Bản tin cải cách hành chính ngày 31/5/2018

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH. 1

1.  Vẫn đề xuất đánh thuế 45% với tài sản kê khai không trung thực. 1

2.  Công bố đơn giản hoá, nhưng thực chất chưa cắt giảm điều kiện kinh doanh. 3

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG.. 5

3.  Hà Nội: Đích đến là sự hài lòng của người dân. 5

4.  Đắk Nông: Kiểm tra công tác cải cách hành chính nhằm hỗ trợ doanh nghiệp. 6

5.  Nình Bình: Nâng cao hiệu quả kiểm soát thủ tục hành chính. 6

LĨNH VỰC CẢI CÁCH. 8

6.  Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cần khẩn trương đẩy nhanh tinh giản biên chế. 8

7.  Khuyến khích hợp tác xã áp dụng khai thuế điện tử. 8

8.  Bộ NN&PTNT đào tạo chuyển đổi áp dụng ISO 9001:2015. 9

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH. 10

9.  Lãng phí nguồn lực. 10


CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Vẫn đề xuất đánh thuế 45% với tài sản kê khai không trung thực

Báo cáo trước Quốc hội sáng 31.5 về Dự thảo Luật Phòng chống tham nhũng (sửa đổi), Tổng Thanh tra Chính phủ Lê Minh Khái cho biết, việc thu thuế 45% đối với tài sản không giải trình được nguồn gốc vẫn là phương án được Chính phủ lựa chọn.

Theo Tổng Thanh tra Chính phủ Lê Minh Khái hiện nay chúng ta đang tiến hành sửa đổi Luật phòng, chống tham nhũng (PCTN), đây là đạo luật có tính chất cơ bản nhất để đưa ra khung pháp lý giúp tăng cường hiệu quả trong phòng chống tham nhũng. Trước đây chúng ta đã có luật nhưng qua tổng kết 10 năm thực hiện thấy có những điểm chưa đúng, chưa đủ, chưa có tính khả thi, thậm chí chưa đủ mạnh mẽ nên phải sửa đổi một cách toàn diện.

Theo Tổng Thanh tra Chính phủ, một trong những vấn đề hiện nay đang được xã hội quan tâm là vấn đề xử lý tài sản khi bị phát hiện không kê khai hoặc kê khai không trung thực. Ở đây có vấn đề là từ trước tới nay chúng ta mới chỉ xử lý hành vi kê khai không trung thực, người bị phát hiện kê khai tài sản không trung thực có thể bị xử lý kỷ luật hành chính, kỷ luật Đảng với những hình thức khác nhau, thậm chí trên thực tiễn có những người đã bị mất chức. Nhưng đối với phần tài sản chúng ta chưa có quy định để xử lý. Cần phải nói rằng, đây là tài sản kê khai không trung thực hay là không kê khai chứ không phải là tài sản tham nhũng. Nếu đã xác định đó là tài sản tham nhũng thì người đó ngoài bị xử lý hình sự còn bị tịch thu tài sản.

"Đây là chỉ nói đến xử lý tài sản không kê khai hoặc kê khai không trung thực. Có thể do anh nhận thức không đúng nên kê khai không đúng, có thể do che giấu để trốn thuế hoặc tài sản đó không minh bạch, đây là vấn đề khó. Qua rất nhiều cuộc thảo luận, sau khi cân nhắc, Chính phủ đưa ra phương án đánh thuế với 45% đối với tài sản được phát hiện không kê khai hoặc kê khai không trung thực', ông Lê Minh Khái nói.

Tổng Thanh tra Chính phủ Lê Minh Khái cũng cho rằng đây là vấn đề rất khó khăn, có hai luồng ý kiến khác nhau. Loại ý kiến thứ nhất, quy định như vậy sẽ động chạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật quy định. Ngược lại có ý kiến cho rằng, quy định như vậy chưa triệt để, tại sao lại anh không kê khai, như vậy là giấu, giấu nghĩa là có sự bất minh, như thế phải là tịch thu tại sao lại đánh thuế.

"Chúng ta phải nhìn trong bối cảnh quản lý của chúng ta chưa tốt, trong điều kiện nguồn thu nhập của cán bộ công chức cũng rất đa dạng, nên việc kiểm soát tài sản rất khó khăn", ông Khái nói.

Thẩm tra dự án Luật PCTN sửa đổi, Ủy ban Tư pháp (UBTP) cho rằng, đây là một dự án Luật hết sức quan trọng, tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội nên một số nội dung lớn, phức tạp, còn nhiều ý kiến khác nhau cần được đánh giá, cân nhắc kỹ lưỡng để đảm bảo vừa nâng cao hiệu quả công tác PCTN, khắc phục được những hạn chế trong thực tiễn thi hành Luật, vừa phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội nước ta, bảo đảm tính khả thi, nhất là quy định về xử lý tài sản, thu nhập chênh lệch hoặc tăng thêm mà người kê khai không giải trình được một cách hợp lý nguồn gốc; thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong thanh tra, kiểm tra về công tác PCTN khu vực ngoài nhà nước; cơ quan, đơn vị kiểm soát tài sản, thu nhập...

Về đối tượng kê khai tài sản, thu nhập (Điều 37 dự thảo Luật), Luật PCTN hiện hành quy định đối tượng có nghĩa vụ kê khai tài sản là cán bộ từ Phó phòng UBND cấp huyện và tương đương trở lên; một số cán bộ, công chức cấp xã, người làm công tác quản lý ngân sách, tài sản của Nhà nước hoặc trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân. Các đối tượng này có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập hàng năm.

Nay dự thảo Luật sửa đổi theo hướng, bên cạnh các đối tượng kê khai theo Luật hiện hành, thì mở rộng đối với mọi cán bộ, công chức đều phải có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập lần đầu. Đa số ý kiến UBTP tán thành với quy định của dự thảo Luật vì cho rằng, so với nhóm đối tượng giữ chức vụ từ Giám đốc sở trở lên hoặc những cán bộ, công chức, viên chức khác làm việc ở một số vị trí công tác trong các lĩnh vực có nguy cơ tham nhũng cao cần phải kiểm soát chặt chẽ thì trước mắt, để phù hợp với thực tế và khả thi, nhóm đối tượng cán bộ, công chức còn lại chỉ cần kiểm soát tài sản, thu nhập ở mức độ đơn giản hơn, với mục đích chủ yếu nhằm tạo cơ sở dữ liệu để so sánh, đối chiếu khi tài sản, thu nhập của họ có biến động từ 300 triệu đồng trở lên trong 01 năm hoặc khi có tố cáo, có dấu hiệu về việc kê khai không trung thực.

Đặc biệt, về xử lý tài sản, thu nhập kê khai không trung thực, tài sản, thu nhập tăng thêm không giải trình được một cách hợp lý (Điều 59 dự thảo Luật). Dự thảo Luật đã bổ sung quy định mới về xử lý tài sản, thu nhập thực tế lớn hơn tài sản, thu nhập đã kê khai hoặc tài sản, thu nhập tăng thêm mà người kê khai không giải trình được một cách hợp lý về nguồn gốc phần tài sản, thu nhập chênh lệch hoặc tăng thêm và chưa có căn cứ xác định do phạm tội mà có (tài sản, thu nhập không giải trình được hợp lý về nguồn gốc), theo 2 phương án.

Phương án 1: Cơ quan, đơn vị kiểm soát tài sản, thu nhập yêu cầu cơ quan thuế thực hiện việc thu thuế thu nhập cá nhân. Đồng thời, dự thảo Luật sửa đổi Luật Thuế thu nhập cá nhân, quy định mức thuế suất 45% đối với thu nhập do người có nghĩa vụ kê khai đã kê khai không trung thực hoặc có tài sản, thu nhập tăng thêm mà không giải trình được một cách hợp lý về nguồn gốc theo quy định của Luật PCTN Chính phủ lựa chọn phương án này.

Phương án 2: Cơ quan, đơn vị kiểm soát tài sản, thu nhập yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền bằng 45% giá trị của phần tài sản, thu nhập chênh lệch hoặc tăng thêm không giải trình được một cách hợp lý về nguồn gốc.

Đối với cả 2 phương án, dự thảo Luật đều quy định người bị thu thuế hoặc bị xử phạt hành chính có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện tại Tòa án hành chính về kết luận xác minh tài sản, thu nhập. Việc thu thuế hay xử phạt hành chính đều không loại trừ trách nhiệm hình sự nếu các cơ quan có thẩm quyền chứng minh tài sản đó do phạm tội mà có.

Về vấn đề này, UBTP cho rằng cần thiết phải xử lý tài sản, thu nhập không giải trình được hợp lý về nguồn gốc. (Danviet.vn 31/5, Lương Kết)Về đầu trang

Công bố đơn giản hoá, nhưng thực chất chưa cắt giảm điều kiện kinh doanh

Ngày 30/5, Tổ công tác của Thủ tướng đã làm việc với các bộ, ngành liên quan đến cải cách hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu và đơn giải hóa, cắt giảm điều kiện kinh doanh (ĐKKD).

Tại buổi làm việc, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng - Tổ trưởng Tổ công tác của Thủ tướng thẳng thắn cho biết, thời gian gần đây các cơ quan báo chí và các bộ đăng tải trên cổng thông tin điện tử cho hay: Bộ  này cắt giảm bằng này ĐKKD, bộ kia bằng kia phần trăm ĐKKD.

“Nhưng hôm nay phải nói thật rằng, đến thời điểm này chính thức chỉ có Bộ Công Thương cắt giảm 675 ĐKKD bằng Nghị định 08 của Thủ tướng, còn các bộ khác đang trong quá trình rà soát chưa cắt bỏ”, Bộ trưởng Dũng nói và cho rằng sự chậm trễ của các bộ, ngành trên là chưa đúng tinh thần Chính phủ kiến tạo và chỉ đạo của Thủ tướng.

Cũng theo Bộ trưởng Dũng, nếu các bộ, ngành cứ để tồn tại tình trạng này sẽ tạo ra nghi ngờ của doanh nghiệp và người dân. Do vậy, ông Dũng nhấn mạnh, những bộ đã rà soát và công bố rà soát thì cũng cần nói rõ là bao giờ cắt giảm. Đặc biệt, Bộ trưởng lưu ý, việc cắt giảm ĐKKD cần nghiêm túc, cắt giảm thật chứ không phải là việc gộp cơ học chuyển từ nghị định sang thông tư lách luật để làm những việc không đúng.

Thông tin về công tác kiểm tra chuyên ngành, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng cho biết, sau các cuộc kiểm tra chuyên đề đối với các bộ đối với hàng hóa xuất nhập khẩu thì hoạt động kiểm tra chuyên ngành đã có những bước chuyển biến nhất định nhưng vẫn chưa đáp ứng tinh thần chỉ đạo và chưa được như mong đợi của Chính phủ và của Thủ tướng, nhiều bất cập vẫn tồn tại trong công tác kiểm tra chuyên ngành. Theo đó, có 9 bất cập các bộ, ngành cần tập trung xử lý.

Thứ nhất, tỷ lệ cắt giảm sản phẩm, danh mục hàng hóa kiểm tra chuyên ngành cần phải tiếp tục cải thiện hơn. Hiện tại, mới có 3 bộ đạt chỉ tiêu cắt giảm là: Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng đã cắt giảm trên 50%.

Thứ hai, một số phương án đơn giản kiểm tra hành chính, kiểm tra chuyên ngành còn mang tính chất hình thức giảm về số lượng nhưng thực chất các hàng hóa sản phẩm này vẫn phải kiểm tra chuyên ngành hoặc vẫn phải đáp ứng các ĐKKD như trước đây.

Thứ ba, một số bộ chưa đề xuất xử lý hàng hóa chịu sự kiểm tra chuyên ngành của nhiều bộ hoặc có phương án đối với kiểm tra chuyên ngành của nhiều đơn vị của 1 bộ. 

Thứ tư, theo phản ánh, nhiều lô hàng xuất khẩu thuỷ sản của một số doanh nghiệp tại TPHCM qua Cảng sân bay Tân Sơn Nhất bị ách tắc do hải quan cửa khẩu yêu cầu phải xuất trình giấy chứng nhận kiểm dịch mới được thông quan. Doanh nghiệp cho rằng điều này là “vô lý”.

Thứ năm, còn tình trạng “điện tử nửa vời” trong các thủ tục kiểm tra chuyên ngành. Cơ quan hải quan không kết nối với cổng 1 cửa do cơ quan hải quan phụ trách, quá trình thông quan thủ công nhiều tình huống kê khai đã hoàn tất nhưng sau đó phát sinh một số vấn đề cơ quan hải quan không cập nhật lên cổng, doanh nghiệp lại phải làm lại từ đầu. Như vậy “thiếu một tý là làm lại từ đầu”.

Thứ sáu, một số danh mục hàng hóa đã ban hành nhưng chưa có mã HS. Thứ bảy, còn một số mã hàng hóa phải ban hành quy chuẩn tiêu chuẩn nhưng vẫn chưa ban hành cụ thể. Thứ tám, một số danh mục hàng hóa kiểm tra chuyên ngành phải ban hành nhưng các bộ chưa ban hành. Cuối cùng, còn rất nhiều hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành khi làm thủ tục hải quan.

Theo Bộ trưởng Dũng, tinh thần Chính phủ là đơn giản hóa kiểm tra chuyên ngành nhưng vẫn phải kiểm soát liên quan đến an ninh trật tự, sức khỏe, môi trường nhân dân. “Tinh thần là không mở toang, vẫn phải bảo đảm an ninh, quốc phòng, sức khoẻ con người… nhưng không vì thế mà trói buộc doanh nghiệp vào các điều kiện kinh doanh không cần thiết”, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng nhấn mạnh. (Pháp Luật Việt Nam 31/5, Phạm Diệu)Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Hà Nội: Đích đến là sự hài lòng của người dân

Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính (SIPAS) là một yếu tố quan trọng phản ánh kết quả công tác cải cách hành chính của các bộ, ngành, địa phương. Với nỗ lực không ngừng trong thời gian qua, TP Hà Nội đã đạt những kết quả tích cực trong công tác cải cách hành chính, song chỉ số SIPAS mới đạt 76,53% (trung bình của cả nước là 79,76%) cho thấy, thành phố còn nhiều việc phải làm để đích đến là sự hài lòng của tổ chức, người dân.

chính (PAR Index) và chỉ số SIPAS đều được thực hiện hằng năm. Song, điểm mới trong năm 2017 là chỉ số PAR Index cấp tỉnh gắn kết với chỉ số SIPAS và được công bố cùng một thời điểm. Chỉ số SIPAS 2017 được thực hiện ở 5 nội dung: Tiếp cận dịch vụ hành chính công của các cơ quan hành chính nhà nước; thủ tục hành chính; công chức trực tiếp giải quyết thủ tục hành chính; kết quả cung ứng dịch vụ hành chính công và việc tiếp nhận, xử lý góp ý, phản ánh, kiến nghị. Theo kết quả khảo sát, chỉ số SIPAS cấp tỉnh cao nhất là 95,75% (tỉnh Vĩnh Phúc), thấp nhất là 67,70% (tỉnh Kon Tum); TP Hà Nội đạt 76,53%.

Kết quả cụ thể cho thấy, TP Hà Nội có một số nội dung thành phần đạt cao, như: 94,60% người được khảo sát nhận định, đánh giá là công chức không gây phiền hà, sách nhiễu; 96,40% người được khảo sát nhận định, đánh giá công chức không gợi ý nộp thêm tiền ngoài phí/lệ phí; 92,30% người cho rằng cơ quan hành chính trả kết quả đúng hẹn…

Người dân Thủ đô khá hài lòng ở các nội dung: Nơi ngồi chờ có đủ chỗ ngồi; thành phần hồ sơ phải nộp đúng quy định; mức phí/lệ phí phải nộp đúng quy định; thủ tục hành chính được niêm yết công khai…

Bên cạnh đó, người dân, tổ chức còn mong đợi ở nhiều nội dung: Mở rộng các hình thức thông tin để người dân dễ dàng tiếp cận dịch vụ hành chính công; rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin…

Hà Nội đạt được những kết quả khả quan trên là nhờ trong năm 2017, thành phố đã thực hiện tốt chủ đề “Năm kỷ cương hành chính”. Hơn nữa, đó là kết quả của một quá trình thành phố luôn coi trọng việc đo lường, khảo sát sự hài lòng của người dân, tổ chức về sự phục vụ của cơ quan hành chính.

Nếu như năm 2016, UBND thành phố triển khai kế hoạch khảo sát, đo lường sự hài lòng của cá nhân và tổ chức về sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước thuộc thành phố đối với 4 nhóm dịch vụ hành chính (lao động, việc làm; bảo hiểm thất nghiệp; bảo trợ xã hội; người có công) thì năm 2017, UBND thành phố đã phê duyệt Đề án hướng dẫn các cơ quan, đơn vị thực hiện khảo sát, đo lường sự hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan, đơn vị hành chính nhà nước thuộc TP Hà Nội.

Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung cho biết, thành phố đã nhận được sự đánh giá tích cực, đồng tình của người dân, tổ chức khi họ được thể hiện suy nghĩ và có tiếng nói với các cơ quan nhà nước cung ứng dịch vụ công. Hiện TP Hà Nội đã lắp đặt hệ thống mạng đến 584 phường, xã, thị trấn ứng dụng dịch vụ công mức độ 3, 4 với nhiều thủ tục hành chính nên các đơn vị có thể khảo sát, đánh giá sự hài lòng của người dân trên môi trường mạng…

Với quyết tâm đó, hiện nhiều cơ quan, đơn vị đã nghiên cứu kết quả chỉ số SIPAS và triển khai việc khảo sát sự hài lòng của người dân bằng nhiều hình thức phong phú, như: Phát phiếu tại bộ phận “một cửa”, chấm điểm cán bộ qua hệ thống điện tử…

Đặc biệt, thành phố đã đề ra chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2020: Mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp về sự phục vụ của các cơ quan hành chính và giải quyết thủ tục hành chính đạt trên 80%. Điều này cho thấy quyết tâm của thành phố trong nỗ lực xây dựng nền hành chính hiệu lực, hiệu quả, mà đích đến là sự hài lòng của tổ chức, người dân. (Hà Nội Mới 31/5)Về đầu trang

Đắk Nông: Kiểm tra công tác cải cách hành chính nhằm hỗ trợ doanh nghiệp

Ngày 28/5, UBND tỉnh Đắk Nông ban hành Quyết định 798/ QĐ-UBND về việc thành lập Đoàn kiểm tra liên ngành do Sở Nội vụ chủ trì tiến hành kiểm tra công tác cải cách hành chính, qua đó nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh trên địa bàn tỉnh.

Theo đó, những vấn đề, nội dung tập trung kiểm tra gồm: Kiểm tra công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành công tác cải cách hành chính, cải cách thủ tục hành chính; việc thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”, “một cửa hiện đại”; thực hiện các quy định về tổ chức bộ máy.

Ngoài ra, hoạt động kiểm tra còn chú trọng công tác quản lý nhà nước về phân cấp, việc đánh giá tình hình triển khai các nhiệm vụ, kế hoạch, chỉ đạo của UBND tỉnh trong việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh…

Thời gian tiến hành các hoạt động kiểm tra từ tháng 7 đến hết tháng 9/2018. (Báo Đắk Nông 31/5, Bình Minh)Về đầu trang

Nình Bình: Nâng cao hiệu quả kiểm soát thủ tục hành chính

Những năm qua, UBND tỉnh Ninh Bình đã tập trung chỉ đạo các sở, ban, ngành, huyện, thành phố thực hiện quyết liệt công tác kiểm soát, rà soát thủ tục hành chính (TTHC), hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật (QPPL), đồng thời tổ chức tốt kế hoạch tuyên truyền về cải cách TTHC, thông qua phương án đơn giản hóa TTHC và tổ chức thực hiện có hiệu quả trên địa bàn tỉnh.

Trên cơ sở đó, UBND tỉnh cũng công bố kịp thời các TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của các sở, ban, ngành, kiểm soát chất lượng quyết định công bố TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Tài chính, Sở Công thương, Sở Giao thông - Vận tải, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Thông tin và Truyền thông, Thanh tra tỉnh, UBND cấp huyện, UBND cấp xã. Các sở, ngành đã thực hiện tốt việc công khai TTHC trên Cơ sở dữ liệu quốc gia và niêm yết công khai, minh bạch đầy đủ các TTHC tại trụ sở làm việc, trên các trang web của các cơ quan, đơn vị để tạo thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức khi tra cứu và áp dụng thực hiện TTHC.

Đồng thời tổ chức lấy ý kiến góp ý các văn bản về hoạt động kiểm soát TTHC, tiếp nhận và giải quyết kịp thời phản ánh kiến nghị công dân đối với lĩnh vực nhằm đẩy mạnh cải cách TTHC nâng cao chất lượng hành chính công, phục vụ tốt nhất cho tổ chức, cá nhân trên địa bàn.

Bên cạnh đó, công tác truyền thông về hoạt động kiểm soát TTHC trên địa bàn tỉnh tiếp tục được các đơn vị, địa phương thực hiện bằng nhiều hình thức như thông tin, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, trang tin điện tử; thông qua các hội nghị giao ban, tọa đàm; tập huấn, bồi dưỡng quán triệt nội dung, kế hoạch thực hiện nhiệm vụ cải cách TTHC; lồng ghép thông tin về cải cách TTHC qua các hội nghị tuyên truyền, phổ biến, giáo dục các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Mặt khác, các cấp, các ngành và địa phương cũng đã chú trọng công tác kiểm tra việc thực hiện hoạt động kiểm soát TTHC. Thông qua kiểm tra đã kịp thời nắm bắt những khó khăn, vướng mắc và đề ra giải pháp tháo gỡ, đồng thời phát hiện những tồn tại, hạn chế nhằm chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động kiểm soát TTHC tại các đơn vị, địa phương; đôn đốc, hướng dẫn các đơn vị, địa phương khắc phục những tồn tại, bất cập trong quá trình triển khai hoạt động kiểm soát TTHC.

Hoạt động kiểm tra cũng giúp cho việc tổng hợp những sáng kiến, cải tiến, đổi mới trong hoạt động cải cách TTHC nhằm phổ biến, nhân rộng có hiệu quả đối với các đơn vị, địa phương trên địa bàn tỉnh.

Trong quý I/2018, các sở, ngành, địa phương trong tỉnh đã tiếp nhận và giải quyết tổng số 104.236 hồ sơ, trong đó số hồ sơ giải quyết đã trả đúng hạn là 95.894 hồ sơ, trả quá hạn là 154 hồ sơ, đang giải quyết chưa đến hạn là 2.187 hồ sơ. Các hồ sơ quá hạn chủ yếu thuộc lĩnh vực tài nguyên môi trường, đất đai, xây dựng, hành chính tư pháp. Nguyên nhân quá hạn chủ yếu do quá trình giải quyết hồ sơ liên quan đến chuyển quyền sử dụng đất, văn phòng đăng ký đất đai, Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện theo đúng quy định của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn hiện hành. (Báo Ninh Bình 31/5, Xuân Trường)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cần khẩn trương đẩy nhanh tinh giản biên chế

Đó là yêu cầu của Tổ công tác về kiểm tra công vụ của Thủ tướng Chính phủ trong buổi làm việc với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội vào chiều 30/5.

Chiều 31/5, tại Hà Nội, Tổ công tác của về kiểm tra công vụ của Thủ tướng Chính phủ do Bộ trưởng Nội vụ Lê Vĩnh Tân (Tổ trưởng làm Trưởng đoàn) đã làm việc với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Tính đến 1/4/2018, Bộ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có 613 công chức, 3.187 chỉ tiêu làm việc các đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ, hợp đồng theo Nghị định 68 là 223 người.

Bộ đã thực hiện tỷ lệ tinh giản biên chế tối thiểu 10%, tuy nhiên vẫn còn 2 đơn vị có cấp phó vượt quá quy định.

Năm 2017, chỉ số về cải cách hành chính của Bộ đã vượt 7 bậc so với năm 2016 nhưng cần tiếp tục phấn đấu để đạt được thứ hạng cao hơn.

Tại buổi làm việc, Tổ công tác kiểm tra công vụ của Thủ tướng yêu cầu Bộ LĐTB&XH khẩn trương đẩy nhanh việc tinh giản biên chế và rà soát việc sử dụng biên chế công chức, viên chức để bổ sung số biên chế còn thiếu.

Bộ cần sớm hoàn thiện, ban hành khung năng lực và mô tả vị trí việc làm; phấn đấu phê duyệt Đề án vị trí việc làm cho các đơn vị sự nghiệp công lập theo đúng tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. (VTV.vn 30/5)Về đầu trang

Khuyến khích hợp tác xã áp dụng khai thuế điện tử

Các hợp tác xã (HTX) hiện đang được ngành Thuế hỗ trợ nhiều ứng dụng công nghệ thông tin trong kê khai, nộp thuế và hoàn thuế... Tuy nhiên, tỷ lệ HTX sử dụng được các ứng dụng điện tử vẫn khá ít. Thời gian tới ngành Thuế sẽ tăng cường hỗ trợ để HTX tiếp cận được các ứng dụng điện tử.

Báo cáo của Tổng cục Thuế cho thấy, các quy trình quản lý thuế đối với HTX cũng đang được áp dụng chung như quy trình quản lý thuế áp dụng đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, HTX được đánh giá là có đặc thù hoạt động khá khác biệt so với doanh nghiệp, từ việc tổ chức sản xuất, kinh doanh; cung ứng hàng hóa dịch vụ cho các thành viên HTX và cung ứng hàng hóa, dịch vụ ra thị trường đều có những quy định riêng. Một số mô hình HTX phát sinh những hoạt động kinh doanh riêng biệt, khó xác định trách nhiệm giữa HTX với hoạt động của thành viên.

Về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế đối với HTX, Tổng cục Thuế cho biết, hiện nay HTX đang được theo dõi và quản lý trên hệ thống công nghệ thông tin ngành Thuế như các đối tượng là đơn vị, tổ chức khác, với loại hình kinh tế là “hợp tác xã”.

Theo đó, từ khâu đăng ký thuế để cấp mã số thuế, đến khai thuế, nộp thuế và cơ quan thuế nhận tờ khai, chứng từ, xử lý tờ khai, quyết định, kế toán thuế, đôn đốc và kiểm soát tuân thủ của HTX... cũng được thực hiện trên hệ thống quản lý thuế tập trung (TMS) của ngành Thuế.

Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế HTX, thời gian tới ngành Thuế sẽ tiếp tục nghiên cứu, phát triển các ứng dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ tốt cho công tác quản lý thuế đối với HTX, nhất là trong lĩnh vực tổng hợp, thống kê số liệu báo cáo liên quan đến công tác quản lý thuế đối với HTX.

Qua số liệu thống kê của Tổng cục Thuế về khai thuế qua mạng và nộp thuế điện tử cho thấy, hiện nay số HTX tham gia sử dụng dịch vụ khai thuế qua mạng và sử dụng dịch vụ nộp thuế điện tử với cơ quan thuế còn chiếm tỷ lệ thấp. Do đó, để khuyến khích các HTX phát triển, tạo sự công bằng giữa các thành phần kinh tế, giúp cho HTX được tiếp cận với dịch vụ công nghệ thông tin, ngành Thuế sẽ đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hỗ trợ để HTX được tiếp cận với các dịch vụ điện tử của ngành. (Thời Báo Tài Chính Việt Nam 30/5, Nhật Minh)Về đầu trang

Bộ NN&PTNT đào tạo chuyển đổi áp dụng ISO 9001:2015

Trong 2 ngày, 29 và 30/5, Bộ NN&PTNT phối hợp với Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng (Bộ KH&CN) tổ chức khóa đào tạo chuyển đổi Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2015 (TCVN ISO 9001:2015).

Tham gia khóa đào tạo là đại diện cán bộ đầu mối ISO của các Tổng cục, Cục, Vụ thuộc Bộ, Văn phòng Bộ, Thanh tra Bộ NN&PTNT.

Khóa đào tạo nhằm cung cấp kiến thức chung về TCVN ISO 9001:2015, từ đó nhận biết sự khác biệt giữa ISO 9001:2008 và ISO 9001:2015. Qua khóa tập huấn, các cán bộ, công chức tham gia khóa đào tạo sẽ nắm rõ được nội dung, trình tự các bước thực hiện chuyển đổi từ ISO 9001:2008 sang ISO 9001:2015.

Kết thúc khóa đào tạo, cán bộ các đơn vị trực thuộc Bộ có thể áp dụng chuyển đổi tại cơ quan, đơn vị mình và định kỳ thực hiện công tác duy trì, cải tiến, áp dụng TCVN ISO 9001:2015 trong thời gian tiếp theo.

Về lộ trình chuyển đổi áp dụng TCVN ISO 9001:2015, Bộ KH&CN đề nghị các bộ ban ngành đã xây dựng, áp dụng TCVN ISO 9001:2008 phải hoàn thành việc chuyển đổi áp dụng TCVN ISO 9001:2015 xong trước ngày 30/6/2021. (Kinh Tế & Đô Thị 30/5, Lâm Nguyễn)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Lãng phí nguồn lực

93 người đã rút khỏi Đề án phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao (Đề án 922) của Đà Nẵng, 40 người đã xin thôi việc với lý do khác nhau. Câu chuyện đã kéo dài nhiều năm nay, nhiều khả năng số nhân tài “quay lưng” với Đề án 922 sẽ chưa dừng lại. Vậy đâu là cốt lõi của vấn đề đào tạo, thu hút, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao qua trường hợp của Đà Nẵng?

Đề án 922 được Đà Nẵng triển khai từ năm 2006. Sau 12 năm thực hiện, đã có 616 người được cử đi học theo Đề án, 402 người được bố trí công tác tại các cơ quan, đơn vị thuộc thành phố. Cùng với nguồn nhân lực từ chính sách thu hút nhân tài, học viên đề án đã nhanh chóng bù lấp về chất và lượng cho bộ máy hành chính công. Tuy nhiên, theo Sở Nội vụ Đà Nẵng, hiện có 207 học viên được tuyển dụng công chức, viên chức; 60 người được bổ nhiệm cán bộ quản lý. Hơn 100 người sau tốt nghiệp đang làm việc dưới dạng hợp đồng. Giám đốc Sở Nội vụ Đà Nẵng cho biết, 40 nhân tài xin nghỉ việc đa số đang làm việc hợp đồng.

Được đưa vào bộ máy hành chính nhưng lại ở chế độ hợp đồng, sử dụng nhân lực không đúng chuyên môn, môi trường làm việc không phù hợp; việc đối xử, đãi ngộ thiếu công bằng; chính sách tiền lương bất cập… là nguyên nhân sâu xa của phần lớn học viên xin ra khỏi Đề án, chấp nhận bồi hoàn kinh phí đào tạo vì muốn tìm việc khác “theo sở thích cá nhân” như đại diện Trung tâm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nhận định. Việc “dứt áo ra đi” của nguồn nhân lực chất lượng cao, được đào tạo bài bản bằng tiền ngân sách, dù có bồi hoàn đi nữa thì cũng là điều rất đáng tiếc. Đó là sự lãng phí chất xám, giảm hiệu của của đề án vốn được kỳ vọng lớn này.

Chi phí để đào tạo mỗi học viên thấp nhất cũng cả trăm triệu đồng, nếu đào tạo ở nước ngoài lên đến vài tỷ đồng. Như vậy, nguồn kinh phí mà thành phố bỏ ra để đào tạo cho 616 học viên cho Đề án 922 lên tới hàng trăm tỷ đồng. 12 năm theo đuổi chính sách đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và bỏ ra hàng trăm tỷ đồng thực hiện chính sách này nhưng câu chuyện giữ chân người tài trong các cơ quan nhà nước không hề đơn giản. Không riêng Đà Nẵng, mà Hà Nội, Quảng Nam cũng đã có nhiều chủ trương thu hút nhân tài nhưng không thực hiện được, hoặc thực hiện không hiệu quả.

Mới thấy rằng, thu hút nhân tài bằng các chính sách đãi ngộ thôi chưa đủ, mà còn phải giữ chân họ trong quá trình làm việc. Đó là cách quản lý, sử dụng nhân tài; môi trường làm việc có tính kích thích để họ cống hiến, thậm chí để họ chủ động và sáng tạo trong công việc; có chiến lược hoạch định để nhân tài thăng tiến… như nhận định của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân bên hành lang kỳ họp Quốc hội: “Để thu hút và giữ chân người có năng lực, vấn đề không chỉ ở chính sách đãi ngộ mà còn tạo môi trường cho họ làm việc, phát huy năng lực sở trường”.

Tất nhiên, trong số 40 nhân tài xin nghỉ việc có rất nhiều lý do khác nhau, có người thực sự không muốn gắn bó, không thấy thích hợp với các cơ quan nhà nước. Nhưng con số 40 người xin thôi việc sau khi đã được đào tạo là con số lớn, cần suy nghĩ, tìm hiểu thực chất nguyên nhân. Chính sách đãi ngộ chỉ giải quyết phần ngọn mà chưa chú trọng giữ chân người giỏi ở lại. Sử dụng nhân tài không phải thu hút về lượng lớn tiến sĩ, những nhà khoa học mà phải bố trí đúng người đúng việc, chế độ đãi ngộ tương xứng, môi trường làm việc tốt để cống hiến mới là yếu tố tạo ra sự khác biệt lớn nhất. (Đại Biểu Nhân Dân 31/5, tr2, Chi An)Về đầu trang./.

More

Lượt truy cập: 12.048.558 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này