Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin cải cách hành chính ngày 29/7/2019
1. Quy định về tặng quà và phòng chống tham nhũng
2. Châu Đốc quyết giữ ngôi đầu về cải cách hành chính
3. Hà Nội: Tăng cường bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực
4. Bước chuyển mới trong cải cách hành chính tại Kho bạc Nhà nước
5. Xây dựng Chính phủ điện tử: Bước đi hợp lý với tính khả thi cao
6. Đổi mới thủ tục thông báo trong thi hành án dân sự
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
8. Làm gì để nhân dân vững tin vào thành công của cuộc chiến chống tham nhũng?
9. Thủ tục phải “chạy”, không thì… chờ
10. Cuộc chiến chống “giặc nội xâm” đang mang lại kết quả tốt
CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH
Quy định về tặng quà và phòng chống tham nhũng
Việc tặng quà và nhận quà là một hành vi ứng xử đẹp trong văn hóa giao tiếp. Tuy nhiên, việc tặng và nhận quà cũng có thể biến tướng, trở thành vỏ bọc cho hành vi tham nhũng, hối lộ.
Vào năm 2017, Ban Bí thư Trung ương Đảng có Chỉ thị số 16-CT/TW với nội dung nghiêm cấm việc biếu, tặng quà Tết cho lãnh đạo cấp trên, cấp trên “tranh thủ” cấp dưới với mọi hình thức. Tiếp đó, Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị số 48/CT-TT, yêu cầu các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước các cấp quán triệt, thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, không tổ chức du xuân, đi chúc Tết, không tặng quà lãnh đạo…
Trước đó, ngày 10/5/2007, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 64/2007/QĐ-TTg kèm theo quy chế về việc tặng quà, nhận quà và nộp lại quà tặng của cơ quan, tổ chức, đơn vị, có sử dụng ngân sách nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức…
Thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng, Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 59/2019/NĐ-CP, trong đó quy định rõ việc tặng quà và nhận quà tặng của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn.
Nghị định quy định cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn chỉ được sử dụng tài chính công, tài sản công để làm quà tặng vì mục đích từ thiện, đối ngoại và thực hiện chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật.
Việc tặng quà phải thực hiện đúng chế độ, định mức, tiêu chuẩn, đối tượng theo quy định của pháp luật; cơ quan, đơn vị tặng quà phải hạch toán kế toán và thực hiện công khai trong cơ quan, đơn vị mình theo đúng quy định của pháp luật.
Về việc nhận quà tặng, Nghị định quy định cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn không được trực tiếp hoặc gián tiếp nhận quà tặng dưới mọi hình thức của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình. Trường hợp không từ chối được thì cơ quan, tổ chức, đơn vị phải tổ chức quản lý, xử lý quà tặng theo quy định.
Nghị định quy định rõ, cơ quan, tổ chức, đơn vị khi nhận được quà tặng không đúng quy định thì phải từ chối; trường hợp không từ chối được thì phải giao lại quà tặng cho bộ phận chịu trách nhiệm quản lý quà tặng của cơ quan, đơn vị đó để xử lý theo quy định.
Người có chức vụ, quyền hạn khi nhận được quà tặng không đúng quy định thì phải từ chối; trường hợp không từ chối được thì phải báo cáo Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị mình hoặc Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp và nộp lại quà tặng để xử lý theo quy định trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quà tặng.
Nghị định quy định rõ cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng tài chính công, tài sản công tặng quà không đúng quy định thì phải bồi hoàn giá trị quà tặng cho Nhà nước. Cá nhân sử dụng tài chính công, tài sản công tặng quà không đúng thẩm quyền, không đúng quy định thì phải bồi hoàn giá trị quà tặng và tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.
Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị vi phạm quy định về nhận quà tặng, xử lý quà tặng, người có chức vụ, quyền hạn vi phạm quy định về nhận quà tặng, báo cáo, nộp lại quà tặng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.
Bên cạnh đó, người có chức vụ, quyền hạn khi nhận được quà tặng không đúng quy định thì phải từ chối; trường hợp không từ chối được thì phải báo cáo thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị mình hoặc thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp và nộp lại quà tặng để xử lý theo quy định trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quà tặng.
Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ra đời với những quy định chi tiết, cụ thể về tặng quà và nhận quà tặng được kỳ vọng sẽ góp phần tích cực trong việc phòng chống tham nhũng hiện nay. (Công Lý 29/7, Trung Nguyễn)
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Châu Đốc quyết giữ ngôi đầu về cải cách hành chính
Nhiều năm liền, TP Châu Đốc đứng đầu bảng xếp hạng về Chỉ số Cải cách hành chính (CCHC) của tỉnh An Giang.
Sáu tháng đầu năm 2019, TP Châu Đốc đã tiếp nhận 7 dự án đăng ký đầu tư trên tổng diện tích hơn 151 ha, tổng vốn đầu tư dự kiến 4.127 tỉ đồng. 13 dự án khác đang triển khai trên tổng diện tích gần 65 ha, tổng đầu tư hơn 1.000 tỉ đồng. Các dự án điển hình như các khu dân cư, khu đô thị thương mại, khu du lịch văn hóa tâm linh - cáp treo Núi Sam…
Ông Lâm Quang Thi, Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP Châu Đốc - cho biết kết quả thu hút đầu tư khả quan như vậy là nhờ chính quyền TP đã tập trung triển khai kế hoạch nâng cao chỉ số CCHC và Chỉ số Năng lực cạnh tranh (PCI). Cụ thể, những năm gần đây, chính quyền TP tập trung cải thiện môi trường đầu tư, hỗ trợ, tư vấn, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, nhờ vậy việc mời gọi đầu tư có nhiều chuyển biến tích cực. TP luôn sẵn sàng tiếp nhận và xử lý kịp thời những phản ánh của người dân, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến thủ tục hành chính.
Không những vậy, đơn vị trực thuộc UBND TP thường xuyên rà soát, hệ thống hóa các văn bản đã ban hành không còn phù hợp hoặc hết hiệu lực để kịp thời kiến nghị cấp thẩm quyền bãi bỏ; thường xuyên tăng cường kiểm tra công tác CCHC và kiểm tra công vụ, không để vi phạm chuyên môn và đạo đức công vụ. "Châu Đốc là địa phương duy nhất được UBND tỉnh An Giang xếp hạng nhất về Chỉ số CCHC trong 4 năm liền, từ năm 2015-2018" - ông Thi cho biết.
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư nhưng theo lãnh đạo Thành ủy, UBND TP Châu Đốc, địa phương đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Nguồn thu từ sử dụng đất còn hạn chế, tài sản dôi dư thuộc sở hữu nhà nước không còn nhiều nên ảnh hưởng đến thu ngân sách trong thời gian tới; nguồn vốn đầu tư của TP cũng như vốn hỗ trợ của trung ương, tỉnh chưa đáp ứng so với nhu cầu phát triển kinh tế của địa phương…
Vì vậy, để đạt chỉ tiêu kế hoạch năm 2019, 6 tháng cuối năm, TP cần tập trung đúng định hướng Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ và HĐND TP. UBND TP sẽ giao nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị chủ trì và phối hợp thực hiện. Theo đó, sẽ xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển Khu Du lịch quốc gia Núi Sam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030; tiếp tục phối hợp Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch lập hồ sơ đề nghị công nhận Lễ hội Vía bà Chúa Xứ Núi Sam là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại; quy hoạch phân khu chức năng Khu Du lịch quốc gia Núi Sam.
Bên cạnh đó, thực hiện thí điểm Đề án Châu Đốc điện tử, tập trung 2 nội dung chính là thiết lập hệ thống camera an ninh toàn TP và ứng dụng công nghệ thông tin để thực hiện TP du lịch thông minh. Tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành của tỉnh xây dựng các chương trình, đề án, dự án tranh thủ các nguồn vốn hỗ trợ của cấp trên nhằm phát triển hạ tầng giao thông trên địa bàn TP để phục vụ du lịch và dịch vụ. Triển khai Kế hoạch "Phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 trên địa bàn TP" nhằm hỗ trợ và mời gọi nhà đầu tư các dự án như khu đô thị mới, du lịch sinh thái, resort 5 sao, cáp treo Núi Sam, khách sạn 5 sao… (Người Lao Động Online 28/7, Thốt Nốt)
Hà Nội: Tăng cường bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực
UBND TP Hà Nội vừa ban hành Kế hoạch số 161/KH-UBND, triển khai thực hiện Chỉ thị số 27-CT/TW, ngày 10-1-2019 của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ người phát hiện tố giác, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực”.
Theo đó, đảm bảo 100% cơ quan, đơn vị, chính quyền các cấp thuộc thành phố được quán triệt, tổ chức thực hiện Chỉ thị số 27 của Bộ Chính trị. Đảm bảo 100% các nguồn tin về tội phạm của tổ chức, cá nhân liên quan đến tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được tiếp nhận, xử lý, giải quyết. Duy trì tỷ lệ giải quyết các nguồn tin về tội phạm nói chung, nguồn tin về tội phạm kinh tế, tham nhũng, buôn lậu nói riêng đạt trên 90%. Đảm bảo 100% người phát hiện, tố giác, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được bảo vệ, không bị trả thù, trù dập khi tố cáo, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí tiêu cực.
Để làm tốt nhiệm vụ trên, thành phố chỉ đạo thực hiện các công tác trọng tâm. Cụ thể, tổ chức phổ biến, quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các nội dung Chỉ thị số 27 của Bộ Chính trị, Kế hoạch 127 của Thành ủy Hà Nội và các văn bản quy định của pháp luật về bảo vệ người phát hiện, tố giác, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Nâng cao hiệu quả phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Tăng cường vận động Nhân dân tích cực tham gia phát hiện, tố giác tội phạm. Khuyến khích, động viên cán bộ, đảng viên chủ động phản ánh các hành vi sai phạm, tố giác hành vi trả thù, trù dập người tố cáo... Đẩy mạnh hiệu quả việc thực hiện các Quy chế phối họp, kế hoạch liên ngành, giao ước thi đua... của các sở, ban, ngành trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, công tác đấu tranh phòng chống tội phạm tham nhũng nói riêng.
Tăng cường công tác phòng ngừa, ngăn chặn, không để xảy ra các hành vi trả thù, trù dập người tố cáo; kịp thời khắc phục những yếu kém trong công tác bảo vệ người tố cáo. Đẩy mạnh phát hiện, xử lý nghiêm theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi trả thù, trù dập người tố cáo, bao che người bị tố cáo; cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ người tổ cáo nhưng không làm tròn trách nhiệm người lợi dụng quyền phản ánh, tố giác, tố cáo để bôi nhọ, vu khống, thông tin sai sự thật, làm ảnh hưởng đến quy tín, danh dự của các tổ chức, cá nhân liên quan, gây mất đoàn kết nội bộ.
Các sở, ban, ngành, UBND các cấp chỉ đạo cơ quan thanh tra, kiểm tra đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra để kịp thời phát hiện các cơ quan chức năng, tổ chức, cá nhân không hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao trong việc bảo vệ người tố cáo, người phản ánh, kiến nghị, cung cấp thông tin về những biểu hiện tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của cán bộ, đảng viên, các cơ quan, tổ chức phát hiện, làm rõ và xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân có hành vi trả thù, trù dập người tố cáo và công khai kết quả xử lý. Kịp thời báo cáo kết quả thanh tra, kiểm tra và công khai kết quả tới cá nhân người tố cáo, người phản ánh, kiến nghị, cung cấp thông tin về những biếu hiện tham nhũng, lãng phí, tiêu cực bị trả thù, trù dập.
Thực hiện nghiêm túc việc tiếp công dân định kỳ hoặc đột xuất để tiếp nhận thông tin, lắng nghe, đối thoại trực tiếp và xử lý những phản ánh, kiến nghị của nhân dân về hành vi trả thù, trù dập người tố cáo; khắc phục tình trạng quan liêu, xa dân, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của nhân dân của một số cán bộ, công chức, viên chức.
Củng cố, kiện toàn, đề cao trách nhiệm, đạo đức công vụ, ý thức kỷ luật cho đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp làm công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, các cơ quan, đơn vị có chức năng bảo vệ người tố cáo.
Nâng cao trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu các cơ quan, tố chức, đơn vị, doanh nghiệp, địa phương trong việc thực hiện công tác bảo vệ, phát hiện, tố giác, người đấụ tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đặc biệt ở các cơ quan tư pháp các cấp; sâu sát, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, uốn nắn lệch lạc trong quá trình thực hiện của cấp dưới; chịu trách nhiệm trước cấp trên và bị xử lý trách nhiệm nếu buông lỏng lãnh đạo, quản lý, không làm hết thẩm quyền để xảy ra tình trạng người dân, cán bộ, đảng viên thuộc phạm vi phụ trách bị trả thù, trù dập khi tố cáo, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí tiêu cực. Cần xác định rõ việc bảo vệ người tố cáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trước hết là của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và cơ quan chức năng ở các cấp.
Xây dựng quy chế về bảo vệ người phát hiện, tố giác, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Tiếp tục rà soát, bổ sung, kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo vệ người tố cáo theo hướng cụ thể, chi tiết, phân công rõ trách nhiệm cho từng cấp, từng ngành trong việc bảo vệ người tố cáo, có chế tài xử lý nghiêm khắc những biểu hiện của hành vi trả thù, trù dập người tố cáo dưới mọi hình thức...
Động viên, khen thưởng kịp thời người tố cáo đúng, cơ quan, tố chức, cán bộ, công chức làm tốt công tác bảo vệ người tố cáo. Kiên quyết xử lý nghiêm những cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có hành vi trả thù, trù dập người tố cáo; chưa hoàn thành chức trách nhiệm vụ được giao trong bảo vệ người tố cáo. Định kỳ (6 tháng, 1 năm) tổ chức sơ, tổng kết đánh giá kết quả công tác bảo vệ người phát hiện, tố giác, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; rút ra những bài học kinh nghiệm, kịp thời đề ra những giải pháp, biện pháp khắc phục. (Pháp Luật Xã Hội 29/7, TQ)
LĨNH VỰC CẢI CÁCH
Bước chuyển mới trong cải cách hành chính tại Kho bạc Nhà nước
Với mục tiêu lấy khách hàng làm trọng tâm phục vụ, hệ thống Kho bạc Nhà nước đã triển khai đồng bộ và có hiệu quả nhiều giải pháp cải cách hành chính theo hướng đơn giản, công khai, minh bạch. Nhờ đó, đã giúp giảm thiểu thời gian, thủ tục và chi phí thực hiện thủ tục hành chính cho các đơn vị dự toán ngân sách, chủ đầu tư và người dân trong quá trình giao dịch với các đơn vị trong hệ thống Kho bạc Nhà nước.
Trong những năm qua, hệ thống Kho bạc Nhà nước (KBNN) đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để cải cách hành chính (CCHC), hoàn thiện các cơ chế chính sách, quy trình nghiệp vụ. Trong đó, trọng tâm là cải cách quy trình thủ tục hành chính (TTHC) về thu, chi ngân sách nhà nước (NSNN) theo hướng đơn giản, công khai, minh bạch nhằm giảm thiểu thời gian, thủ tục và chi phí thực hiện TTHC cho các đơn vị dự toán ngân sách, chủ đầu tư và người dân trong giao dịch với hệ thống KBNN.
Để thực hiện tốt công tác CCHC, KBNN tiếp tục tổ chức phối hợp thu NSNN với các cơ quan thu và các ngân hàng thương mại (NHTM); triển khai thanh toán điện tử tập trung với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các NHTM; kết nối, trao đổi dữ liệu thu NSNN điện tử giữa các cơ quan KBNN – NHTM – cơ quan thu… KBNN cũng phối hợp với cơ quan công an, bưu điện để tổ chức thu phạt vi phạm hành chính qua hệ thống bưu điện, nhằm tạo thuận lợi tối đa cho người nộp thuế.
Bên cạnh đó, KBNN còn chỉ đạo các đơn vị KBNN địa phương đẩy mạnh việc tăng cường thanh toán không dùng tiền mặt (như phối hợp với các NHTM tổ chức triển khai các hình thức thu NSNN không dùng tiền mặt; thực hiện việc chi tiền mặt qua hệ thống NHTM đối với các khoản thanh toán có giá trị lớn; chi tiêu NSNN qua thẻ tín dụng; thanh toán chi trả cá nhân qua tài khoản…).
Đánh giá về kết quả tích cực trong CCHC của KBNN trong thời gian qua, ông Nguyễn Quang Vinh, Phó Tổng giám đốc KBNN cho rằng: Việc thực hiện các cải cách trên, một mặt KBNN đã tập trung nhanh, đầy đủ, kịp thời các khoản thu vào NSNN, mặt khác, góp phần mở rộng không gian và thời gian cho người nộp thuế. Theo đó, người nộp thuế có thể thực hiện nộp tiền tại nhiều địa điểm khác nhau, nơi có trụ sở KBNN hoặc chi nhánh, điểm giao dịch của NHTM; hoặc có thể nộp tiền ngoài giờ hành chính, nộp vào ngày nghỉ; qua các dịch vụ thanh toán điện tử do NHTM cung cấp…
Ngoài ra, nhằm thực hiện thống nhất việc quản lý, thanh toán vốn đầu tư từ nguồn NSNN theo quy định tại Thông tư số 52/2018/TT-BTC, Thông tư số 108/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính, KBNN đã thực hiện kiểm soát thanh toán vốn theo nguyên tắc “thanh toán trước, kiểm soát sau”. Theo đó, cán bộ nghiệp vụ kiểm soát chi thực hiện kiểm soát sự đầy đủ, tính pháp lý của hồ sơ thanh toán; kiểm soát đối tượng phải thực hiện cam kết chi, đối chiếu số vốn đề nghị thanh toán không vượt số dư kế hoạch vốn và phù hợp với giá hợp đồng, các điều kiện trong hợp đồng và theo dự toán được duyệt. Trình tự các bước công việc và thời gian thanh toán trước của KBNN đã giảm từ 3 ngày làm việc xuống còn chậm nhất là 1 ngày kể từ khi cán bộ kiểm soát chi nhận đủ hồ sơ hợp pháp, hợp lệ theo quy định.
Về trình tự kiểm soát thanh toán, KBNN ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện theo từng bước, phân định cụ thể, rõ ràng từng công việc thực hiện và trách nhiệm giải quyết của từng chức danh khi tham gia quy trình, đặc biệt quy định cụ thể các nội dung nghiệp vụ, các bước luân chuyển chứng từ, thời gian xử lý chứng từ giữa Phòng Kiểm soát chi và Phòng Kế toán.
Bên cạnh đó, KBNN cũng đã thực hiện triển khai trên diện rộng dịch vụ công trực tuyến cho 63 KBNN tỉnh, thành phố. Đồng thời, KBNN cũng thực hiện nâng cấp phiên bản dịch vụ công trực tuyến, tinh giảm quy trình thao tác, đáp ứng được quy trình nghiệp vụ của phương án thống nhất đầu mối kiểm soát chi, đảm bảo rút ngắn tối đa các bước xử lý trên Hệ thống dịch vụ công, trên Hệ thống TABMIS và hệ thống thanh toán. Đến nay, KBNN đã cung cấp 8/12 TTHC qua dịch vụ công trực tuyến mức độ 4.
Theo KBNN, dịch vụ công trực tuyến đã mang lại hiệu quả rõ rệt, giúp các đơn vị sử dụng NSNN thực hiện chuyển/gửi hồ sơ thanh toán và nhận trả kết quả kiểm soát chi NSNN thông qua internet online nhanh chóng, chính xác. Quy trình thao tác đơn giản, được tinh giảm dần các bước, bỏ thủ tục không cần thiết, tiến tới thực hiện ngày càng nhanh, tiện lợi cho các đơn vị sử dụng NSNN và cán bộ thực hiện nghiệp vụ kiểm soát chi của KBNN.
Nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả của việc cải cách, hiện đại hóa, trong thời gian tới, KBNN tiếp tục đẩy mạnh cải cách TTHC trong quản lý kiểm soát thu, chi NSNN, trong đó tập trung vào các nội dung sau:
Thứ nhất, đẩy mạnh công tác CCHC trong toàn hệ thống KBNN, kiểm soát TTHC. Phấn đấu 100% các TTHC tại KBNN được thực hiện trên dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 trong năm 2019, đồng thời, phấn đấu đến hết ngày 31/12/2019, 100% các đơn vị sử dụng NSNN có giao dịch với KBNN cấp tỉnh, KBNN quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải tham gia dịch vụ công mức 4.
Tiếp tục triển khai hiệu quả Đề án thống nhất quy trình kiểm soát chi NSNN qua KBNN. Triển khai trên phạm vi toàn quốc Chương trình thông báo biến động số dư tài khoản cho các đơn vị sử dụng NSNN; thực hiện lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với chất lượng phục vụ của từng đơn vị KBNN trong hệ thống.
Thứ hai, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong hoạt động nghiệp vụ và quản lý nội bộ. Tập trung triển khai và hoàn thành đúng tiến độ các đề án, dự án hiện đại hóa CNTT trong hệ thống KBNN như: Nghiên cứu xây dựng kiến trúc các hệ thống CNTT của KBNN theo hướng hình thành kho bạc điện tử và kho bạc số; xây dựng và triển khai hệ thống tổng kế toán nhà nước; nâng cấp ứng dụng cảnh báo rủi ro trong kiểm soát chi NSNN...
Thứ ba, tăng cường công tác tuyên truyền, tập huấn đến các tổ chức, cá nhân có giao dịch với KBNN về bộ TTHC của Kho bạc, đặc biệt là việc tham gia dịch vụ công đảm bảo được sự thống nhất cao trong nhận thức và trong hành động.
Thứ tư, chú trọng công tác đào tạo bồi dưỡng, đảm bảo xây dựng được đội ngũ cán bộ có tư duy về cải cách, nắm vững chuyên môn nghiệp vụ, quy trình xử lý công việc và thái độ làm việc văn minh chuyên nghiệp... (Tapchitaichinh.vn 28/7, Lương Ninh)
Xây dựng Chính phủ điện tử: Bước đi hợp lý với tính khả thi cao
Tình trạng xây dựng Chính phủ điện tử (CPĐT), chính quyền điện tử ở các bộ ngành, địa phương thời gian qua theo kiểu “trăm hoa đua nở”, thiếu sự lãnh đạo tập trung. Trong đó, do dùng nhiều phần mềm, cơ sở dữ liệu khác nhau, dẫn đến nguy cơ đầu tư trùng lặp, lãng phí, không tương thích, thiếu liên thông, đồng bộ. Điều này cũng đặt ra thách thức trong vấn đề an ninh, an toàn mạng.
Đâu là biện pháp để khắc phục? Phóng viên Báo SGGP đã có cuộc trao đổi với ông Vũ Hoàng Liên, Chủ tịch Hiệp hội Internet Việt Nam, chuyên gia tổ công tác giúp việc Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về CPĐT.
- PHÓNG VIÊN: Ông đánh đánh giá như thế nào về cách thức đầu tư, phát triển CPĐT ở Việt Nam hiện nay?
Ông VŨ HOÀNG LIÊN: Chủ trương về xây dựng và phát triển CPĐT luôn được ủng hộ từ trước đến nay. Gần đây, chúng ta đều thấy rõ Chính phủ rất tiên phong và gương mẫu trong vấn đề này. Đó là việc đưa vào hoạt động trục liên thông văn bản quốc gia và hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ (e-Cabinet). Khung pháp lý đồng bộ về xây dựng CPĐT đang từng bước được hoàn thiện. Chính phủ cũng tập trung tháo gỡ những bất cập khó khăn trong cơ chế đầu tư, dịch vụ công nghệ thông tin (CNTT)... Cùng với quyết tâm của Thủ tướng Chính phủ thì các phương pháp triển khai CPĐT hiện nay đang có những bước đi khá hợp lý với tính khả thi cao. Những hạn chế, vướng mắc, bất cập trong phát triển CPĐT trước đây thì nay mọi người đều nhìn thấy rõ. Vấn đề bây giờ là phải làm như thế nào.
- Xin ông nói rõ về tính khả thi trong phương pháp xây dựng CPĐT hiện nay?
Theo tôi, việc xây dựng CPĐT được “chia cắt” thành nhiều dự án, chấp nhận những mức độ hoàn thiện khác nhau, với quy mô và những mục tiêu phù hợp thực tế là điều đúng đắn.
Gần 20 năm trước, khi thực hiện Đề án Tin học hóa hành chính nhà nước nhằm mục đích xây dựng CPĐT (Đề án 112), chúng ta đã triển khai tập trung với những nền tảng, phần mềm dùng chung quy mô. Cách làm đó có thể không đủ trải nghiệm các tình huống khác nhau nên có nơi phù hợp, nơi không, mất rất nhiều thời gian và kinh phí điều chỉnh, xử lý. Vì triển khai tập trung nên các địa phương, bộ ngành có thể trông chờ. Hiện nay, Chính phủ chia các vấn đề, nội dung cần phát triển của CPĐT trên một quy hoạch tổng thể chung và có giới hạn, lộ trình cho những mục tiêu cụ thể tùy theo yêu cầu, khả năng của từng địa phương hay đơn vị. Điều đó cho phép từng dự án, đề án mang tính khả thi hơn, được thúc đẩy nhanh hơn. Chính phủ đã xây dựng, phát triển những ứng dụng thiết thực để dùng ngay vào công việc cụ thể hàng ngày của mình; qua đó CPĐT vận hành tốt hơn, tạo cơ hội cho các bộ ngành, doanh nghiệp và người dân tham gia vào quá trình đó. Vấn đề tham gia của người dùng vào CPĐT rất quan trọng.
Trước đây, chúng ta cũng có những giải pháp công nghệ rất tốt, nhưng sự tham gia của người dùng không tốt khiến kết quả cuối cùng hạn chế. Nhiều khi chúng ta đòi hỏi mục tiêu quá lớn, công nghệ quá phức tạp có thể bất cập với khả năng tiếp cận của người dùng. Vì vậy, phải theo nhu cầu thực tế của người dân, doanh nghiệp, bộ máy để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ cụ thể và kéo người dùng tham gia, thực hiện được những mục tiêu đề ra.
- Như vậy, TPHCM, Hà Nội, hay các địa phương, bộ ngành sẽ có phương án riêng, giải pháp và công nghệ khác nhau trong vấn đề phát triển CPĐT, chính quyền điện tử của mình. Làm sao để giải quyết bài toán kết nối, chia sẻ dữ liệu, thưa ông?
Đây là vấn đề rất quan trọng. Hiện nay tất cả được thực hiện trên một khung kiến trúc, bộ tiêu chuẩn chung về CPĐT Việt Nam mà Chính phủ đã giao cho Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với Văn phòng Chính phủ xây dựng. Khung kiến trúc cơ bản đã được ban hành và đang được tiếp tục cập nhật, bổ sung với các yêu cầu đi kèm. Các địa phương, bộ ngành căn cứ trên khung kiến trúc đó, tùy theo năng lực của mình để triển khai thực hiện với lộ trình phù hợp. Khi thực hiện các cấu phần, module của CPĐT hiện nay, dù ở cấp độ nào thì đều có thể mở rộng, kết nối vào hạ tầng chung quốc gia khi cần. Dù là công nghệ, kỹ thuật, doanh nghiệp khác nhau nhưng khi thực hiện đều phải tuân thủ những điều kiện chung. Đồng thời vẫn kế thừa hệ thống hiện có mà vẫn tiến tới đồng bộ, thống nhất. Đây là điểm khác biệt trước đây, khiến cách thức xây dựng CPĐT hiện này rất khả thi, phù hợp với tình hình đất nước.
Việc Chính phủ lắng nghe và huy động được nguồn lực của các doanh nghiệp trong nước tham gia xây dựng, phát triển CPĐT như VNPT, Viettel, FPT, CMC… vừa qua là điều đáng ghi nhận. Các công ty công nghệ Việt Nam hiện nay xét ở mức độ nào đó, cũng không hề thua kém các công ty nước ngoài trong rất nhiều lĩnh vực. Việc các công ty này chủ động, thậm chí là bỏ kinh phí, công nghệ ra để xây dựng, phát triển, vận hành CPĐT, chính quyền điện tử ở các cấp là điều tốt, bởi không chỉ giúp giảm bớt chi phí, sự lệ thuộc vào nước ngoài, mà còn giúp chính các công ty đó trưởng thành hơn, dễ dàng hợp tác với nước ngoài bởi “thị trường CPĐT” hiện đang phát triển không chỉ ở Việt Nam, mà còn ở các nước đang phát triển. Sự tham gia của doanh nghiệp Việt Nam cũng đảm bảo tính bền vững của CPĐT.
- Trong bối cảnh hiện nay, theo ông, chúng ta cần phải làm những gì để bảo đảm an toàn thông tin cho các hoạt động của CPĐT cũng như lộ trình tiến lên Chính phủ số?
Trong xây dựng, phát triển CPĐT thì vấn đề an toàn thông tin là một cấu phần bắt buộc, có ngay từ đầu. Tuy nhiên, cũng như nhận thức trước đây, vấn đề an toàn thông tin, nhất là khâu đảm bảo an ninh dữ liệu lớn, nhiều lúc chưa được quan tâm đúng mức. Hiện nay, chúng ta đều đã thấy rõ, dữ liệu là tài nguyên cực kỳ quan trọng của bất kỳ Chính phủ, địa phương, doanh nghiệp, bộ, ngành nào. Vì vậy, yêu cầu hàng đầu hiện nay khi bắt tay vào làm CPĐT, chính quyền điện tử là phải đảm bảo an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu. An toàn thông tin có tính quyết định sống còn của một nền tảng CPĐT khi vận hành. Với khung kiến trúc về kỹ thuật và pháp lý CPĐT đã ban hành và đang được tiếp tục hoàn thiện, vấn đề an toàn thông tin sẽ giảm thiểu được rủi ro rất nhiều. CPĐT cũng như bất cứ phát triển cái gì, luôn tồn tại những hạn chế, rủi ro. Quan trọng là chúng ta lường trước và có phương án dự phòng, xử lý tình huống tốt.
Thủ tướng Chính phủ đã nhiều lần nhấn mạnh là phải xem xét, đáp ứng nhu cầu của người dân, doanh nghiệp bởi đó là đối tượng trung tâm của xây dựng CPĐT. Theo tôi, mặc dù hiện nay số lượng dịch vụ công trực tuyến có tăng lên nhưng tỷ lệ sử dụng vẫn còn thấp, hiệu quả chưa cao. Khu vực doanh nghiệp có cập nhật, sử dụng các dịch vụ công của chính quyền nhưng cá nhân, nhất là người dân ở vùng nông thôn thì tiếp cận CPĐT còn rất hạn chế. Tiến tới một Chính phủ số thì đối tượng doanh nghiệp được ưu tiên trước là đúng nhưng với loại hình dịch vụ công thì số người dân được phục vụ bởi CPĐT mới là hiệu quả thực tế. Do đó, lộ trình phát triển phải hài hòa giữa công nghệ số, môi trường pháp lý số với năng lực tiếp cận của các đối tượng của quản lý nhà nước để có được công dân số.
- Xin cảm ơn ông! (Sài Gòn Giải Phóng 29/7, Trần Lưu)
Đổi mới thủ tục thông báo trong thi hành án dân sự
Thông báo thi hành án là một thủ tục đặc biệt quan trọng trong THADS tuy nhiên trong tình hình hiện nay, số lượng các văn bản thông báo trong thi hành án ngày càng phát sinh nhiều, đòi hỏi cần có những đổi mới kịp thời và mang tính đột phá hơn nữa về mặt thủ tục.
Mặc dù chưa có thống kê cụ thể về số lượng các loại văn bản mà chấp hành viên cần thông báo trong quá trình tổ chức một vụ việc thi hành án, nhưng thực tiễn cho thấy có rất nhiều các loại văn bản phải thông báo trong THADS (bao gồm các quyết định về thi hành án và các loại văn bản khác phát sinh trong quá trình thi hành án như thông báo về tổ chức bán đấu giá, thông báo lựa chọn tổ chức đấu giá, thông báo kết quả thẩm định giá...). Một hồ sơ thi hành án thông thường (1 việc) Chấp hành viên, cán bộ thi hành án phải tống đạt ít nhất hai loại văn bản, đó là Quyết định thi hành án và giấy triệu tập. Trường hợp có hai đương sự (1 người phải thi hành án 1 người được thi hành án) thì ít nhất cũng phải tống đạt 4 (bốn) văn bản.
Theo số liệu bình quân của cả nước năm 2018, ước tính bình quân một Chấp hành viên phải giải quyết khoảng 220 việc/ năm, số lượng việc đó nhân với 4 văn bản (ở mức độ thấp) bằng 880 văn bản/ năm. Công việc này sẽ tăng lên khi số đương sự, người liên quan nhiều và tùy theo mức độ phức tạp của vụ việc thi hành án, đặc biệt là đối với các vụ việc phải tổ chức kê biên, cưỡng chế thi hành án, bán đấu giá tài sản nhiều lần...thì số lượng các văn bản thông báo này lại càng nhiều hơn nữa. Với số lượng tống đạt bình quân là hơn hai văn bản/ngày/Chấp hành viên (chưa trừ ngày lễ, thứ bảy và chủ nhật), có thể thấy số lượng công việc tống đạt, thông báo trong thi hành án cũng đã và đang ở mức báo động. Việc tống đạt một lượng lớn văn bản làm tốn khá nhiều chi phí từ ngân sách nhà nước và chiếm rất nhiều thời gian, công sức của cán bộ, Chấp hành viên làm công tác THADS.
Về hình thức thông báo, việc thông báo thi hành án gần như vẫn thực hiện theo phương pháp truyền thống như thông báo trực tiếp, niêm yết công khai hoặc thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong đó việc thông báo trực tiếp vẫn là một trong những hình thức ưu tiên sử dụng. Điều này dẫn đến việc tống đạt các văn bản thông báo cho đương sự và người liên quan hiện nay của Chấp hành viên rất bị động, mất nhiều thời gian, công sức mà hiệu quả không cao.
Thực tiễn cho thấy, các hình thức như gửi thông báo trực tiếp hoặc niêm yết công khai do chấp hành viên hoặc thư ký thi hành án thực hiện đã cho thấy tính không hiệu quả của các quy định hiện hành. Cùng một thời điểm mỗi chấp hành viên phải thi hành đồng thời nhiều vụ việc. Khoảng cách địa lý và việc di chuyển, đi lại mất nhiều thời gian, công sức mà hiệu quả hạn chế. Trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin đang được phát triển mạnh mẽ hiện nay, phần lớn người dân đã sử dụng mạng internet, máy tính, điện thoại thông minh,...thì việc quy định thông báo về THADS thông qua ứng dụng công nghệ thông tin trong Luật THADS sẽ tạo cơ sở pháp lý và điều kiện cho việc thực hiện các thủ tục THADS nhanh hơn, rút ngắn thời gian thi hành án.
Theo Điều 12 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định: Trường hợp đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu được nhận thông báo bằng điện tín, fax, email hoặc hình thức khác thì việc thông báo trực tiếp có thể được thực hiện theo hình thức đó nếu không gây trở ngại cho cơ quan THADS. Tuy nhiên, quy định này chỉ bó hẹp trong phạm vi “có thể” hoặc chỉ khi “có yêu cầu” của đối tượng được nhận thông báo nên thực tế thực hiện vẫn còn hạn chế. Do đó cần quy định mở rộng và đa dạng hơn nữa các phương thức thông báo này. (Pháp Luật Việt Nam 29/7, Hoàng Thanh Hoa)
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
Không sợ thiếu cán bộ
Những chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khi kết luận Phiên họp thứ 16 của Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng T.Ư ngày 26/7, đã làm nức lòng cán bộ, đảng viên và Nhân dân cả nước trước kỳ Đại hội Đảng sắp tới, khi mà công cuộc đấu tranh, phòng chống tham nhũng đang nhận được sự quan tâm của toàn xã hội.
Nhận định của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng không chỉ là câu trả lời mà còn là sự khẳng định rõ ràng trước một số ý kiến cho rằng kỷ luật cán bộ rồi thì lấy ai làm việc, hay như thanh tra, khởi tố nhiều làm giảm sự năng động của công chức!? Bởi theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc, của Đảng lên trên hết. Bao che cho cán bộ mới làm mất uy tín của Đảng, làm cán bộ hư hỏng; còn xử lý cán bộ vi phạm chỉ làm cho Đảng mạnh thêm.
Tính từ đầu nhiệm kỳ tới nay, đã có trên 70 cán bộ, đảng viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý bị thi hành kỷ luật Đảng và xử lý hình sự; Cơ quan Thanh tra, Kiểm toán đã kiến nghị xử lý kỷ luật hành chính 692 tập thể và nhiều cá nhân. Song, niềm tin trong xã hội, niềm tin của Nhân dân với Đảng ngày càng tăng lên và những nơi có cán bộ vi phạm bị xử lý đều được kiện toàn, ổn định và phát triển.
Điều này đã được chứng minh từ thực tế, khi GDP năm 2018 của cả nước đạt mức tăng trưởng 7,08%, vượt xa chỉ tiêu Quốc hội giao là 6,7% và là mức tăng cao nhất trong hơn 10 năm gần đây. 6 tháng đầu năm 2019, trong bối cảnh có tới hơn 70% nền kinh tế đang phát triển có mức tăng trưởng chậm lại thì GDP của Việt Nam vẫn tăng 6,76%, cao hơn mức tăng của 6 tháng các năm 2011 -2017. Giải ngân của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 9,1 tỷ USD, tăng gần 8% so với cùng kỳ năm 2018. Việc ký kết các hiệp định thương mại thế hệ mới CPTPP, EVFTA và 3 năm liên tiếp (2016 - 2018) thiết lập kỷ lục mới về số vốn giải ngân FDI (hơn 50 tỷ USD), Việt Nam tiếp tục khẳng định là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài.
Sự tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội đã cho thấy công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng và Nhà nước đang tạo những chuyển biến rất tích cực trong xã hội. Chống tham nhũng, tiêu cực cũng là yêu cầu của cách mạng, là nhu cầu tình cảm, nguyện vọng của Nhân dân, là mong muốn của Đảng nên “không có chuyện dừng lại hoặc ngập ngừng”.
Nói như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước: Chúng ta không thể thất hứa với dân, làm Nhân dân thất vọng vì dân đang mong chờ. Và dứt khoát không để lọt người có biểu hiện tham ô, tham nhũng, suy thoái đạo đức, chính trị, lối sống vào Đại hội sắp tới. Nơi nào để xảy ra cái này thì phải kỷ luật. Có dấu hiệu vi phạm là phải kiểm tra. Kiểm tra có vấn đề thì không đưa vào cấp ủy. Đại hội là một dịp để sàng lọc cán bộ. Ai xứng đáng thì làm, không xứng đáng thì thôi, không sợ thiếu cán bộ. Bởi không thiếu người tận trung với Đảng, tận hiếu với dân. (Kinh Tế & Đô Thị 29/7, Bảo Châu)
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Làm gì để nhân dân vững tin vào thành công của cuộc chiến chống tham nhũng?
“Một không khí phấn khởi đang lan tỏa trong toàn xã hội. Đấy là tâm lý có thật, chính đáng, đấy cũng điều ta vui, là sự ủng hộ chúng ta, mong muốn chúng ta làm mạnh mẽ hơn nữa”.
Chủ trì phiên họp thứ 16 Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng mới đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban chỉ đạo khẳng định, “một không khí phấn khởi đang lan tỏa trong toàn xã hội”. Mỗi lần họp Uỷ ban Kiểm tra hay tòa tuyên bố cái gì là nhân dân, dư luận rất quan tâm. Nhân dân luôn mong mỏi, thậm chí có phần lo lắng: "Liệu có duy trì được không, có tiếp tục làm mạnh được không hay là chùng xuống?". Đấy là tâm lý có thật, chính đáng, đấy cũng điều ta vui, là sự ủng hộ chúng ta, mong muốn chúng ta làm mạnh mẽ hơn nữa.
Nhận xét của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước là rất chuẩn xác. Nhân dân rất phấn khởi, tin tưởng vào cuộc chiến chống tham nhũng, công cuộc “đốt lò”. Cứ mỗi khi có thêm quan chức tham nhũng bị “cho vào lò”, người dân cả nước lại thêm phấn khởi, tin tưởng. Trạng thái tâm lý đó là tất yếu, vì:
Tài sản của đất nước, mà suy cho cùng đều là của nhân dân bị đục khoét, bòn rút, chia chác. Trong khi người dân đang vật lộn với muôn vàn khó khăn để mưu sinh, thì “một bộ phận không nhỏ” quan chức sống xa hoa, hết dinh thự nọ đến biệt phủ kia; đua nhau cho con du học ở các nước tư bản giàu có…
Khi những người được nhân dân ủy thác quyền lực, trả lương để cùng hệ thống chính trị dẫn dắt đất nước tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh thì “bộ phận không nhỏ” này lại tìm mọi cách đục khoét vơ vét của dân, của nước, góp phần làm cho đất nước tụt hậu, làm cho xã hội bất công sâu sắc.
Và cũng chính những quan tham này khi chưa bị lột mặt nạ thì ở đâu họ cũng rao giảng đạo đức, nào là chống chuyên quyền, quan liêu, xa dân, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân; nào là kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; chống suy thoái, sa sút về phẩm chất đạo đức.
Tôi rất chia sẻ với trạng thái tâm lý của người dân nhưng ngẫm cho kỹ, hết lớp cán bộ này đến lớp cán bộ khác bị tù tội cũng là nỗi đau chung vì vừa mất mát cán bộ vừa bị bào mòn niềm tin.
Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, hơn 70 cán bộ, đảng viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, bị thi hành kỷ luật đảng và xử lý hình sự. Cơ quan thanh tra, kiểm toán kiến nghị thu hồi, xử lý 61.392 tỷ đồng và 142 ha đất; kiến nghị xử lý kỷ luật hành chính 692 tập thể và nhiều cá nhân; chuyển cơ quan điều tra xem xét xử lý 46 vụ, 73 đối tượng. Thanh tra Chính phủ tập trung thanh tra, ban hành kết luận thanh tra các dự án, vụ việc theo kế hoạch của Ban Chỉ đạo.
Trong số mấy nghìn quan chức bị “cho vào lò”, có ngót nghét hàng trăm cán bộ cấp cao. Trong đó có cả Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng, nhiều Ủy viên Trung ương, Bộ trưởng, gần 30 tướng lĩnh quân đội và công an …
Tại sao “lò” đã nóng mấy năm nay nhưng lớp “củi” này cho vào “lò” lại có lớp “củi” khác xuất hiện ? Phải chăng là do những nguyên nhân cơ bản dưới đây:
Thứ nhất: Quy trình lựa chọn cán bộ được khẳng định là rất công phu, chặt chẽ nhưng xem ra còn quá nhiều lỗ hổng, cho nên rất nhiều những kẻ cơ hội vẫn chui được vào bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị để trục lợi. Thậm chí không ít quan chức vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật nghiêm trọng vẫn chui sâu leo cao.
Thứ hai: Ít có quốc gia nào trên thế giới có hệ thống các trường chính trị, quản lý hành chính quy mô như ở Việt Nam, nơi đội ngũ cán bộ phải qua các chương trình đào tạo về chính trị, quản lý nhà nước trước khi được bổ nhiệm vị trí cao hơn. Phải chăng động cơ, ý thức học tập về các chuyên ngành của không ít cán bộ chưa phù hợp, không phải vì mục đích trui rèn kiến thức, phẩm chất chính trị, năng lực quản lý nhà nước, đạo đức phẩm chất?
Thứ ba: Phải chăng vai trò giám sát của Quốc hội, cơ quan tư pháp và của Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc đối với hệ thống cơ quan hành pháp, hệ thống chính trị các cấp còn nhiều bất cập? Chính vì vậy mà vai trò trong phát hiện, ngăn chặn sai phạm của quan chức trong bộ máy hành pháp và hệ thống chính trị còn nhiều hạn chế?
Đơn cử, hàng loạt sai phạm nghiêm trọng về chuyển nhượng đất ở Đà Nẵng, Nha trang, TP. Hồ Chí Minh … dẫn đến những hậu quả nặng nề về kinh tế, chính trị, xã hội; người dân mòn mỏi khiếu kiện, khóc than hơn 20 năm qua.
Thứ tư: Phải chăng công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán theo kế hoạch ở tất cả các cấp chưa quyết liệt, còn bỏ qua sai phạm, ít khi phát hiện ra tham nhũng. Trong khi đó, hầu hết các vụ tham nhũng đều do nhân dân phát hiện hoặc do nội bộ tố cáo, báo chí phanh phui.
Thứ năm: Vai trò quản trị nhà nước đối với các cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến kinh tế và các doanh nghiệp nhà nước còn nhiều bất cập, lỏng lẻo. Đây chính là mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng phát triển. Cho nên trong các cơ quan quản lý nhà nước thuộc lĩnh vực kinh tế và doanh nghiệp nhà nước mới có nhiều cán bộ lãnh đạo sa ngã đến vậy.
Năm 2014, ông Phan Đăng Tuất lúc còn là Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty Rượu bia & Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) đã cảnh báo: "Mâu thuẫn trong các doanh nghiệp nhà nước không bao giờ hết. Nếu Vinashin, Vinalines cổ phần hóa sớm thì quản lý nhà nước cũng đỡ vất vả. Mà không đẩy nhanh cổ phần hoá thì tôi e mấy năm tới, nhiều anh ở đây (dự Hội nghị) cũng lại phải “đi” thôi".
Đúng như dự cảm của ông Phan Đăng Tuất, từ đó đến nay rất nhiều người, nặng thì trở thành bị can, bị cáo, phạm nhân; nhẹ thì bị kỷ luật, mất chức.
Thứ sáu: Theo Báo cáo chính trị Đại hội Đảng XII, “đổi mới chính trị chưa đồng bộ với đổi mới kinh tế”. Liệu điều này có dẫn đến bất cập về thể chế và cơ chế quản lý kinh tế; hệ thống pháp luật thiếu động bộ, chồng chéo, nhiều lỗ hổng, là nguyên nhân hết lớp cán bộ này đến lớp cán bộ khác “sa chân”?
Mặt khác, khi nền kinh tế còn bị can thiệp, không vận hành đúng quy luật của nó, tình trạng xin-cho còn phổ biến nên tạo dư địa màu mỡ để quan chức thông đồng, bòn rút tài sản?
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có khái quát về nguyên nhân tham nhũng chưa được ngăn chặn: “Thể chế, chính sách pháp luật trên một số lĩnh vực còn bất cập, tính khả thi không cao; chưa có cơ chế đủ mạnh để kiểm soát chặt chẽ quyền lực; công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn chưa được quan tâm thực hiện, nên dễ dẫn đến việc lạm quyền để trục lợi…”
Bởi vậy, để nhân dân vững tin vào thành công của cuộc chiến chống tham nhũng, và để cuộc chiến này thắng lợi, mang lại hiệu quả dài lâu thì phải gắn liền cải cách kinh tế với cải cách thể chế, cải cách quản trị quốc gia; gắn liền phát triển kinh tế với xây dựng nhà nước pháp quyền.
Đây là những giải pháp hữu hiệu nhất mở đường cho kinh tế thị trường vận hành trơn tru và cũng là giải pháp hữu hiệu nhất để phát huy vai trò kiểm soát, giám sát lẫn nhau một cách thực chất của các cơ quan lập pháp, tư pháp, hành pháp trong bộ mày nhà nước.
Việt Nam là nền kinh tế chuyển đổi, còn đi sau về nhiều mặt nên cần tham khảo, tiếp thu tinh hoa của các nước phát triển về quản trị nền kinh tế thị trường và xây dựng nhà nước pháp quyền. (Vietnamnet.vn 28/7, Nguyễn Huy Viện)
Thủ tục phải “chạy”, không thì… chờ
Báo cáo từ các bộ ngành Trung ương, các sở ngành của TPHCM, cho thấy người dân rất hài lòng về thủ tục hành chính (TTHC). Cụ thể, báo cáo của Sở Tài nguyên - Môi trường TP, cho biết kết quả giải quyết hồ sơ nhà đất cho người dân đúng hẹn trên 90%, qua khảo sát người dân cũng rất hài lòng với kết quả này.
Tuy nhiên, đó là trên báo cáo, còn trong thực tế người dân, doanh nghiệp vẫn kêu ca về TTHC, nhất là trong lĩnh vực nhà. Chính vì quá nhiêu khê mà sinh ra tiêu cực, người dân doanh nghiệp phải “đi đêm” với cán bộ thụ lý hồ sơ.
Hàng loạt dự án đầu tư nhà ở đang bị ngưng trệ, hàng ngàn trường hợp xây nhà trái phép, không phép, phải chăng cũng do hệ lụy của luật pháp chồng chéo, TTHC nhiêu khê?
Cải cách hành chính giai đoạn 2016-2020 là 1 trong 7 chương trình đột phá Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP lần thứ X nhiệm kỳ 2015-2020 đã đề ra. TP đã tập trung triển khai các ứng dụng công nghệ thông tin tại các cơ quan nhà nước, đặc biệt là hệ thống liên thông văn bản điện tử.
Phó Chủ tịch UBND TP Trần Vĩnh Tuyến, cho biết hiện nay TP đã thực hiện gửi và nhận văn bản điện tử trên phạm vi toàn TP. Tính từ cuối năm 2014 đến nay, TP đã triển khai liên thông kết nối 760 đơn vị trên địa bàn, bao gồm các sở, ban, ngành, quận, huyện, phường, xã, thị trấn, các tổng công ty và đơn vị trực thuộc. Đã có hơn 4,4 triệu văn bản điện tử được gửi và nhận qua Trục liên thông của TP.
Ngày 24-8-2017, UBND TP đã ban hành Quyết định 4556/QĐ-UBND về Quy chế quản lý, sử dụng hệ thống quản lý văn bản và hồ sơ công việc qua mạng. Việc triển khai liên thông văn bản điện tử đã mang lại hiệu quả tích cực trong xử lý công việc của TP, như tiếp nhận và xử lý văn bản giữa các cơ quan nhà nước được nhanh chóng và thuận lợi hơn; tiết kiệm chi phí trong việc gửi văn bản qua bưu điện, giấy, mực; theo dõi và giám sát việc xử lý thực hiện chỉ đạo của UBND TP được sát sao và có hệ thống hơn.
Chính quyền quyết liệt là vậy, nhưng tại sao người dân, doanh nghiệp vẫn rất mệt mỏi khi tiếp cận các thủ tục của cơ quan nhà nước? Giám đốc một doanh nghiệp đầu tư kinh doanh bất động sản cho biết, hiện nay nếu doanh nghiệp nộp hồ sơ rồi đợi kết quả giải quyết, hoặc chờ hướng dẫn các bước tiếp theo của cán bộ thụ lý hay lãnh đạo của sở ngành, có khi 10 năm chưa xong thủ tục 1 dự án.
Chính vì thế, doanh nghiệp đều phải nhờ vả, “đi cửa sau” sau khi nộp hồ sơ vào cửa trước. Đối với dự án nhà ở, có những vướng mắc chính quyền TP không biết phải giải quyết như thế nào, nên nhiều hồ sơ các sở ngành không nhận với lý do… chờ hướng dẫn. Trong trường hợp này, nếu doanh nghiệp không “chạy” thì chờ không biết đến khi nào.
Có trường hợp người dân phản ánh, cùng trong dự án nhà ở do 1 doanh nghiệp làm chủ đầu tư, khi đi làm thủ tục mua bán cho khách hàng, văn phòng đăng ký, cơ quan thuế lại có thủ tục khác nhau cho từng căn nhà. Khi bị “hành”, tâm lý người dân muốn làm theo hướng dẫn của cán bộ cho xong việc, ít ai cãi lại hay khiếu nại gì miễn là được việc của mình.
Có trường hợp nộp hồ sơ nhà đất, những giấy tờ không cần thiết cán bộ vẫn yêu cầu nộp. “Khổ chủ” phải quay về đo vẽ, sao chụp giấy tờ để bổ sung theo yêu cầu của cán bộ, nhưng các tài liệu này cũng chẳng để làm gì.
Chính phủ, chính quyền TP thể hiện nỗ lực cải cách hành chính rất mạnh mẽ, nhất là trong thủ tục nhà đất. Ngược lại, các quy định của pháp luật chồng chéo, không rõ ràng, người dân lại chưa có điều kiện tiếp cận đầy đủ thông tin (như quy hoạch, các bước thủ tục…), năng lực cán bộ hạn chế… nên người dân liên tục bị hành.
Cũng chính từ đây sinh ra tiêu cực, nhũng nhiễu. Vì vậy, cải cách hành chính trước hết cần có sự minh bạch của hệ thống pháp luật, cái tâm của cán bộ giải quyết hồ sơ và sự hài lòng của người dân. (Saigondautu.com.vn 29/7)
Cuộc chiến chống “giặc nội xâm” đang mang lại kết quả tốt
Một số phần tử phản động, thế lực thù địch bên ngoài và một số người bất đồng chính kiến đang cố tình xuyên tạc, hiểu sai cuộc đấu tranh chống tham nhũng hiện nay tại Việt Nam với các luận điệu như: Chống tham nhũng vẫn có giới hạn, vẫn có vùng cấm không được đụng tới; cuộc chiến chống tham nhũng không hiệu quả; nhân dân không tin tưởng vào thành công của cuộc đấu tranh này; chế độ độc đảng lãnh đạo là cái gốc sinh ra tham nhũng... Nhưng thực tế đã chứng minh không phải như vậy.
Cuộc đấu tranh hay cuộc chiến đấu chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay là cuộc chiến đấu sống còn của toàn Đảng, toàn dân đối với “giặc nội xâm” để củng cố niềm tin trong toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chính vì vậy, cuộc tiễu trừ “giặc nội xâm” đang được thực hiện từng bước chắc chắn, rất quyết liệt và không khoan nhượng. Từ nhiệm kỳ Đại hội Đảng XI đến nay, các vụ án kinh tế lớn, những sai phạm nghiêm trọng liên quan đến những vị “lãnh đạo to”, các “dây lợi ích” mà theo suy nghĩ trước đây thì dường như khó đụng tới, nay đã được đưa ra xét xử nghiêm minh với các mức án nghiêm khắc. Trong đó, Dương Chí Dũng, từng giữ chức Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam, từng là Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) bị tuyên án tử hình về tội tham ô, bị yêu cầu bồi thường 110 tỷ đồng.
Đặc biệt, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng tới nay, cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực càng thể hiện rõ tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”. Ngay đầu nhiệm kỳ, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước), Trưởng ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã thể hiện rõ tinh thần này: “Từ nay trở đi, bất cứ trường hợp nào mà vi phạm kỷ luật, chúng ta phải xử lý nghiêm, làm nghiêm từ trên xuống dưới để giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, để lấy lại và củng cố lòng tin và tình thương yêu, quý trọng của nhân dân”.
Từ cựu Ủy viên Bộ Chính trị như ông Đinh La Thăng, đến hai cựu Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Bắc Son, Trương Minh Tuấn, rồi hai cựu Thứ trưởng Bộ Công an là Trần Việt Tân, Bùi Văn Thành đều bị xử lý nghiêm khắc vì tham nhũng, vi phạm pháp luật... Người nhà của một vài đồng chí nguyên Ủy viên Bộ Chính trị cũng đã bị bắt do vi phạm pháp luật. Như thế là cả cấp Ủy viên Bộ Chính trị, bộ trưởng, cán bộ cao cấp của lực lượng vũ trang cũng bị kỷ luật, bị xử tù nếu tham nhũng, vi phạm pháp luật. Không có vị trí an toàn, khu vực an toàn và cũng không còn khái niệm “hạ cánh an toàn”, hàng loạt cán bộ đã nghỉ hưu mà bị phát hiện có sai phạm trong thời gian đương chức vẫn bị đưa ra kỷ luật. Mới nhất là nguyên Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh bị Bộ Chính trị kỷ luật cảnh cáo; nguyên Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải Nguyễn Hồng Trường bị kỷ luật cách chức Ủy viên Ban cán sự đảng Bộ Giao thông vận tải (nhiệm kỳ 2011-2016, 2016-2021) về các sai phạm khi còn đương chức... Thậm chí, đảng viên vi phạm đặc biệt nghiêm trọng thì dù đã qua đời vẫn kiểm tra, kết luận và xử lý kỷ luật. Điều này được nêu rõ trong Văn bản số 04-HD/UBKTTW hướng dẫn thực hiện một số điều trong Quy định số 102-QĐ/TW của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm. Như thế là quy định của Đảng liên quan đến xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm đã nghiêm khắc hơn, mang tính răn đe cao hơn so với các quy định của pháp luật áp dụng cho các công dân. Điều này là hoàn toàn sáng suốt, thể hiện rõ tính tiên phong, tính gương mẫu của Đảng trong mọi vấn đề, trong đó có cả việc xử lý sai phạm.
Đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, có cảm nhận việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng (PCTN) ở cấp Trung ương cương quyết hơn, “nóng” hơn, còn các cấp dưới có vẻ như “lạnh” hơn, chủ yếu là thụ động chờ các hành động của trên thì nay, tổ chức đảng ở các địa phương cũng đã chủ động PCTN, tiêu cực trong hệ thống. Điều này cho thấy, công tác PCTN đã lan tỏa, trên đã quyết tâm thì dưới dứt khoát phải chuyển động. Cụ thể như, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa kỷ luật một số cán bộ của huyện Phúc Thọ, trong đó cách chức tất cả chức vụ trong Đảng đối với ông Hoàng Mạnh Phú, Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện Phúc Thọ do có sai phạm nghiêm trọng trong chỉ đạo, quản lý, để xảy ra vi phạm tại một số dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn huyện trong thời gian ông này là Chủ tịch UBND huyện. 6 tháng đầu năm 2019, các địa phương đã khởi tố 176 vụ án/425 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ (tăng 13,5% về vụ và 32,8% về số bị can so với cùng kỳ năm 2018).
Một khí thế chống tham nhũng, tiêu cực đang dâng cao trên khắp cả nước. Theo báo cáo tại phiên họp thứ 16 Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, từ đầu năm 2019 đến nay, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 123 tổ chức đảng và 7.923 đảng viên; trong đó có 256 đảng viên bị kỷ luật do có hành vi tham nhũng, cố ý làm trái. Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật đối với 1 tổ chức đảng, 13 đảng viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, cả đương chức và đã nghỉ hưu. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, hơn 70 cán bộ, đảng viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý bị thi hành kỷ luật Đảng và xử lý hình sự. Cơ quan thanh tra, kiểm toán kiến nghị thu hồi, xử lý 61.392 tỷ đồng và 142ha đất; kiến nghị xử lý kỷ luật hành chính 692 tập thể và nhiều cá nhân; chuyển cơ quan điều tra xem xét xử lý 46 vụ, 73 đối tượng. Thanh tra Chính phủ tập trung thanh tra, ban hành kết luận thanh tra các dự án, vụ việc theo kế hoạch của Ban chỉ đạo.
Thời gian qua, việc kê biên, thu giữ tài sản trong một số vụ án tham nhũng, kinh tế lớn đạt kết quả khá cao. Cụ thể, vụ Giang Kim Đạt thu hồi hơn 300 tỷ đồng; vụ Hứa Thị Phấn hơn 10.000 tỷ đồng; vụ Ngân hàng Đông Á hơn 2.000 tỷ đồng; vụ Phạm Công Danh (giai đoạn I) hơn 6.000 tỷ đồng; vụ AVG hơn 8.500 tỷ đồng… Theo báo cáo tại phiên họp thứ 16 Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, hiện nay, việc tạm giữ, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, ngăn chặn giao dịch, chuyển nhượng tài sản liên quan các vụ án thuộc diện Ban chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo có giá trị tài sản hơn 10.000 tỷ đồng.
Sự quyết liệt đấu tranh khiến tham nhũng đang từng bước được đẩy lùi. Theo báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2018 được công bố vào tháng 3 vừa qua thì hiện tượng “tham nhũng vặt” (chi phí "bôi trơn" quy mô nhỏ mà doanh nghiệp phải chi trả để xin cấp các loại giấy phép) trong năm 2018 đã giảm so với thời kỳ trước, với chỉ 54,8% doanh nghiệp phải chi trả chi phí không chính thức, thấp nhất trong 5 năm trở lại đây. Quy mô chi trả chi phí không chính thức có xu hướng giảm, khi chỉ có 7,1% doanh nghiệp cho biết phải chi trả hơn 10% doanh thu cho các loại chi phí không chính thức (năm 2015 là 11,1% doanh nghiệp). Trong các cuộc tiếp xúc cử tri, ý kiến chung của cử tri và nhân dân đều tỏ ý tin tưởng rằng với sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự hoàn thiện các quy định của Đảng, của pháp luật (Quy định số 102-QĐ/TW của Bộ Chính trị; Luật PCTN đã được ban hành...) và kiên quyết xử lý sai phạm thì tham nhũng dứt khoát sẽ bị đẩy lùi.
Hiện nay có ý kiến sai trái cho rằng, chế độ độc đảng lãnh đạo là căn nguyên tạo ra tham nhũng. Muốn hiểu về vấn đề này chúng ta phải nhìn nhận bản chất của tham nhũng là gì? Karl Marx cũng giống như nhiều nhà triết học phương Tây đã cho rằng, động lực sâu xa thúc đẩy con người hoạt động chính là lợi ích. Mà con người thường có xu hướng muốn tối ưu hóa lợi ích của cá nhân mình, từ đó có thể làm xâm hại đến lợi ích tập thể, lợi ích cộng đồng, lợi ích quốc gia, dân tộc. Từ đó phải có giải pháp để điều chỉnh lợi ích của cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Bản chất của tham ô là lấy của công làm của tư, là gian lận, là tham lam, là trộm cướp”. Như thế, hành vi tham ô, tham nhũng liên quan đến tư cách đạo đức của con người chứ không liên quan đến thể chế chính trị. Bởi vì, dù thể chế chính trị gì, nhưng nếu con người không được giáo dục tốt từ gia đình, nhà trường, xã hội; không có một hệ thống pháp luật tốt để ngăn chặn, răn đe, công tác quản lý nhà nước bị buông lỏng thì tham nhũng sẽ có cơ hội hoành hành.
Nhìn rộng ra thế giới, không một quốc gia nào, thuộc chế độ chính trị nào có thể tự hào là miễn nhiễm đối với tham nhũng. Nước Mỹ cũng luôn đau đầu bởi vấn nạn tham nhũng. Theo thống kê của Đại học Illinois, thủ đô Washington D.C và các thành phố lớn, như: Chicago, Los Angeles, Manhattan, Miami có số công chức bị kết tội tham nhũng rất cao. Theo đó, giai đoạn từ năm 1976 tới năm 2016, Chicago có hơn 1.700 công chức bị xử lý, cao nhất tại Mỹ. Los Angeles đứng thứ hai với hơn 1.500 công chức bị xử lý. Manhattan đứng thứ ba với hơn 1.300 công chức. Đứng thứ tư và thứ năm lần lượt là Miami với 1.165 công chức và Washington D.C với gần 1.200 công chức. Nếu so sánh các bang trên bình quân đầu người (số người bị kết tội trong 10.000 dân), Columbia là bang có tình trạng tham nhũng tồi tệ nhất tại Mỹ vì cứ 10.000 dân lại có 17,24 công chức bị kết tội. Như thế, mặc dù Mỹ có rất nhiều đảng phái cạnh tranh với nhau, giám sát nhau, hệ thống pháp luật khá hoàn thiện, nhưng tình trạng tham nhũng vẫn nghiêm trọng. Hay tại châu Âu, nơi đại đa số các quốc gia theo chế độ đa đảng thì theo báo cáo về tham nhũng của Đảng Xanh châu Âu (European Green Party) công bố cuối năm 2018 cho biết một thực trạng tồi tệ, đó là các quốc gia thành viên của EU mất tới 900 tỷ euro (khoảng 1.000 tỷ USD) mỗi năm vì tham nhũng. Trước đó, báo cáo chống tham nhũng của Liên minh châu Âu (EU) năm 2014 cho hay, tham nhũng gây thiệt hại cho nền kinh tế khu vực này khoảng 120 tỷ euro mỗi năm. Như thế, chống tham nhũng là cuộc đấu tranh, là cuộc chiến mà mọi quốc gia đều phải tiến hành.
Việt Nam hoàn toàn có thể thực hiện tốt cuộc đấu tranh PCTN nếu luôn giữ vững quyết tâm cao trong toàn Đảng, toàn dân. Cùng với nâng cao chất lượng công tác giáo dục công dân, hoàn thiện các quy định của Đảng và hệ thống pháp luật, bịt các kẽ hở của luật pháp, thì việc kiên quyết trừng phạt hành vi tham nhũng, tội phạm tham nhũng sẽ làm cho những người thực thi công vụ “không thể tham nhũng, không dám tham nhũng và không muốn tham nhũng”. (Quân Đội Nhân Dân 29/7, Hồ Quang Phương)
Trung tâm Tin học - Công báo
- Bản tin cải cách hành chính ngày 26/7/2019 (26/07/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 25/7/2019 (25/07/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 24/7/2019 (24/07/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 23/7/2019 (23/07/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 22/7/2019 (22/07/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 19/7/2019 (19/07/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 18/7/2019 (18/07/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 17/7/2019 (17/07/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 16/7/2019 (16/07/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 15/7/2019 (15/07/2019)

