nhỏ nhất, tạo niềm tin trong cộng đồng nhà đầu tư, doanh nghiệp.

Bà Vũ Thị Kim Chi, Phó trưởng Ban xúc tiến và đầu tư tỉnh Quảng Ninh cho rằng, một trong những mấu chốt tỉnh Quảng Ninh tập trung chỉ đạo, điều hành góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, đưa Quảng Ninh lên vị trí rất là cao trong những năm gần đây, đó là tập trung nhiều giải pháp hỗ trợ, đồng hành cùng doanh nghiệp một cách hiệu quả.

"Cải thiện tính minh bạch giúp cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận được nhiều thông tin. Những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp luôn luôn được giải quyết 1 cách nhanh chóng. Điều đó góp phần giúp doanh nghiệp, nhà đầu tư giải quyết khó khăn, vướng mắc của mình 1 cách thiết thực và hiệu quả”, bà Vũ Thị Kim Chi khẳng định. (VOV.vn 24/3, Tiến Cường)Về đầu trang

PCI không phải chuyện riêng của các địa phương

Lần công bố nào của Bảng xếp hạng Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) cũng mang đến những cảm xúc trái ngược. Năm nay, Quảng Ninh hẳn hài lòng với ngôi vị tân vương của Bảng xếp hạng PCI 2017. Những nỗ lực không ngừng nghỉ của địa phương này trong rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục hành chính, giảm chi phí cho doanh nghiệp được đền đáp.

Không được thứ hạng cao như vậy, nhưng các đầu tàu kinh tế của cả nước là Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ đều được doanh nghiệp ghi nhận có cải thiện đáng kể về chất lượng điều hành và lần đầu tiên đã góp mặt đầy đủ trong trong Top 15 tỉnh, thành phố có chất lượng điều hành tốt nhất trong năm qua.

Ở cuối bảng, Kon Tum, Bình Phước, Đắk Nông không chỉ khó vui, mà sẽ chịu áp lực lớn khi đều tụt hạng so với lần xếp hạng trước.

Theo thông lệ, dù tăng hay giảm hạng, các tỉnh sẽ có hàng loạt cuộc làm việc, cả nội bộ lẫn với chuyên gia PCI để xem xét, mổ xẻ từng chỉ số thành phần của PCI, mong tìm ra những điểm bị doanh nghiệp đánh giá thấp, từ đó lên kế hoạch cải thiện. Những năm trước, nhiều tỉnh ban hành nghị quyết với những mục tiêu về thứ hạng, điểm số rất cụ thể. Quảng Ninh còn quyết định để doanh nghiệp chấm điểm, xếp hạng cả chính quyền quận, huyện cùng các sở, ngành của tỉnh. Đồng Tháp duy trì các cuộc Cà phê doanh nhân. Cần Thơ có Ngày thứ Hai doanh nghiệp...

Nhưng niềm vui hay nỗi buồn trong PCI chắc chắn không phải của riêng các địa phương. Nhất là khi sau nhiều năm thực hiện xếp hạng PCI, sự hội tụ về mặt điểm số của 63 tỉnh, thành phố ngày càng rõ và ngưỡng điểm cao nhất không thay đổi nhiều đang nổi lên là vấn đề phải bàn.

Lý do, các tỉnh xếp hạng thấp đang có sự cải thiện về điểm số nhanh hơn, dần thu hẹp khoảng cách, bắt kịp các tỉnh nhóm trên. Năm nay, điểm số thấp nhất trong PCI 2017 là 55,12 điểm, cao hơn hẳn so với 52,99 của PCI 2016 và 48,96 của PCI 2015... Điểm PCI tại tỉnh trung bình năm 2017 là 60 điểm, cao nhất trong 13 năm thực hiện PCI. Trong khi đó, các tỉnh xếp hạng cao gần như quanh quẩn ở mốc 70/100 điểm trong nhiều năm.

Tất nhiên, có thể lý giải rằng, các tỉnh đi sau có dư địa cải cách rộng rãi hơn khi thực hiện cắt giảm thủ tục hành chính, cải thiện việc cung cấp thông tin cho doanh nghiệp... Trong khi các tỉnh đi đầu đã qua giai đoạn này, cần có bước đột phá mới tạo nên sự thay đổi lớn về môi trường kinh doanh, nhưng không còn nhiều dư địa tại chỗ, thậm chí nhiều lĩnh vực đang bị vướng trần... cơ chế, chính sách, quy định pháp luật do cấp Trung ương ban hành.

Sẽ không có địa phương riêng lẻ nào xử lý được các khúc mắc giữa doanh nghiệp với các cơ quan hải quan về việc kiểm tra chuyên ngành; những phức tạp trong tuân thủ điều kiện kinh doanh hay thủ tục giải phóng mặt bằng, tiếp cận đất đai... Nhiều chỉ số chi phí không chính thức; thời gian kiểm tra, thanh tra đã có cải thiện mạnh mẽ sau nhiều năm, nhưng cũng không có nhiều đất để thực sự tạo nên sự thay đổi lớn. Năm 2017, trung bình vẫn có trên 59% doanh nghiệp cho biết họ vẫn còn phải trả các chi phí không chính thức, 28% doanh nghiệp vẫn chưa hài lòng với kết quả giải quyết công việc của các công chức…

Rõ ràng, lúc này, cải cách trong PCI đang đòi hỏi thêm những động lực mới, mà việc tiếp tục cải cách thể chế với khâu đột phá là cải cách thủ tục hành chính ở cấp các bộ, ngành trung ương cần được đẩy mạnh để có thể nâng trần thể chế, thúc đẩy các địa phương đi đầu trong tìm kiếm các sáng kiến mới, mô hình mới để hỗ trợ, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động, theo hướng xây dựng chính quyền kiến tạo tại các địa phương trên cả nước.

Theo hướng này, yêu cầu của Chính phủ trong việc cắt giảm bắt buộc tối thiểu 30 - 50% thủ tục hành chính và các điều kiện kinh doanh trong năm 2018 của tất cả các bộ, ngành theo Nghị quyết của Chính phủ sẽ là một giải pháp quan trọng, có thể thực hiện ngay và quan trọng là sẽ tạo ngay dư địa cải cách cho các cấp chính quyền địa phương, các cấp cơ sở.

Khi đó, điều chắc chắn là ý nghĩa lớn nhất của Báo cáo PCI hàng năm mà các doanh nghiệp tham gia thực hiện không phải là điểm số và càng không phải là thứ hạng, mà chính là những dư địa cải cách được gợi mở và những mô hình, công nghệ cải cách được tổng kết và chia sẻ. (Đầu Tư 25/3, Bảo Duy)Về đầu trang

Tăng cạnh tranh nhờ cải cách

Lần đầu tiên sau 13 năm điều tra chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), Quảng Ninh đã vươn lên vị trí dẫn đầu, “soán ngôi” của Đà Nẵng. Quảng Ninh không chỉ là điểm sáng mà còn đang dần trở thành hình mẫu trong cải cách hành chính nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao hiệu lực hoạt động của các cơ quan công quyền.

5 năm qua, Quảng Ninh đã tập trung cải cách hành chính qua việc vận hành mô hình Trung tâm Hành chính công và thành lập Ban Xúc tiến và Hỗ trợ đầu tư, từ đó rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp. Chỉ 6% doanh nghiệp phải chờ đợi trên một tháng cho việc có đủ giấy phép cần thiết để chính thức đi vào hoạt động và trên 80% doanh nghiệp đánh giá thủ tục niêm yết công khai, cán bộ am hiểu chuyên môn, hướng dẫn rõ ràng trong giải quyết đăng ký mới hay thay đổi thủ tục đăng ký doanh nghiệp.

Để đạt vị trí hiện nay, Quảng Ninh đã có nhiều nỗ lực bền bỉ. Thực hiện Đề án 25, mô hình Trung tâm Hành chính công tỉnh và 14 trung tâm cấp huyện được xây dựng và vận hành hiệu quả. Kết quả, cắt giảm được 50% thời gian giải quyết thủ tục hành chính so với thời gian quy định của pháp luật. 100% thủ tục hành chính đưa vào giải quyết tại các trung tâm hành chính công được xây dựng quy trình giải quyết bảo đảm rõ trách nhiệm, thẩm quyền, thời gian và được kịp thời cập nhật, niêm yết, công khai, minh bạch thông qua nhiều hình thức…

Cùng với việc đơn giản hóa tối đa thủ tục hành chính do tỉnh ban hành, Quảng Ninh cũng triển khai quyết liệt cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước trên cơ sở xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan. Trong khi các bộ, ngành, địa phương vẫn loay hoay với bài toán tinh giản bộ máy, biên chế, còn nể nang, sợ va chạm, sợ ảnh hưởng đến lợi ích, thì Quảng Ninh đã mạnh dạn thực hiện thí điểm việc nhất thể hóa chức danh lãnh đạo, sáp nhập một số cơ quan Đảng và chính quyền có chung chức năng, nhiệm vụ; loại bỏ được sự chồng chéo, tiết kiệm thời gian. Từ đó, giảm biên chế và tăng cường hiệu quả, hiệu lực hoạt động của các cơ quan công quyền.

Đến nay đã có 9 huyện hợp nhất tổ chức - nội vụ và 8 huyện hợp nhất thanh tra - kiểm tra. Việc hợp nhất, tinh giản biên chế được thực hiện theo nguyên tắc “một tổ chức nhiều chức năng, một người làm nhiều việc”, do đó không chỉ số lượng biên chế giảm, mà chất lượng đội ngũ cán bộ cũng đã được nâng lên. Những người còn “trụ lại” trong bộ máy phải rất cố gắng học tập, nâng cao trình độ về mọi mặt để hoàn thành nhiệm vụ.

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Nguyễn Khắc Định từng nhận định, nhất thể hóa bộ máy, chức danh lãnh đạo là vô cùng khó vì động chạm vào quyền lợi của rất nhiều người, nhưng Quảng Ninh đã quyết tâm thực hiện, loại bỏ được những cán bộ năng lực kém mà không để xảy ra mâu thuẫn, khiếu kiện, chứng tỏ sự nỗ lực, đoàn kết và nhiệt huyết rất cao của cả hệ thống chính trị ở địa phương. Hy vọng, từ kết quả thí điểm thành công trong việc thực hiện chủ trương cải cách bộ máy hành chính, ứng dụng vào thực tế với những điều kiện xã hội phù hợp, mô hình này sẽ được nhân rộng trên cả nước. (Tuổi Trẻ 24/3, Chi An)Về đầu trang

CHÍNH SÁCH MỚI

Để xảy ra tham nhũng sẽ bị xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ

Bộ Chính trị vừa ký ban hành Quy định về việc kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng hàng năm đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị.

Theo đó, các tổ chức, cơ quan, đơn vị sẽ bị đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ nếu có đơn vị trực thuộc xảy ra các vụ, việc tham ô, tham nhũng và các vi phạm khác bị xử lý theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước (trừ trường hợp tự phát hiện và khắc phục xong hậu quả).

Tập thể lãnh đạo, quản lý bị xếp vào mức không hoàn thành nhiệm vụ khi bị cấp có thẩm quyền đánh giá mất đoàn kết nội bộ; có thành viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; địa phương, tổ chức, cơ quan, đơn vị do mình trực tiếp lãnh đạo, quản lý chỉ hoàn thành dưới 50% chỉ tiêu, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, phê duyệt trong năm, các chỉ tiêu chủ yếu không đạt 100% (trừ trường hợp bất khả kháng); bị xử lý kỷ luật hoặc có thành viên bị kỷ luật trong năm.

Đối với cá nhân khi bị cấp có thẩm quyền đánh giá có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; chỉ hoàn thành dưới 50% số chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác được giao trong năm, không hoàn thành 100% chỉ tiêu quan trọng, nhiệm vụ trọng tâm; bị xử lý kỷ luật trong năm sẽ bị đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ. (Tiền Phong 24/3, Văn Kiên)Về đầu trang

Bộ Chính trị ban hành nghị quyết về chính sách phát triển công nghiệp

Ngày 22.3, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Nghị quyết đặt ra mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực ASEAN về công nghiệp, trong đó một số ngành công nghiệp có sức cạnh tranh quốc tế và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước công nghiệp phát triển hiện đại.

Mục tiêu cụ thể tới năm 2030, tỷ trọng công nghiệp trong GDP đạt trên 40%; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đạt khoảng 30%, trong đó công nghiệp chế tạo đạt trên 20%. Tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao trong các ngành chế biến, chế tạo đạt tối thiểu 45%. Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp đạt bình quân trên 8,5%/năm, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đạt bình quân trên 10%/năm. Tốc độ tăng năng suất lao động công nghiệp đạt bình quân 7,5%/năm.

Nghị quyết đặt ra mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực ASEAN về công nghiệp, trong đó một số ngành công nghiệp có sức cạnh tranh quốc tế và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước công nghiệp phát triển hiện đại.

Mục tiêu cụ thể tới năm 2030, tỷ trọng công nghiệp trong GDP đạt trên 40%; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đạt khoảng 30%, trong đó công nghiệp chế tạo đạt trên 20%. Tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao trong các ngành chế biến, chế tạo đạt tối thiểu 45%. Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp đạt bình quân trên 8,5%/năm, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đạt bình quân trên 10%/năm. Tốc độ tăng năng suất lao động công nghiệp đạt bình quân 7,5%/năm. (Thanh Niên 25/3, Lê Hiệp)Về đầu trang

CHỈ THỊ MỚI

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tuần từ 19-23/3

Tập trung khắc phục hậu quả vụ cháy chung cư Carina, thành phố Hồ Chí Minh; chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; thí điểm thanh tra chuyên ngành an toàn thực phẩm tại 7 địa phương... là những thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tuần từ 19-23/3/2018.

Tập trung khắc phục hậu quả vụ cháy chung cư Carina, TPHCM: Tại Công điện 359/CĐ-TTg về vụ cháy ở chung cư Carina Plaza trên đường Võ Văn Kiệt, phường 16, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh khẩn trương tổ chức thăm hỏi, động viên, có biện pháp hỗ trợ kịp thời gia đình người bị tử vong và bị thương; tập trung khắc phục hậu quả vụ cháy.

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa: Theo Nghị định số 39/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các doanh nghiệp nhỏ và vừa được hưởng nhiều chính sách hỗ trợ từ nhà nước như: Hỗ trợ thông tin, tư vấn, phát triển nguồn nhân lực, chuyển đổi từ hộ kinh doanh, khởi nghiệp sáng tạo, tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị.

Đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo: Nghị định 38/2018/NĐ-CP quy định chi tiết về đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo. Nghị định này hướng dẫn về đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo; việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo và cơ chế sử dụng ngân sách địa phương đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Giám sát, giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự: Theo Nghị định số 37/2018/NĐ-CP ngày 10/3/2018 quy định chi tiết thi hành các biện pháp giám sát, giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, nội dung giám sát, giáo dục gồm: Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền, nghĩa vụ của công dân, các quy định của pháp luật liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật; trang bị các kỹ năng sống cơ bản; hỗ trợ học văn hóa, hướng nghiệp, học nghề, tìm việc làm; tổ chức cho người được giám sát, giáo dục tham gia lao động tại cộng đồng với hình thức phù hợp; các biện pháp bảo vệ, hỗ trợ khác quy định tại Điều 71 Luật trẻ em nhằm thúc đẩy việc phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng.

Bãi bỏ 6 Nghị định trong lĩnh vực ngân hàng: Chính phủ ban hành Nghị định 42/2018/NĐ-CP bãi bỏ một số Nghị định của Chính phủ trong lĩnh vực ngân hàng gồm: Nghị định số 14/CP ngày 02/3/1993 của Chính phủ ban hành bản Quy định về chính sách cho hộ sản xuất vay vốn để phát triển nông - lâm - ngư - diêm nghiệp và kinh tế nông thôn; Nghị định số 48/2001/NĐ-CP ngày 13/8/2001 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân; Nghị định số 69/2005/NĐ-CP ngày 26/5/2005 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 48/2001/NĐ-CP ngày 13/8/2001 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân…

Tập trung sản xuất sản phẩm cơ khí quan trọng: Tại Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tập trung phát triển một số loại vật liệu cơ bản phục vụ ngành cơ khí, nhằm tận dụng lợi thế so sánh về nguồn khoáng sản trong nước với trình độ công nghệ tiên tiến, có tính cạnh tranh cao và thân thiện với môi trường; tạo lập thị trường ở các phân ngành đã chọn, tạo tiền đề cho ngành cơ khí làm chủ công nghệ và nâng cao khả năng chế tạo. Ban hành các chế tài để bảo hộ hàng trong nước đã sản xuất được, phù hợp cam kết quốc tế.

Thí điểm thanh tra chuyên ngành an toàn thực phẩm tại 7 địa phương: Chính phủ ban hành Nghị quyết 19/NQ-CP về việc thí điểm thực hiện thanh tra chuyên ngành an toàn thực phẩm (ATTP) tại huyện, quận, thị xã và xã, phường, thị trấn của 7 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gồm: Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Đồng Nai, Gia Lai trên cơ sở sử dụng đội ngũ công chức, viên chức hiện có, không làm tăng biên chế. Phạm vi thí điểm không quá 25% số đơn vị hành chính cấp huyện thuộc 7 tỉnh, thành phố và không quá 20% số đơn vị hành chính cấp xã thuộc đơn vị hành chính cấp huyện được lựa chọn thí điểm. Thời gian thí điểm là 1 năm. (Báo Chính Phủ Điện Tử 24/3, Chí Kiên)Về đầu trang

TƯ DUY MỚI - CÁCH LÀM HAY

Diễn đàn "Chiều thứ 6 nghe dân nói" – cách làm hay ở Hà Giang

Chiều 23.3, tại tổ 6, phường Quang Trung, HĐND thành phố Hà Giang đã tổ chức Diễn đàn “Chiều thứ 6 nghe dân nói” tháng 3. 2018. Đồng chí Trần Mạnh Lợi, Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND thành phố chủ trì Diễn đàn. Cùng dự có lãnh đạo UBND thành phố; các phòng, ban chuyên môn, UBND phường Quang Trung và đông đảo nhân dân tổ 6.

Tại diễn đàn, nhân dân tổ 6 đã phản ánh với lãnh đạo HĐND thành phố về các vấn đề: Các hộ chăn nuôi gia súc trong khu dân cư gây ô nhiễm môi trường; không có cống thoát nước hai bên đường Phạm Hùng Cao gây ngập úng khi trời mưa; làm đường giao thông lên khu vực canh tác trên núi để đảm bảo cho người dân đi lại an toàn; có giải pháp khoanh nuôi bảo về rừng, bảo vệ nguồn nước; hỗ trợ cây, con giống; tập huấn nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ công chức cấp xã để giải quyết kịp thời các thủ tục hành chính cho người dân; hỗ trợ giải quyết các thủ tục, chính sách cho nạn nhân chất độc da cam/điôxin; nâng phụ cấp cho cán bộ tổ dân phố; cấp bìa đỏ cho nhà văn hóa tổ 6…

Giải đáp các ý kiến, kiến nghị của người dân tại diễn đàn, đồng chí Trần Mạnh Lợi tiếp thu ý kiến của người dân đồng thời giao cho UBND phường Quang Trung khảo sát, bàn giải pháp để giải tỏa hành lang, làm cống thoát nước ai bên đường Phạm Hùng Cao tạo điều kiện cho người dân sinh sống thuận lợi; rà soát, đánh giá lại các loại cây trồng có thế mạnh của địa phương báo cáo UBND thành phố để hỗ trợ, giúp người dân đẩy mạnh sản xuất hàng hóa; giao UBND thành phố chỉ đạo các phòng chức năng phối hợp với phường Quang Trung đo đạc, thực hiện các thủ tục cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho nhà văn hóa tổ 6; hỗ trợ người dân làm đường giao thông lên khu vực canh tác đảm bảo an toàn.

Đối với chính sách về chất độc da cam/điôxin và phụ cấp đối với cán bộ thôn theo Nghị quyết 60 của HĐND tỉnh, đồng chí Trần Mạnh Lợi nêu những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện, đồng thời sẽ kiến nghị lên cấp trên để có giải pháp giải quyết. (Báo Hà Giang 24/3, Biện Luân)Về đầu trang

MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ  - HỘI NHẬP

Nền kinh tế Việt Nam 2018 có nhiều khởi sắc

Qua các hội thảo và Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2017 (PCI), bức tranh nền kinh tế Việt Nam đang có nhiều khởi sắc.

Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia đưa ra dự báo rằng, tăng trưởng kinh tế quý I sẽ tăng mạnh so với mức 5,15% cùng kỳ năm ngoái. Thông tin này được báo chí trong tuần dành nhiều sự quan tâm. Rõ ràng, tiếp sau đà tăng trưởng mạnh mẽ của năm ngoái, các nhận định và dự báo về tình hình kinh tế Việt Nam của quý I, cũng như của cả năm nay ngày càng lạc quan hơn.

Tại hội thảo Kịch bản kinh tế Việt Nam 2018 nhiều tờ báo đã cho biết khi chủ tọa đề nghị với các chuyên gia tham dự hội thảo: "Hãy dùng một từ để nhận xét về kinh tế Việt Nam năm 2017?". Có 4 từ được lựa chọn, đó là lòng tin, hy vọng, cơ hội và bứt phá.

Lòng tin được nói tới ở đây là lòng tin của nhà đầu tư đối với chính sách điều hành của Chính phủ. Đây là động lực của mọi động lực phát triển và tăng trưởng. Hy vọng là khi kinh tế có sự chuyển hướng từ giai đoạn cũ có phần trì trệ - phục hồi sang giai đoạn ổn định - phát triển đến năm 2020 và những năm tiếp theo. Năm ngoái là năm nhiều cơ hội được tạo ra cho cho cộng đồng doanh nghiệp cũng như cả nền kinh tế một đà mới bước vào năm biến chuyển 2018.

Trong khi đó, tại buổi hội thảo "Triển vọng kinh tế Việt Nam 2018" do ngân hàng HSBC tổ chức, giới chuyên môn dự báo: với đà tăng trưởng của kinh tế thế giới và khu vực, kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh trong năm nay. Cùng với đó, việc tham gia các hiệp định thương mại tự do sẽ thúc đẩy quá trình cải cách diễn ra nhanh hơn.

Bên cạnh đó, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 2017 vừa được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam công bố, như thường lệ, kết quả này thu hút sự quan tâm rất lớn của báo giới. Năm nay, lần đầu tiên Quảng Ninh về đích với điểm số 70,69 trên thang điểm 100, vươn lên vị trí quán quân. Đà Nẵng đã xuống vị trí thứ 2 sau 7 năm dẫn đầu cả nước.

Điểm số bình quân của Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2017 cao nhất trong 13 lần công bố chỉ số này. Gần như các tỉnh đều tăng điểm số của mình. Các tỉnh thuộc nhóm cuối Bảng xếp hạng cũng đã có nhiều bứt phá, rút ngắn khoảng cách với các thành phố thuộc nhóm tiên phong.

Qua khảo sát cho thấy, 52% doanh nghiệp tư nhân trong nước và 60% doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cho biết sẽ mở rộng quy mô kinh doanh trong 2 năm tới. Đây là chỉ số niềm tin cao nhất của cộng đồng kinh doanh kể từ 7 năm trở lại đây. (Kênh VTV1 – Toàn cảnh báo chí lúc 7h ngày 25/3)Về đầu trang

Gần 63% doanh nghiệp Việt Nam thực hiện tự động hóa

Kết quả từ Bảng xếp hạng 500 Doanh nghiệp Việt Nam thịnh vượng năm 2018 do Vietnam Report công bố cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam đã có ý thức cao hơn về việc nâng cao năng suất lao động thông qua tự động hóa.

Cũng theo khảo sát, các doanh nghiệp Việt Nam cho rằng để thúc đẩy tăng trưởng năng suất thì phải hướng tới phát triển công nghệ, trong đó, kết hợp giữa lực lượng lao động và công nghệ để đạt những hiệu quả tối ưu.

48,6% doanh nghiệp trong nước khẳng định đào tạo lực lượng lao động về cách thức sử dụng dữ liệu hoặc tăng cường công nghệ vận hành từ xa. (VTV.vn 25/3)Về đầu trang

Rào cản nào khiến 48% doanh nghiệp tại Việt Nam kinh doanh thua lỗ?

Các chuyên gia cho rằng vẫn cần thêm nhiều hành động cụ thể, mạnh mẽ để tạo ra đột phá trong cải thiện môi trường kinh doanh, xóa bỏ rào cản cho doanh nghiệp.

Tỷ lệ doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ tăng cao liên tục từ năm 2012, và hiện nay lên đến hơn 48% tổng số doanh nghiệp. Trong 3 khu vực, các doanh nghiệp tư nhân (DNTN) và doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có tỷ lệ thua lỗ cao hơn hẳn so với doanh nghiệp Nhà nước (DNNN). Đây là một thực tế đáng báo động của khu vực DNTN đã được chỉ ra trong báo cáo Đánh giá kinh tế Việt Nam thường niên 2017 do Trường Đại học Kinh tế Quốc dân mới công bố.

Những bất lợi trong kinh doanh mà khu vực DNTN đang phải đối mặt đã được PGS.TS Tô Trung Thành, Đại diện nhóm nghiên cứu, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân chỉ rõ. Trong đó, tiếp cận tín dụng vẫn là một trong những trở ngại lớn nhất.

Số liệu điều tra trực tiếp 695 doanh nghiệp mà nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân thực hiện cho thấy, có tới 58% doanh nghiệp được hỏi cho biết đã từng nộp đơn xin vay vốn ngân hàng. Tỷ lệ này cũng tăng lên theo quy mô doanh nghiệp, trong khi chỉ có 50% doanh nghiệp vừa và nhỏ nộp đơn vay vốn thì tỷ lệ đối với doanh nghiệp qui mô lớn là 70%. Tỷ lệ này cũng thay đổi theo hình thức sở hữu doanh nghiệp, trong đó, DNNN và DNTN có tỷ lệ nộp đơn vay vốn lần lượt là 68% và 60%, trong khi tỷ lệ này đối với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài là 48%.

Bên cạnh đó, vẫn có sự phân biệt đối xử khác nhau giữa các DN nhỏ và vừa và các DN lớn, giữa các loại hình doanh nghiệp sở hữu tư nhân và sở hữu Nhà nước. Kết quả thực nghiệm cho thấy, xác suất hồ sơ xin vay vốn được chấp nhận giải ngân sẽ bị giảm khoảng 23,7 đến 26 điểm phần trăm nếu doanh nghiệp nộp hồ sơ thuộc DN nhỏ và vừa. Tuy nhiên, sẽ tăng khoảng từ 2,3 đến 2,8 điểm phần trăm nếu đó là DN thuộc sở hữu Nhà nước.

Cũng theo nghiên cứu của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, chi phí sử dụng lao động trong các doanh nghiệp tăng có xu hướng tăng trong thời gian qua đã làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp khoảng 11,4%. Điều này khiến tỷ lệ doanh nghiệp có lợi nhuận giảm đáng kể từ mức 63,2% xuống còn 40,6%.

Tỷ lệ chi phí logistics trên GDP của Việt Nam đứng mức 20,9% GDP năm 2017, cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực như Trung Quốc (14,5%), Singapore (8,5%), Malaysia và Philippines (13%)… cũng đang khiến doanh nghiệp Việt Nam “vất vả” trong kiểm soát chi phí. Có tới 44% doanh nghiệp được hỏi nhận định chi phí vận tải đường bộ ở mức cao và rất cao, 17% doanh nghiệp thường xuyên phải trả các khoản phí không chính thức.

Đặc biệt, chi phí phi chính thức gây ra cho doanh nghiệp bởi các thủ tục hành chính vẫn tương đối lớn. Có tới 19,6% doanh nghiệp phản ánh phải bỏ ra trên 30% thời gian việc xử lý các vấn đề liên quan đến thuế và hải quan. Nhiều thủ tục hành chính phức tạp còn khiến nhiều doanh nghiệp phải quà cáp cho bán bộ thuế trong các lần gặp.

Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, ngoài những khó khăn trên, thực tế, chi phí tuân thủ còn lớn hơn nhiều. Đơn cử như những điều kiện kinh doanh mà Chính phủ đang yêu cầu các bộ, ngành phải cắt giảm từ 30-50%. Nếu làm được, chi phí tuân thủ của DN sẽ giảm đi đáng kể. (VOV.vn 25/3, Cẩm Tú)Về đầu trang

PHÂN TÍCH -BÌNH LUẬN

Cán bộ cần phải “ra đường” nhiều hơn

Để hoàn thành tốt công việc được giao và phục vụ người dân tốt hơn, yêu cầu công tác đòi hỏi cán bộ công chức(CBCC) phải năng động, sáng tạo và đặc biệt là phải sâu sát với cơ sở, đời sống thường ngày của người dân, va chạm với thực tiễn xã hội. Nhưng thực tế vẫn có những hiện tượng không như thế.

Từ lâu đã tồn tại lối suy nghĩ là làm cán bộ nhà nước, tức công việc gắn với hồ sơ, giấy tờ hay còn gọi là làm việc bàn giấy, ngồi phòng lạnh để so sánh với công nhân, lao động chân tay. Điều này khá chính xác với nền hành chính mệnh lệnh kế hoạch, tập trung, bao cấp trước đây, tuy nhiên khi đất nước đổi mới, cùng với sự phát triển nhanh chóng, toàn diện, mọi mặt của đời sống xã hội thì công việc của CBCC không còn như xưa nữa.

Ngày nay, để hoàn thành tốt công việc được giao và phục vụ người dân tốt hơn thì CBCC phải năng động, sáng tạo hơn, đặc biệt là cần phải sâu sát với cơ sở, đời sống thường ngày của người dân, va chạm với thực tiễn xã hội. Bởi vì, các vấn đề, các mối quan hệ xã hội thay đổi rất nhanh nên rất cần có sự tiếp cận, nắm bắt để điều chỉnh, xử lý kịp thời, hiệu quả các vấn đề bất cập, khó khăn, vướng mắc phát sinh.

Hiện nay, không ít CBCC vẫn còn lối suy nghĩ công việc hành chính là ngồi một chổ tại trụ sở để người dân, tổ chức tìm đến để giải quyết mà không cần phải xuống cơ sở, tiếp xúc với người dân tại cơ sở. Thậm chí những CBCC trẻ mới vào các cơ quan nhà nước ít chịu đi cơ sở, xâm nhập thực tế, địa bàn để nắm tình hình, tích lũy vốn kiến thức phục vụ công việc nên khi giải quyết các yêu cầu của công dân thì cứng nhắc, máy móc, gây khó cho người dân.

Nhiều trường hợp đi thực tế hình thức, đối phó qua loa, không xuống địa bàn, tiếp xúc với dân mà chỉ làm việc với cán bộ, nghe báo cáo nên không nắm rõ tình hình thực tế ở cơ sở, tâm tư nguyện vọng của người dân.

Hay tình trạng xuống địa bàn theo kiểu “cưỡi ngựa, xem hoa”, coi việc đi thực tế như đi du lịch, vui chơi là chính! Điều này vừa mất thời gian, vừa lãng phí nguồn lực nhưng chẳng mang lại kết quả gì, đôi khi làm khó thêm cho cơ sở vì phải đón tiếp, cơm nước... Đây là nguyên nhân dẫn đến nhiều chủ trương chính sách được ban hành không khả thi, không đi vào thực tế cuộc sống do xa rời thực tiễn đời sống xã hội rất sinh động đang diễn ra và thay đổi từng ngày, từng giờ.

Do đó, việc phải thay đổi tư duy, tác phong làm việc theo hướng gần dân, bám sát địa bàn, lĩnh vực quản lý là yêu cầu cấp thiết, quan trọng.

Theo đó, CBCC phải từ bỏ lối suy nghĩ làm cán bộ nhà nước là làm công việc bàn giấy, ngồi phòng lạnh. CBCC dù làm việc làm việc ở bất cứ ngành, lĩnh vực nào cũng cần phải ra khỏi trụ sở, phòng làm việc để đi thực tế, nhiều hay ít tùy thuộc vào tính chất, nội dung công việc được giao.

Việc đi thực tế ở đây phải được hiểu là tăng cường tiếp xúc, giao lưu với người dân, xuống địa bàn bất cứ thời gian nào trong giờ hành chính hay ngoài giờ hành chính, chứ không phải chỉ là đi theo chương trình, kế hoạch định sẵn.(Giáo Dục & Thời Đại 25/3, Vĩnh Linh)Về đầu trang

QUẢN LÝ

GDP tăng trưởng nhưng người dân không tăng được tiền tiết kiệm, phải đi vay để tiêu dùng

Không phải GDP, phần tiền tiết kiệm (saving) mới là cái quan trọng nhất, Tiến sĩ Bùi Trinh nói với Trí Thức Trẻ. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh, đa số người dân Việt Nam phần tiết kiệm ngày càng bị giảm dần.

Nghiên cứu gần đây của Tiến sĩ Bùi Trinh (Viện nghiên cứu Phát triển Việt Nam) và Tiến sĩ Nguyễn Hồ Phi Hà (Học viện Tài chính) đã chỉ ra một nghịch lý dù GDP tăng cao nhưng đa số người dân không có tiền để dành mà phải đi vay một phần để tiêu dùng.

Cụ thể, theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, tỷ lệ giữa tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình từ năm 2010-2017 luôn ổn định ở mức 70-72% GDP. Như vây, mức tiêu dùng bình quân đầu người của dân cư bình quân tháng năm 2016 khoảng 2.572 nghìn đồng, trong khi đó thu nhập từ sản xuất bình quân tháng khoảng 2.386 nghìn đồng.

Từ những con số này, theo hai tác giả nhận định là tín hiệu khá nguy hiểm, không những thế nó còn cho thấy việc GDP tăng cao hầu như không có ý nghĩa với người dân.

Trao đổi thêm với Tiến sĩ Bùi Trinh, ông cho biết, về nguyên tắc tổng thu nhập của các khu vực thể chế bao gồm: thu nhập từ sản xuất, thu nhập từ sở hữu và thu nhập từ chuyển nhượng (kiều hối đối với hộ).

Phần tiền tiết kiệm (saving) được tính toàn bằng cách lấy tổng thu nhập trừ trừ đi tiêu dùng cuối cùng. Phần tiền này là nguồn cơ bản để đầu tư.

"Đối với một nền kinh tế, tiết kiệm là yếu tố quan trọng hơn cả GDP", Tiến sĩ Bùi Trinh nói và nhấn mạnh khi nguồn lực kinh tế qua tiết kiệm ngày càng nhỏ thì để tồn tại và tiếp tục sản xuất thì vay mượn là chuyện đương nhiên. Bởi đầu tư (Gross capital formation) = tiết kiệm (saving) + vay mượn (borrowing).  

"Khi bình quân chung cả nền kinh tế thu nhập từ sản xuất không đủ chi tiêu dùng thì họ sẽ phải vay để tiêu dùng và tiền chuyển nhượng (kiều hối) nhẽ ra để đầu tư thì họ phải bù đắp cho chi tiêu", ông nói thêm.

Việc vay tiêu dùng, theo Tiến sĩ Bùi Trinh có thể giúp cho GDP tăng trưởng. Tuy nhiên, điều này kéo theo việc nguồn lực ngày càng yếu đi và rủi ro lạm phát, nợ xấu không thể không tính đến.

Một nghịch lý nữa được ông đặt ra là tuy thu nhập của người dân không đủ chi tiêu nhưng hệ số co giãn của người lao động trong nền kinh tế đang là rất lớn (khoảng 80% tổng giá trị gia tăng) và co giãn của vốn chỉ khoảng 20%.

Như vậy, ông cho rằng không tăng lương cũng không được, nhưng nếu tăng lương sẽ làm nguồn lực ngày càng nhỏ. Theo ông, hiện các chính sách đều chưa hướng đến việc giải quyết các nút thắt trên.

"Phải tập trung vào năng suất lao động cũng như chính sách cần hướng tới sự phồn vinh của đất nước", Tiến sĩ Bùi Trinh nhấn mạnh.

Cũng trong nghiên cứu của Tiến sĩ Bùi Trinh và Tiến sĩ Phi Hà lần này cũng làm rõ một vài hiện trạng khác từ các dữ liệu của Tổng cục Thống kê.

Đơn cử như chỉ tiêu thu nhập của người lao động, một nhân tố của GDP, được hiểu bao gồm thu nhập bằng tiền và hiện vật của người này trong quá trình sản xuất. Tổng cục Thống kê hàng năm không công bố chỉ tiêu này, tuy nhiên, dựa vào bảng cân đối liên ngành có thể ước tính thu nhập từ sản xuất chiếm khoảng 53% GDP.

Như vậy, GDP bình quân đầu người năm 2016 ước tính 2.188 USD, tăng 25% so với năm 2012. Tuy nhiên, một điều trớ trêu, theo hai tác giả, thu nhập từ sản xuất bình quân của người lao động chỉ tăng 1,2%, khoảng 870 USD năm 2016 so với 860 USD hồi 2012.

Các con số cho thấy phần thặng dư bình quân rất cao do nền kinh tế phụ thuộc vào khu vực FDI nên thặng dư dù tăng cao nhưng thực tế không giúp ích nhiều cho Việt Nam, lợi ích đa phần thuộc về khu vực nước ngoài.

Số liệu Tổng cục Thống kê cũng cho thấy tổng thu nhập bình quân đầu người năm 2016 ước đạt 1.648 USD. Trong đó, khoản thu nhập bình quân đầu người ngoài sản xuất (từ sở hữu và từ chuyển nhượng) khoảng 778 USD. Nếu tỷ lệ giữa thu nhập từ sản xuất so với tổng thu nhập năm 2012 khoảng 74 – 75% thì đến năm 2016, tỷ lệ này giảm xuống 53%, phần còn lại là thu nhập kiếm ngoài sản xuất, chiếm 47%.

Điều này cho thấy GDP bình quân đầu người và thu nhập bình quân đầu người là hoàn toàn khác nhau. Bên cạnh đó, nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào bên ngoài, từ khâu sản xuất, lưu thông và phân phối lại. (Báo điện tử Trí Thức Trẻ 25/3, Đức Minh)Về đầu trang

Sẽ giữ lại 70% phần tăng thu ngân sách địa phương làm nguồn cải cách tiền lương

Đây là thông tin được Phó thủ tướng Vương Đình Huệ cho biết tại tọa đàm “Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) và cải cách chính sách tiền lương”, do Hội đồng lý luận T.Ư tổ chức ngày 24.3 tại Hà Nội.

Theo Phó thủ tướng Vương Đình Huệ, Chính phủ đang tập trung xây dựng 2 đề án: Đề án cải cách chính sách tiền lương (CCCSTL) đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động (NLĐ) trong doanh nghiệp; và Đề án cải cách chính sách BHXH.

Đề án CCCSTL đặt ra định hướng chi trả thu nhập của cán bộ, công chức theo thông lệ quốc tế là tỷ trọng lương chiếm không quá 70% thu nhập và phụ cấp không được quá 30%. Đồng thời, quy định thủ trưởng cơ quan, đơn vị có quyền chi khoản 10% quỹ tiền thưởng (trong lương) trả thêm cho NLĐ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và có quỹ lương để thủ trưởng bộ, địa phương tuyển dụng nhân tài.

Đề án cũng bãi bỏ cách tính lương theo hệ số mà quy định về số tuyệt đối trong thang, bảng lương; xác định mức lương tối thiểu là mức sàn thấp nhất, được luật hóa. Ngoài ra còn quy định mức lương tối thiểu giờ; bãi bỏ can thiệp của nhà nước vào thang, bảng lương của doanh nghiệp, tiến tới liên thông tiền lương khu vực công và tư.

Theo Phó thủ tướng, về nguồn CCCSTL, từ nay Chính phủ sẽ giữ lại 70% phần tăng thu ngân sách của địa phương, giữ lại 50% số vượt thu của ngân sách T.Ư để bổ sung tạo nguồn thực hiện từ năm 2021. Sau khi đề án được thông qua từ năm 2021, cả nước mới bắt đầu thực hiện CCCSTL.

Với đề án cải cách chính sách BHXH, đề án thiết kế chính sách đa tầng. Tầng thứ nhất là tiền trợ cấp của Chính phủ cho người cao tuổi do BHXH chi trả, bổ sung hình thức cho người thụ hưởng đóng thêm theo nguyên tắc đóng - hưởng. Tầng thứ hai là bao phủ đối tượng có thu nhập thì có đóng BHXH, trong đó nhà nước hỗ trợ một phần cho nông dân, người nghèo, người thu nhập thấp để hình thành văn hóa đóng - hưởng. Tầng thứ ba là thiết kế chính sách hưu trí tự nguyện lưu thông với khối thị trường.

Đề án quy định NLĐ tham gia BHXH trên 10 năm thì mới bắt đầu được hưởng trợ cấp hưu trí. Đề án cũng đặt ra vấn đề điều chỉnh tuổi hưu, tập trung theo phương án điều chỉnh tăng tuổi từ ngày 1.1.2021 theo lộ trình với NLĐ bình thường trong điều kiện lao động bình thường tăng thêm mỗi năm 3 tháng cho đến khi nam đủ 62 tuổi, nữ đủ 60 tuổi. (Thanh Niên 25/3, T.Hằng)Về đầu trang

Rút đề xuất hợp nhất cơ quan thu thuế và bảo hiểm xã hội

 Sau khi tiếp thu ý kiến các bộ ngành, Bộ Tài chính đã rút lại đề xuất hợp nhất cơ quan thu thuế và bảo hiểm xã hội (BHXH) trong Dự thảo Luật Quản lý Thuế sửa đổi.

Tại Dự thảo Luật Quản lý Thuế sửa đổi đưa ra lấy ý kiến lần đầu vào tháng 11/2017, Bộ Tài chính đề xuất hai phương án: cơ quan thuế sẽ thu cả thuế và BHXH bắt buộc hoặc chỉ phối hợp giữa cơ quan thuế và BHXH như hiện nay.

Trong đó, cơ quan soạn thảo nghiên về phương án sáp nhập, và trao thêm cho thuế chức năng thu BHXH. Tuy vậy, đề xuất sáp nhập thu thuế và bảo hiểm đã gây nhiều tranh cãi.

Góp ý cho các đề xuất trên, Bộ LĐ-TB&XH đề nghị giữ nguyên quy định hiện hành, tức thuế chỉ thu các khoản thuộc ngân sách nhà nước, còn BHXH vẫn thu các khoản bảo hiểm. Với trường hợp hợp nhất, Bộ LĐ-TB&XH  đề nghị Bộ Tài chính bổ sung kinh nghiệm quốc tế với vấn đề trên.

Các Bộ Nội vụ, TT&TT, KH&ĐT, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)... cũng cho rằng, Bộ Tài chính cần cân nhắc lại phương án hợp nhất thu thuế và BHXH. Vì việc hợp nhất 2 cơ quan có thể phát sinh thêm công việc cho cơ quan thuế. Trong khi đó, dữ liệu và nhân sự phục vụ cho ngành thuế cũng còn nhiều bất cập.

Bộ Tư pháp đánh giá, việc chuyển đổi, sáp nhập thu thuế và BHXH sẽ ảnh hưởng lớn đến việc sắp xếp bộ máy của hai cơ quan. Vì vậy, Bộ Tư pháp đề nghị Bộ Tài chính có đánh giá tác động một cách kỹ lưỡng đối với đề xuất sáp nhập 2 cơ quan thu.

Mặt khác, Bộ Tư pháp cũng cho rằng, cần làm rõ thu các khoản BHXH mang tính chất bắt buộc có thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Quản lý Thuế hay không?

Đặc biệt, có tới 17/63 cục thuế đề nghị chọn giải pháp giữ nguyên cơ quan thu thuế và BHXH độc lập như hiện tại. Theo các đơn vị này, thuế và BHXH là 2 khoản thu khác nhau về tính chất, chính sách thu và cơ quan quản lý.

Đại diện các cục nêu quan điểm, cơ quan thuế thực hiện chức năng quản lý thu thuế và các khoản thu khác ngân sách đã rất khó khăn, doanh nghiệp chây ỳ nợ thuế nhiều. Chưa kể, một số khoản thu cơ quan thuế còn phải ủy nhiệm thu cho các tổ chức khác, nên việc thực hiện thêm nhiệm vụ thu là rất khó khăn.

“Việc sáp nhập thu thuế và BHXH có thể dẫn đến việc người dân hiểu nhầm là cơ quan thuế tranh thu quá nhiều khoản”, các cục thuế góp ý.

Tiếp thu những ý kiến trên, lãnh đạo Bộ Tài chính nêu quan điểm, nội dung trên sẽ được sửa đổi theo hướng: Cơ quan thuế chỉ phối hợp ở mức độ trao đổi, cung cấp thông tin với cơ quan BHXH. Đồng thời, hai cơ quan sẽ phối hợp thành lập đoàn kiểm tra, thanh tra chuyên ngành... (Tiền Phong 25/3, Lê Hữu Việt)Về đầu trang

Bộ LĐ-TB&XH: Nhiều sai phạm quản lý tài chính, sử dụng tài sản công

Kết luận của Kiểm toán Nhà nước về quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công năm 2016 của Bộ LĐ-TB&XH nêu rõ: “Dù cơ bản thực hiện tốt quy định, chưa phát hiện hành vi tham nhũng, dù vậy vẫn còn hàng loạt tồn tại, hạn chế cần khắc phục”.

Cụ thể hơn, theo Kiểm toán Nhà nước, Bộ LĐ-TB&XH giao quỹ lương công chức và số lao động hợp đồng không đầy đủ căn cứ, không rõ ràng công chức và lao động hợp đồng, chưa được phê duyệt của Bộ Nội vụ. Điều đó dẫn tới quỹ lương giao tăng hơn 8,1 tỷ đồng. Việc giao dự toán thực hiện chính sách người có công với cách mạng chậm, phải thay đổi nhiều lần và cao hơn thực tế, dẫn tới dư hơn 587 tỷ đồng và phải hủy bỏ hơn 453 tỷ đồng.

Qua kiểm toán chi tiết 7 dự án đầu tư xây dựng cơ bản của Bộ LĐ-TB&XH cũng phát hiện nhiều vấn đề sai sót. Điển hình là công tác thiết kế còn hạn chế, phải thay đổi nhiều lần làm tăng chi phí; một số dự án có khối lượng thừa một số hạng mục, hoặc thiết kế không phù hợp, nên phải điều chỉnh. Thực hiện chưa đúng quy định trong đấu thầu về chọn nhà thầu, ký hợp đồng chưa phù hợp với tính chất công việc; tiến độ hoàn thành một số dự án chậm. Đến hết năm 2016 còn 12 dự án nợ đọng hơn 9,1 tỷ đồng.

Cục Việc làm (Bộ LĐTB&XH) nghiệm thu dự án phần mềm quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam hiện còn thiếu một số chức năng so với thiết kế ban đầu, nhà thầu tự thay đổi, bổ sung một số tính năng không có trong thiết kế, nhưng vẫn được nghiệm thu.

Trong quản lý sự nghiệp giáo dục đào tạo, Kiểm toán Nhà nước cho rằng, một số trường thuộc quản lý của Bộ LĐ-TB&XH thu học phí vượt trần quy định. Điều đó dẫn đến việc miễn, giảm học phí vượt quy định. Cụ thể, có 3/5 cơ sở đào tạo được kiểm toán thu học phí vượt mức quy định đối với hệ cao đẳng và đại học chính quy; còn thu ngoài quy định một số khoản tiền như tiền thi lại, tổ chức lễ tốt nghiệp, lệ phí thi cải thiện điểm, thi lại tốt nghiệp, phôi bằng...

Hầu hết các trường thuộc bộ này quản lý thực hiện tách nhỏ việc mua sắm thiết bị, sửa chữa tài sản thành các gói dưới 100 triệu đồng để được mua sắm theo hình thức trực tiếp (không thông qua đấu thầu), theo kiểm toán, cách làm đó chưa đúng quy định.

Công tác tuyển sinh của trường nghề trong ba năm (2014, 2015, 2016) cho thấy không đạt kế hoạch. Ví như Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định năm 2016 chỉ tuyển được gần 599 chỉ tiêu, đạt 38% kế hoạch; Trường Đại học Lao động Xã hội - cơ sở Sơn Tây chỉ tuyển được 46 chỉ tiêu, bằng 18% kế hoạch...

Với Dự án “Đổi mới và phát triển dạy nghề”, có tổng kinh phí thực hiện 18.886 tỷ đồng, trong đó vốn từ ngân sách trung ương là 8.986 tỷ đồng. Tuy nhiên, qua kiểm toán cho thấy, dù kinh phí cho chương trình lớn nhưng đế tiến độ thực hiện chậm; trong thực hiện ký kết hợp đồng chưa quan tâm thương thảo để giảm giá.

Hợp đồng ký còn có điều khoản tạm ứng 2 lần với số tiền bằng 75% giá trị hợp đồng, vượt 25% so với quy định...

Từ kết quả trên, Kiểm toán Nhà nước kiến nghị xử lý về tài chính hơn 9,3 tỷ đồng; kiến nghị Bộ LĐ-TB&XH cần chỉ đạo các đơn vị có liên quan chấn chỉnh các tồn tại trong quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, đẩy nhanh tiến độ dự án, quyết toán dự án…

Về việc quản lý đất đai của Bộ LĐ-TB&XH, theo Kiểm toán Nhà nước, còn tồn tại một số vấn đề chưa giải quyết dứt điểm. Cụ thể, hiện bộ này quản lý, sử dụng 54 cơ sở nhà, đất làm trụ sở, nhưng còn 12 cơ sở bị tranh chấp, lấn chiếm hoặc hồ sơ pháp lý chưa rõ ràng (tổng diện tích 112.926m2); một số đơn vị có các hộ dân ở đan xen trong khuôn viên; 20 cơ sở chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất... (Tiền Phong 24/3, Khánh Chi)Về đầu trang

Hoàn thiện Đề án xây dựng bộ chỉ số đánh giá mức độ phát triển doanh nghiệp

Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ tại cuộc họp về Đề án xây dựng bộ chỉ số đánh giá mức độ hỗ trợ và phát triển doanh nghiêp.

Phó Thủ tướng giao Tổng cục Thống kê chủ trì, phối hợp với các cơ quan tiếp thu ý kiến các đại biểu dự họp, hoàn thiện Đề án xây dựng bộ chỉ số đánh giá mức độ phát triển doanh nghiệp, trong đó lưu ý bổ sung tiêu chí đánh giá về tình hình phát triển doanh nghiệp của từng địa phương và của cả nước, tiêu chí đánh giá về chất lượng phát triển doanh nghiệp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 4/2018.

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tiếp tục hoàn thiện và triển khai công bố các chỉ số PCI và MEI.

Hàng năm, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục thống kê) chủ trì, phối  hợp với Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức họp báo công bố bộ chỉ số đánh giá mức độ phát triển doanh nghiêp. (Thanh Tra 24/3)Về đầu trang

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

Hà Nội: Hiệu quả từ cơ chế “một cửa”

Có mặt tại UBND phường Phúc Đồng (quận Long Biên, TP Hà Nội), anh Nguyễn Văn Đà cư trú tại tổ dân phố số 7 của phường đang làm thủ tục đăng ký khai sinh cho con.

Tại đây, các thủ tục hành chính đều thông qua bộ phận “một cửa”. Nhân viên hành chính tiếp nhận hồ sơ và hướng dẫn anh làm các thao tác đăng ký khai sinh cho con thông qua hệ thống máy tính. Trên máy sẽ hiện ra các danh mục cần đăng ký thông tin, anh Đà chỉ việc kê khai theo đúng yêu cầu, sau đó kiểm tra lại thông tin và xác nhận trên hệ thống. Khi đã có kết quả, anh được nhân viên hành chính phường thông báo lên nhận giấy khai sinh cho con.

Anh Nguyễn Văn Đà cho biết: “Việc đăng ký khai sinh tại bộ phận “một cửa” ở đây rất thuận tiện, quy trình ngắn gọn. Tôi không phải đi bất cứ chỗ nào để xin chữ ký, đóng dấu hoặc xin các giấy tờ liên quan”.

Với phương châm phục vụ chu đáo, tận tình, nhân viên làm việc tại bộ phận “một cửa” đã rất cẩn thận trong giải quyết các thủ tục hành chính; hướng dẫn người dân đến giải quyết các công việc bảo đảm đúng, đủ, chặt chẽ, khoa học, không gây phiền hà và tiết kiệm thời gian.

Ngay tại phòng “một cửa” có bảng chấm điểm điện tử để người dân có thể trực tiếp bấm nút đánh giá mức độ hài lòng, hiệu quả đối với từng nhân viên. Có thể thấy rằng, cơ chế “một cửa” hiện nay tại UBND phường Phúc Đồng đang hoạt động hiệu quả, góp phần thiết thực trong việc đổi mới cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả công tác tại địa phương. (Quân Đội Nhân Dân 25/3, Vũ Duy)Về đầu trang

THẾ GIỚI

Chính phủ Mỹ chính thức thoát nguy cơ đóng cửa lần thứ 3

Ngày 23/3, chính phủ Mỹ thoát khỏi nguy cơ đóng cửa lần thứ 3 trong năm nay sau khi lưỡng viện Mỹ thông qua dự luật chi tiêu ngân sách tới hết tài khóa 2018 vào tháng 9.

Theo đó, lưỡng viện Mỹ đã đạt thỏa thuận về dự luật chi tiêu trị giá 1.300 tỷ USD, trong đó dành 695 tỷ USD cho quốc phòng và 591 tỷ USD cho các khoản chi tiêu khác, bao gồm một dự luật khuyến khích các nhà chức trách bang và liên bang báo cáo nhiều hơn thông tin cho hệ thống kiểm tra lý lịch người mua súng. (VTV.vn 25/3)Về đầu trang./.

More

Lượt truy cập: 12.108.836 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này