Bản tin cải cách hành chính ngày 15/7/2019

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. Đột phá cải cách hành chính vì dân, gần dân

2. “Quên” kê khai tài sản sẽ bị kỷ luật

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

3. Bộ Công Thương siết chặt kỷ cương hành chính và quản lý cán bộ

4. Cải cách hành chính ngành du lịch

5. BHXH Việt Nam bắt đầu lộ trình gỉảm hàng nghìn biên chế

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

6. Bồi dưỡng, giám sát cán bộ được điều động, luân chuyển

7. Xử lý cán bộ, vẫn còn những câu hỏi day dứt

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

8. Cần luật hóa đạo đức công vụ

9. Đánh giá cán bộ cần đi vào thực chất

TIN THẾ GIỚI

10. Sử dụng công nghệ trong phòng, chống tham nhũng

         

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Đột phá cải cách hành chính vì dân, gần dân

Năm 2018, chỉ số cải cách hành chính (CCHC) của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xếp hạng 12/63 tỉnh, thành phố, tăng 4 bậc so với năm 2017; chỉ số hài lòng SIPAS đạt 83,04%, cao hơn tỷ lệ hài lòng trung bình cả nước (82,99%), tăng 10,86% và tăng 29 bậc so với năm 2017… Đây là kết quả của việc quyết liệt triển khai Nghị quyết XII của Đảng về CCHC bằng những mô hình, giải pháp sáng tạo, phù hợp với thực tiễn địa phương.

Ngày làm việc cuối tuần, anh Thắng, chị Lan, ngụ tại xã Suối Nghệ, huyện Châu Đức (Bà Rịa-Vũng Tàu), đến UBND xã đăng ký kết hôn. Sau khi hoàn thành các thủ tục pháp lý, anh chị bất ngờ nhận được giấy chứng nhận kết hôn kèm theo thư chúc mừng hạnh phúc của UBND xã in trang trọng trên giấy hồng. Đây chỉ là một trong những sáng kiến CCHC được UBND xã Suối Nghệ triển khai thực hiện nhằm hướng tới nền hành chính vì dân, gần dân. Bà Lê Thị Ngọc Lâm, Phó chủ tịch UBND xã Suối Nghệ chia sẻ: “Đơn giản, gọn nhẹ, nhưng mỗi lần đến trao thư chúc mừng sự kiện vui, gửi thư chia sẻ sự kiện buồn của người dân địa phương, chúng tôi cảm nhận được tình cảm gần gũi, ấm áp nghĩa tình và niềm tin mà bà con dành cho cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính địa phương. Đây là động lực để chúng tôi làm việc tốt hơn, CCHC nhiều hơn vì người dân, vì doanh nghiệp”.

Mới đây, có mặt tại bộ phận “một cửa” UBND phường 4 (TP Vũng Tàu), chúng tôi chứng kiến không khí tiếp công dân của đội ngũ công chức luôn thân thiện, cởi mở nhờ mô hình “Không vách kín ngăn cách” giữa người dân và công chức. Với mô hình này, người dân, doanh nghiệp đến làm thủ tục hành chính không còn cảm thấy bất tiện trong giao tiếp bởi tấm kính đã được tháo bỏ, người dân và công chức trao đổi thuận tiện, dễ dàng hỏi-đáp những nội dung cần thiết để hoàn thành thủ tục hành chính…

Từ thực tiễn hai mô hình CCHC này, chúng tôi tìm hiểu sâu tại các cơ quan chức năng của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và được biết, thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng về chủ trương “Giảm mạnh, bãi bỏ những thủ tục hành chính gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp”;  “Xây dựng tổ chức bộ máy của toàn hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả…”, Tỉnh ủy Bà Rịa-Vũng Tàu đã ra nghị quyết chuyên đề, chỉ đạo phát động phong trào thi đua đẩy mạnh CCHC trong toàn hệ thống chính trị, nhất là khối hành chính sự nghiệp. Tùy theo tính chất nhiệm vụ, đặc điểm địa bàn, các sở, ngành, địa phương xác định những mô hình CCHC phù hợp, hiệu quả. Sáng kiến “Trao thư chúc mừng, gửi thư chia sẻ” của UBND xã Suối Nghệ và việc tháo bỏ tấm kính ngăn cách của UBND phường 4 (TP Vũng Tàu) là kết quả của việc triển khai nghị quyết chuyên đề CCHC, do Tỉnh ủy chỉ đạo, phát động.

Ông Võ Văn Nam, Phó giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cho biết, khoảng 5 năm trước, CCHC của tỉnh có nhiều vấn đề cần khắc phục. Mặc dù Tỉnh ủy đã chỉ đạo quyết liệt nhưng mức độ chuyển biến còn chậm. Thế nhưng, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng như một luồng gió mới tạo đà cho những chủ trương của tỉnh thêm “sức nặng”. Từ sau nghị quyết chuyên đề, các ngành, các cấp, đặc biệt là UBND tỉnh đã xây dựng, triển khai nhiều kế hoạch, chương trình, chỉ thị về CCHC, buộc các cấp, các ngành, các địa phương phải thực hiện nghiêm túc để nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân. Theo đó, mỗi sở, ngành, địa phương đều chủ động đề xuất thực hiện các mô hình CCHC hiệu quả. Trong đó, những mô hình được người dân đánh giá cao, gồm: Tổng đài thực hiện dịch vụ thông báo tình trạng hồ sơ qua tin nhắn của UBND phường 5 (TP Vũng Tàu); chứng thực ngoài giờ hành chính một buổi trong tuần để phục vụ nhân dân của UBND phường Thắng Nhì(TP Vũng Tàu); tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính tại nhà cho người cao tuổi của UBND xã Tam Phước (huyện Long Điền); hỗ trợ doanh nghiệp, người dân nộp hồ sơ trực tuyến tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Sở Công thương; viết giúp người dân kê khai thủ tục hành chính (huyện Đất Đỏ)…

Cùng với những mô hình trên, CCHC triệt để ở bộ phận “một cửa”, “một cửa liên thông” là nét đặc trưng của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Căn cứ nghị quyết của Tỉnh ủy, UBND tỉnh ban hành Chỉ thị số 07/CT-UBND thực hiện Năm kỷ cương hành chính và trách nhiệm người đứng đầu trong thực hiện nhiệm vụ CCHC 2018. Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu các cơ quan, đơn vị duy trì mô hình “3 đúng” (đúng luật, đúng quy trình, đúng nội quy, quy chế). Tất cả hồ sơ được bộ phận “một cửa” tiếp nhận nhanh chóng, chỉ ra thiếu sót và yêu cầu bổ sung qua trang điện tử. Điển hình như tại Cục Thuế tỉnh, đến nay cục đã ban hành danh mục thủ tục hành chính, thực hiện cắt giảm 30% thủ tục hành chính và áp dụng hồ sơ điện tử, rút ngắn thời gian, chi phí cho doanh nghiệp và người dân.

Quyết liệt triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và nghị quyết chuyên đề lãnh đạo thực hiện công tác CCHC, trong 3 năm qua, UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã ban hành hàng chục văn bản, kế hoạch, hướng dẫn; Sở Nội vụ trực tiếp tham mưu, kiểm tra hoạt động CCHC ở các cơ quan, đơn vị, địa phương; đề xuất xây dựng nền hành chính công vì dân, do dân; cán bộ công quyền gần gũi, thân thiện với nhân dân và được nhân dân tin tưởng. Công tác đánh giá kết quả CCHC của các cơ quan, địa phương dựa trên nhiều yếu tố, trong đó có chỉ số theo dõi, chấm điểm, xếp hạng mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp với 5 yếu tố cơ bản, gồm: Mức độ thuận tiện tiếp cận dịch vụ hành chính công; thủ tục hành chính đơn giản; thái độ công chức trực tiếp giải quyết thủ tục hành chính; kết quả cung ứng dịch vụ hành chính công; việc tiếp nhận, giải quyết góp ý phản ánh, kiến nghị…

Đồng chí Nguyễn Thị Yến, Phó bí thư Thường trực Tỉnh ủy Bà Rịa-Vũng Tàu nhấn mạnh: CCHC cốt để phục vụ nhân dân tốt hơn, chuyên nghiệp, hiệu quả hơn. Muốn vậy, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phải thực sự gần dân, sát dân, có nhiều sáng kiến, mô hình thiết thực vì lợi ích của người dân. Những mô hình CCHC vì dân, dù nhỏ nhưng rất ý nghĩa, góp phần hiện thực hóa nghị quyết của Đảng trong từng lĩnh vực đời sống nhân dân. (Quân Đội Nhân Dân 14/7, tr1+4, Châu Giang) Về đầu trang

“Quên” kê khai tài sản sẽ bị kỷ luật

Theo số liệu thống kê, qua 10 năm thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng, đã tiến hành xác minh đối với 4.859 trường hợp, đã phát hiện, xử lý kỷ luật 17 người kê khai tài sản không trung thực.

Báo cáo về công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí của UBND TP Hà Nội gửi đến kỳ họp của HĐND TP cho thấy, trong 34.340 người phải kê khai tài sản năm 2018, chỉ có 1 trường hợp kê khai không trung thực. Cùng thời điểm này năm 2017, Hà Nội cũng báo cáo có 1 trường hợp kê khai tài sản, thu nhập không trung thực.

Trong năm 2018, Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Thành ủy Đà Nẵng đã tiến hành giám sát và tham mưu Ban Thường vụ Thành ủy tiến hành giám sát chuyên đề kê khai tài sản đối với 75 cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Thành ủy quản lý (trong đó có 65 người là cấp ủy viên các cấp) tại 13 địa phương, đơn vị.

Qua giám sát, UBKT Thành ủy đã yêu cầu kiểm điểm nghiêm túc 3 đảng viên; chuyển sang kiểm tra đảng viên có dấu hiệu vi phạm và đề nghị Ban Thường vụ Thành ủy chuyển sang kiểm tra dấu hiệu vi phạm 2 trường hợp. Kết quả cả 2 trường hợp bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách. Một trong hai trường hợp đó là ông Nguyễn Phú Thái - Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng bị kỷ luật khiển trách do không kê khai 9 lô đất mà vợ chồng mình sở hữu.

Tại Kỳ họp thứ Sáu, QH Khóa XIV, khi thẩm tra báo cáo của Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng năm 2018, báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tư pháp cho biết: Số người đã kê khai tài sản, thu nhập năm 2018 là 1.136.902 người, đạt tỷ lệ 99,8% số người phải kê khai, số lượng bản kê khai rất lớn, nhưng chỉ xác minh đối với 44 người. Kết quả xác minh phát hiện 6 trường hợp vi phạm (năm 2017 là 5 trường hợp vi phạm).

Trong khi đó, theo phản ánh của báo chí, cử tri cho thấy, còn nhiều trường hợp kê khai không trung thực, không kê khai, nhất là không kê khai khi được bổ nhiệm chức danh lãnh đạo, quản lý theo quy định nhưng chưa bị xử lý hoặc xử lý không nghiêm. Kết quả xử lý các trường hợp vi phạm cho thấy việc tổ chức thực hiện quy định về kê khai tài sản thu nhập còn mang tính hình thức, nhiều hạn chế.

Theo quy định tại Điều 52 của Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 và Điều 29 của Nghị định 78/2013/NĐ-CP về minh bạch tài sản, thu nhập: Người kê khai tài sản không trung thực bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật. Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân mà kê khai tài sản không trung thực thì bị xóa tên khỏi danh sách những người ứng cử; người được dự kiến bổ nhiệm, phê chuẩn mà kê khai tài sản không trung thực thì không được bổ nhiệm, phê chuẩn vào chức vụ đã dự kiến. Người có nghĩa vụ kê khai không thuộc trường hợp trên mà kê khai tài sản, thu nhập không trung thực thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, bị xử lý kỷ luật bằng một trong các hình thức cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc hoặc bãi nhiệm; nếu được quy hoạch vào các chức danh lãnh đạo, quản lý thì bị đưa ra khỏi danh sách quy hoạch.

Theo Luật Phòng chống tham nhũng 2018, sẽ có một số điều chỉnh về người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập. Sự thay đổi đáng chú ý nhất là đối tượng thuộc diện phải kê khai tài sản, thu nhập. Cụ thể, Điều 44 Luật Phòng, chống tham nhũng cũ quy định đối tượng phải kê khai tài sản là cán bộ từ Phó trưởng phòng của UBND cấp huyện và tương đương trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị; một số cán bộ, công chức cấp xã; người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân. Luật Phòng chống tham nhũng 2018 (thay thế Luật Phòng chống tham nhũng 2005) quy định tất cả cán bộ, công chức có nghĩa vụ phải kê khai tài sản, thu nhập.

Luật Phòng chống tham nhũng 2018 (có hiệu lực thi hành từ 1/7/2019) với những quy định cụ thể, chế tài mạnh hơn, nếu được thực thi nghiêm minh sẽ góp phần hạn chế những tiêu cực trong vấn đề kê khai tài sản, thu nhập. (Công Lý 15/7, Trung Nguyễn) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Bộ Công Thương siết chặt kỷ cương hành chính và quản lý cán bộ

Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh vừa ký ban hành Chỉ thị về việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, kiểm tra, giám sát và đẩy mạnh phòng, chống tiêu cực trong công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, tích cực trong thực thi công vụ.

Theo đó, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh yêu cầu các thủ trưởng các cơ quan, đơn vị quán triệt, thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và nhà nước về phòng, chống tham nhũng; Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018; các chỉ đạo của Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng; của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 22/4/2019 về việc tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc.

Mặt khác, tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 05/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp và Chỉ thị số số 04/CT-BCT của Bộ Công Thương về việc tiếp tục chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương, đẩy mạnh phòng chống tiêu cực trong quản lý cán bộ, công chức viên chức.

Cùng đó, phát huy trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu, nói phải đi đôi với làm; có biện pháp nhằm chấn chỉnh ngay tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực; thái độ, trách nhiệm và văn hóa ứng xử chưa chuẩn mực của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc quyền quản lý.

Ngoài ra, Bộ trưởng cũng đề nghị chỉ đạo và thực hiện nghiêm quy chế làm việc của cơ quan, đơn vị, quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập của Bộ.

Các đơn vị trong ngành tiếp tục rà soát, bổ sung, hoàn chỉnh nội quy, quy chế làm việc của cơ quan, đơn vị, cụ thể hóa trách nhiệm của từng cá nhân, đơn vị trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao. Kiểm tra, giám sát, đôn đốc cán bộ, công chức, viên chức, người lao động chấp hành nghiêm túc kỷ luật, kỷ cương hành chính, văn hóa công sở, sử dụng có hiệu quả thời giờ làm việc. Đặc biệt, báo cáo Bộ Công Thương (thông qua Vụ Tổ chức cán bộ) nếu cơ quan, đơn vị có kết quả kiểm tra, xử lý cán bộ, công chức, viên chức vi phạm.

Hơn nữa, thực hiện nghiêm túc quy định về tiếp nhận, giải quyết các phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân về thủ tục hành chính. Tổ chức việc đối thoại theo định kỳ và thực hiện tốt công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo đúng thẩm quyền, không để xảy ra tình trạng khiếu nại vượt cấp.

Bộ trưởng cũng lưu ý các đơn vị thường xuyên thanh tra, kiểm tra công vụ trong việc thi hành kỷ luật, kỷ cương hành chính và văn hóa công sở tại cơ quan và các đơn vị trực thuộc; gắn kết quả thực hiện Chỉ thị này với đánh giá chất lượng, bình xét thi đua, khen thưởng của cơ quan, đơn vị.

Không những thế, kịp thời phát hiện và xử lý kỷ luật nghiêm cán bộ, công chức, viên chức, người lao động có hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực, vi phạm kỷ luật, kỷ cương hành chính và kiên quyết thực hiện việc tinh giản biên chế, đưa ra khỏi bộ máy nhà nước những cán bộ, công chức, viên chức năng lực yếu, thiếu tinh thần trách nhiệm, không hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Chỉ thị cũng nêu rõ đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tại các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ phải nâng cao đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm, tinh thần phục vụ nhân dân; thực hiện quy tắc, văn hóa ứng xử nơi công sở của cán bộ, công chức, viên chức.

Cụ thể, thực hiện đúng và đầy đủ chức trách, nhiệm vụ được giao, không để quá hạn, bỏ sót nhiệm vụ được phân công; không đùn đẩy, né tránh trách nhiệm; không được lợi dụng chức trách, nhiệm vụ được giao để nhũng nhiễu, gây phiền hà, trục lợi khi xử lý, giải quyết công việc liên quan đến cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp.

Đáng lưu ý, từng cán bộ, công chức, viên chức và người lao động căn cứ vào vị trí việc làm, nhiệm vụ được phân công tiến hành xây dựng kế hoạch báo cáo thủ trưởng đơn vị để quản lý, theo dõi, chỉ đạo, giám sát. Chấp hành nghiêm túc nội quy, quy chế, thời giờ làm việc tại cơ quan, đơn vị.

Vụ tổ chức cán bộ phải tăng cường kiểm tra thường xuyên và đột xuất việc thực hiện kỷ luật, kỷ cương hành chính của các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ.

Căn cứ kết quả kiểm tra, tham mưu, đề xuất hình thức xử lý kỷ luật đối với cá nhân, tập thể vi phạm; đề xuất xử lý trách nhiệm đối với người đứng đầu các cơ quan, đơn vị có cán bộ, công chức, viên chức và người lao động vi phạm kỷ luật, kỷ cương hành chính, có hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà trong việc tiếp nhận và giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp.

Về phía Thanh tra Bộ có nhiệm vụ chủ trì việc thanh tra, kiểm tra, xử lý kịp thời, nghiêm minh các vụ việc, đơn thư khiếu nại, tố cáo các hành vi tiêu cực, tham nhũng trong công tác quản lý công chức, viên chức theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, xây dựng kế hoạch thực hiện chỉ đạo của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng về việc rà soát, chấn chỉnh, xử lý nghiêm các hành vi tiêu cực, tham nhũng trong các cơ quan, đơn vị có chức năng phòng, chống tham nhũng.

Văn phòng Bộ phối hợp với các cơ quan có liên quan tổ chức tuyên truyền, phổ biến sâu rộng nội dung Chỉ thị này đến toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động biết và thực hiện. (Baotintuc.vn 14/7, Uyên Hương) Về đầu trang

Cải cách hành chính ngành du lịch

Dự án “Nâng cấp hệ thống chính quyền điện tử tại Sở Du lịch TPHCM” do FPT HCM đảm trách đã hoàn thành giai đoạn 1 là triển khai nâng cấp hệ thống ISO điện tử, hỗ trợ hệ thống dịch vụ công, hệ thống quản lý văn bản và cổng thông tin của Sở Du lịch TPHCM.

Hiện đội dự án của FPT HCM đang thực hiện giai đoạn 2 - triển khai nâng cấp quản lý văn bản và ứng dụng di động, dự kiến hoàn thành trong tháng 9 tới. Với ứng dụng này, khoảng 70 người dùng tại Sở Du lịch TPHCM sẽ giảm thời gian xử lý công việc bằng giấy xuống khoảng 50%. 

Dự án đã góp phần vào việc cải cách hành chính tại Sở Du lịch TPHCM, giúp nâng cao hiệu quả làm việc của đơn vị trong năm 2019. Hệ thống này còn giúp Sở Du lịch TPHCM tiết kiệm thời gian giải quyết công việc, giảm thiểu quá trình giải quyết hồ sơ, thống kê chính xác số liệu báo cáo, các thông tin được cập nhật một cách công khai, minh bạch... (Sài Gòn Giải Phóng 15/7, B. Tân) Về đầu trang

BHXH Việt Nam bắt đầu lộ trình gỉảm hàng nghìn biên chế

Nhằm đổi mới, sắp xếp lại bộ máy theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam cho biết, đến năm 2021 sẽ giảm tối thiểu 10% biên chế (khoảng 2.000 người) so với tổng biên chế được giao.

Thủ tướng vừa phê duyệt Đề án "Đổi mới, sắp xếp bộ máy của BHXH Việt Nam theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả".

Theo BHXH Việt Nam, mục tiêu chung của đề án này là sắp xếp tổ chức bộ máy của BHXH Việt Nam theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cải cách, hiện đại hóa ngành BHXH, đảm bảo thực hiện đúng quan điểm, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước; phù hợp tình hình thực tiễn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; gắn tinh giản biên chế với sắp xếp, tinh gọn bộ máy, cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức và người lao động; tiết kiệm chi phí, cung cấp dịch vụ công chất lượng cao, nâng cao sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp.

Giai đoạn 2019 - 2020, tại BHXH Việt Nam ở Trung ương sẽ sắp xếp giảm ít nhất 2 đơn vị đầu mối cấp ban trực thuộc; kiện toàn, chuyển đổi 1 đơn vị sự nghiệp hiện có thành “Trung tâm Dịch vụ hỗ trợ, chăm sóc khách hàng” là đơn vị sự nghiệp có chức năng thực hiện giải quyết dịch vụ công trực tuyến và chăm sóc, hỗ trợ khách hàng;

Cơ cấu lại Tạp chí BHXH và Báo BHXH, bảo đảm phù hợp với Quyết định số 362/QĐ-TTg ngày 3/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025.

Tại BHXH cấp tỉnh sẽ giảm 65 đầu mối cấp phòng của 63 BHXH tỉnh, TP trực thuộc Trung ương; giảm 58 BHXH TP, thị xã trực thuộc BHXH cấp tỉnh, nơi có trụ sở BHXH cấp tỉnh đóng trên địa bàn;

Cùng với đó, sắp xếp giảm BHXH cấp huyện đối với các huyện thuộc diện phải sắp xếp theo Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 24/12/2018 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 653/2019/UBTVQH14 ngày 12/3/2019 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Giai đoạn 2021 - 2025 tiếp tục rà soát, sắp xếp, kiện toàn các đơn vị trực thuộc BHXH cấp tỉnh theo hướng giảm 63 đầu mối cấp phòng của 63 BHXH cấp tỉnh. Đến năm 2021 giảm tối thiểu 10% biên chế (khoảng 2.000 người) so với tổng biên chế được giao của BHXH Việt Nam năm 2015.

Để thực hiện đề án này, BHXH Việt Nam cho biết, tới đây sẽ xây dựng kế hoạch cụ thể; thực hiện tuyên truyền, nâng cao nhận thức để công chức, viên chức toàn ngành hiểu rõ sự cần thiết, lợi ích, vai trò, ý nghĩa của việc sắp xếp tổ chức bộ máy.

Cùng với đó, đề xuất, kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về lao động, việc làm, BHXH, bảo hiểm y tế và hoàn thiện các chế tài xử lý vi phạm pháp luật về BHXH, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

BHXH Việt Nam cũng tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4; xây dựng danh mục vị trí việc làm; xây dựng bảng lương theo vị trí việc làm.

Quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy sẽ thực hiện dân chủ, khách quan, minh bạch trong việc rà soát, đánh giá, xếp loại, bố trí, sắp xếp đội ngũ công chức, viên chức tại các đơn vị… (Thanh Tra 15/7, Khánh Vân) Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Bồi dưỡng, giám sát cán bộ được điều động, luân chuyển

Điều động, luân chuyển cũng là tạo điều kiện cho cán bộ có thêm thời gian rèn luyện, phấn đấu để trưởng thành hơn, tạo nguồn nhân lực chất lượng để bố trí vào các vị trí lãnh đạo của địa phương cũng như Trung ương. Trao đổi với PV báo Đại Đoàn Kết, ông Phạm Văn Hòa - Ủy viên Ủy ban Pháp luật của Quốc hội cho rằng, sau khi điều động, luân chuyển như vậy sẽ chọn được cán bộ có đức, có năng lực; còn cán bộ mất tín nhiệm sẽ bị đào thải.

PV: Thưa ông, công tác cán bộ được Đảng tiến hành mạnh mẽ trên phạm vi cả nước, trong đó nhiều cán bộ đã được Trung ương điều về làm lãnh đạo tại các địa phương. Còn tại địa phương cũng có sự luân chuyển, điều động cán bộ. Ông đánh giá như thế nào về việc điều động, luân chuyển diễn ra trên phạm vi rộng?

Ông Phạm Văn Hòa: Những cán bộ được Trung ương điều về địa phương đều nằm trong diện quy hoạch, và nằm trong độ tuổi luân chuyển. Các cán bộ này được điều động về địa phương để làm lãnh đạo như: Bí thư, Phó Bí thư, Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch. Tôi cho rằng những cán bộ này đã qua chắt lọc, được thử thách ở Trung ương sau đó mới được điều về địa phương. Tất nhiên không thể đánh giá chính xác 100% qua năng lực trình độ, học vị, quá trình công tác, nhân thân, gia đình của từng người nhưng khi Trung ương điều về làm lãnh đạo ở địa phương thì hy vọng những cán bộ được điều động sẽ được địa phương ủng hộ, và bản thân các cán bộ đó cũng phải có tâm, có tầm, biết và hiểu tình hình ở địa phương, xâm nhập với địa phương. Đa số cán bộ được chọn đi luân chuyển đã qua chắt lọc, thuộc diện quy hoạch của Trung ương rồi cho nên những cán bộ này sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ khi được phân công làm việc ở địa phương sau đó về Trung ương làm nhiệm vụ mới.

Còn ở cấp tỉnh thì có sự điều chuyển cán bộ về huyện, huyện thì điều về xã. Đây là bước để chuẩn bị nhân sự cho Đại hội Đảng các cấp. Sang năm cùng thời điểm này Đại hội cấp cơ sở đã phải xong rồi, có những nơi đã Đại hội cấp huyện xong vì theo chỉ đạo tháng 8 phải xong Đại hội cấp huyện, còn tháng 10 là phải Đại hội cấp tỉnh. Cho nên đây là thời điểm ở cả Trung ương và địa phương phải chuẩn bị nguồn nhân sự dồi dào trong quy hoạch để bố trí cán bộ phù hợp với thực tiễn. Lúc Đại hội sẽ bầu chọn được người có hiệu quả, đạt hiệu quả cao. Có như vậy mới chọn được cán bộ có tâm, có tầm, có năng lực để thực hiện nhiệm vụ. Tất nhiên sau khi sàng lọc như vậy, cán bộ nào có đạo đức, năng nổ, có năng lực, có phong cách, được sự tín nhiệm thì cán bộ đó sẽ trưởng thành. Còn cán bộ nào mất tín nhiệm thì sẽ bị đào thải ngay.

Ở khía cạnh khác, theo ông, địa phương cần tạo điều kiện như thế nào để cán bộ thuộc diện được luân chuyển có thể phát huy hết khả năng của mình?

Địa phương có trách nhiệm phải tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để cho cán bộ ở Trung ương được điều động luân chuyển có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ. Nhưng theo tôi cơ bản và căn cơ chính là cán bộ phải tự hiểu biết để làm sao vận động, nhập cuộc được ở địa phương. Không chỉ nắm được tình hình mà còn hiểu biết thực tiễn địa phương liên quan đến chính trị, đời sống, văn hóa của người dân nơi đó. Mỗi vùng miền đều có nếp sống, văn hóa riêng biệt với nhau cho nên khi về địa phương phải biết tập quán của địa phương đó và phải tìm hiểu tâm tư, tình cảm nguyện vọng của cán bộ, người dân nơi đó để mình tiếp thu và nhập cuộc. Bản thân anh phải hết sức cầu thị thì địa phương sẽ ủng hộ, chứ anh ỷ thế rằng có vai vế, thuộc diện Trung ương đi về làm lãnh đạo, “tối ngày trên mây” mà không nhìn thực tiễn dưới đất thì sẽ không hoàn thành nhiệm vụ và địa phương sẽ tẩy chay ngay.

Vậy theo ông bản thân người được luân chuyển cũng phải có “chương trình hành động” riêng của mình để tạo được sự chuyển động cho địa phương thay vì chỉ là bước “tạo đà” để đi lên?

Cán bộ ở Trung ương về địa phương là cán bộ đi cơ sở, nắm bắt tình hình thực tiễn của địa phương như tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh trên tất cả các lĩnh vực, rồi tìm hiểu tâm tư, tình cảm của người dân, các hoạt động trong hệ thống chính trị tại địa phương. Do đó cán bộ được điều động phải tế nhị nắm bắt tình hình, khiêm tốn, thật thà, trung thực. Lúc đó địa phương sẽ ủng hộ và cán bộ sẽ hoàn thành nhiệm vụ. Bởi không phải 100% cán bộ được luân chuyển điều động về địa phương thì sau đó sẽ quay trở lại Trung ương làm lãnh đạo. Tôi nghĩ những cán bộ nắm và hiểu biết được thực tiễn của địa phương sau này về Trung ương sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ ở Trung ương phân công. Vì cán bộ ở Trung ương mà không có thực tiễn tại địa phương thì sau này làm lãnh đạo rất khó do đó trong quy hoạch, luân chuyển đưa cán bộ ở Trung ương về địa phương là bước tạo điều kiện rất hợp lý để cán bộ trưởng thành.

Chúng ta cần có hình thức nào để bồi dưỡng, giám sát cán bộ luân chuyển để lựa chọn được cán bộ có trình độ, phát huy năng được lực, nhất là thời điểm Đại hội Đảng các cấp đang đến gần?

Khi Trung ương đưa cán bộ về thì Trung ương đã có bộ phận giám sát. Các ban Đảng của Trung ương được phân công nhiệm vụ giám sát các cán bộ này, các địa phương theo từng địa bàn cũng sẽ giám sát cán bộ được luân chuyển. Bên cạnh đó, người dân ở địa phương và cán bộ nơi công tác cũng sẽ giám sát đối với cán bộ được luân chuyển về. Nghĩa là giám sát nhiều chiều, ở trên giám sát, ở dưới giám sát. Và chính bản thân cán bộ đó cũng phải thực hiện giám sát chính bản thân mình. Chúng ta hiện đã có cơ chế giám sát rất chặt chẽ, nhiều chiều, nhiều khía cạnh lĩnh vực. Cho nên cần tập trung trí tuệ để đánh giá cán bộ sau khi đưa về địa phương xem có hoàn thành tốt nhiệm vụ hay không? có năng lực trình độ, có tâm, có tầm hay không.

Trân trọng cảm ơn ông! (Đại Đoàn Kết 15/7, H. Vũ) Về đầu trang

Xử lý cán bộ, vẫn còn những câu hỏi day dứt

Người dân vẫn hoài nghi về chất lượng cán bộ, tính trung thực, tinh thần cống hiến của những người đảm đương quốc gia đại sự.

Liên tiếp những cá nhân, tổ chức, những cái tên trước đây luật bất thành văn coi là “vùng cấm”, là bất khả xâm phạm được nhắc tới, được đưa ra xem xét thẳng thắn và kết luận khách quan.

Đó là Ban thường vụ Thành ủy Đà Nẵng, Ban Thường vụ Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, Ban cán sự Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Công thương. Đó là Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh, là Nguyễn Bắc Son, Trương Minh Tuấn, là Nguyễn Xuân Anh, Tất Thành Cang, là Phan Văn Vĩnh hay đô đốc Nguyễn Văn Hiến.

Tại kỳ họp 37 vừa qua, cơ quan kiểm tra Đảng cấp Trung ương tiếp tục kết xem xét, kết luận sai phạm của nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh, của ba Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải và nhiều tổ chức Đảng, cá nhân có sai phạm khác.

Chưa khi nào, kết luận các kỳ họp của Ủy ban Kiểm tra Trung ương lại được người dân trông đợi như từ sau Đại hội XII của Đảng hiện nay.

Không chỉ là kỷ luật bao nhiêu cán bộ, những ai phải trả giá cho hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm quy tắc đạo đức, lối sống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm điều lệ Đảng, địa chỉ nào của một bộ phận không nhỏ thoái hóa biến chất mà người dân có các kết luận ấy là câu trả lời thỏa đáng, minh bạch cho những nỗ lực gạt bỏ cái xấu, là minh chứng khẳng định tính chiến đấu, sự thẳng thắn, dũng cảm của Đảng, nhằm thanh lọc cán bộ, gây dựng lòng tin trong nhân dân.

Nhưng việc lôi ra ánh sáng những “con sâu mọt” ẩn mình dưới vỏ bọc lãnh đạo, dưới “cái mác” phẩm chất đạo đức tốt; việc đưa ra nhiều nhân vật được bảo vệ trong “vòng kim cô”; việc kiên quyết không để cho một số người được “hạ cánh an toàn”, được thực hiện các “chuyến tàu vét”; việc làm rõ những sai phạm, làm rõ trách nhiệm của người đứng đầu; việc thải loại những “hậu duệ” được dựng lên bởi cái bóng của “quan cách mạng” chưa hẳn khiến người dân an lòng.

Họ băn khoăn vì sao nhiều cán bộ hư hỏng thế, vì sao cái hư, cái xấu ẩn giấu lâu thế mà tổ chức Đảng, đoàn thể không biết; vì sao có người vừa được bổ nhiệm hôm trước, hôm sau đã bị kỷ luật, bị truy tố trước pháp luật; vì sao cán bộ sai phạm ở chỗ này lại được luân chuyển sang vị trí khác, thậm chí chức vụ cao hơn, lĩnh vực dễ dàng “kiếm chác” hơn; vì sao một số người sai phạm, vi phạm rõ ràng mà vẫn chùng chình, chưa xử lý; vì sao những kẻ lợi dụng chức quyền vơ vét, đục khoét tài sản của Nhà nước, của tập thể, trở thành những “con sâu mọt” tệ hại của xã hội mà vẫn được ưu ái “xếp nhầm chỗ”.

Những câu hỏi ấy cho thấy một thực tế là niềm tin của người dân đối với đội ngũ cán bộ của Đảng chưa thực sự vững chắc. Họ nghi ngờ chất lượng cán bộ, họ hoài nghi tính trung thực, tinh thần cống hiến của những người đảm đương quốc gia đại sự.

Vậy nên, một trong những nhiệm vụ trọng yếu đặt ra cho Ủy ban Kiểm tra Trung ương là dưới sự giám sát của nhân dân phải tiếp tục công tác kiểm tra, giám sát, tiếp tục thực hiện chỉnh đốn Đảng, kiên quyết loại bỏ những cán bộ đảng viên hư hỏng, những cán bộ gây nên sự hoài nghi cho nhân dân, tiêu cực trong xã hội để giữ nguyên kỷ luật Đảng.

Và căn cơ, cốt lõi là khi đã xây dựng được đội ngũ cán bộ liêm chính, kiên quyết không để xảy ra tình trạng nhầm lẫn đáng tiếc trong đánh giá phân loại, nhận diện và sử dụng cán bộ, không để cho người đứng đầu Đảng, Nhà nước ta phải khổ tâm, đau xót kỷ luật một vài người để cứu muôn người. (VOVNews 15/7, Đàm Hoa) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Cần luật hóa đạo đức công vụ

Thiếu quy định có tính pháp lý về hoạt động công vụ chính là điều kiện cho những hành xử tiêu cực, nhũng nhiễu.

Khi nghiên cứu tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc" (tháng 10-1947) của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta thấy xuyên suốt và cốt lõi của tác phẩm này là những vấn đề xoay quanh đạo đức công vụ (ĐĐCV), là việc phải giáo dục, rèn luyện và xây dựng đội ngũ cán bộ, Đảng viên thế nào để có năng lực làm việc và tư cách đạo đức, thực sự là công bộc của nhân dân.

Trong "Sửa đổi lối làm việc", Bác đã vạch ra những sai lầm, khuyết điểm, lệch lạc trong nhận thức, tư tưởng; trong phẩm chất đạo đức, lối sống và năng lực công tác của cán bộ, Đảng viên.

Soi vào thực tiễn, chúng ta thấy ĐĐCV đang có dấu hiệu xuống cấp. Điều này được chỉ rõ tại hội nghị trực tuyến toàn quốc phổ biến, quán triệt Chỉ thị số 10/CT-TTg năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc, tổ chức ngày 27-6, do Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình chủ trì.

Một trong những nội dung được Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình nêu rõ trong hội nghị này là tham nhũng vặt - biểu hiện qua nạn hối lộ trong lĩnh vực hành chính, dịch vụ công; lót tay, chạy chọt để được việc khi giao dịch với cơ quan công quyền.

Trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, ở nhiều cấp, người dân dễ dàng chứng kiến công chức, viên chức lợi dụng vị trí công tác, kẽ hở của pháp luật, lòng tin, sự thiếu hiểu biết về pháp luật của người dân để sách nhiễu, gây phiền hà, kéo dài thời gian giải quyết công việc. Những hành vi như thế đã gây bức xúc, làm xói mòn lòng tin của nhân dân và doanh nghiệp, cản trở phát triển kinh tế - xã hội. Vụ việc Thanh tra Bộ Xây dựng bị bắt quả tang có hành vi vòi vĩnh xảy ra gần đây là một ví dụ khiến dư luận không khỏi bức xúc.

Các vụ tiêu cực liên quan đến sự suy thoái ĐĐCV ở nước ta những năm qua làm ảnh hưởng không nhỏ đến niềm tin của dân chúng, đưa đến cái nhìn không mấy thiện cảm của xã hội về đội ngũ cán bộ, công chức. Thực tiễn đó đặt ra câu hỏi làm sao ngăn chặn được mặt trái kinh tế thị trường tác động, để giữ vững những giá trị ĐĐCV?

Nhìn thẳng vào thực trạng như thế để thấy khái niệm ĐĐCV đối với nền hành chính của chúng ta vẫn mơ hồ, chưa được quy định cụ thể. Chính sự mơ hồ đó nên trong đánh giá cán bộ, công chức hằng năm, nhiều trường hợp ghi "hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao" nhưng ngay sau đó đã bị khởi tố tội tham nhũng.

Cán bộ, công chức thi hành công vụ dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong quá trình thực thi công vụ, thái độ, tinh thần, trách nhiệm, ý thức của cán bộ, công chức trong mối quan hệ với công dân phụ thuộc rất nhiều vào ĐĐCV. Pháp luật có được thực thi hay không cũng phụ thuộc rất nhiều vào ĐĐCV. Cho nên, ĐĐCV là yếu tố cốt lõi bảo đảm cho hoạt động và quản lý nhà nước hiệu quả.

Trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi có những cơ chế, quy định pháp luật tốt hơn, phù hợp hơn để duy trì và phát huy cao nhất các giá trị cơ bản của nền công vụ vì dân. Bởi vậy, việc hình thành các chuẩn mực về ĐĐCV của cán bộ, công chức là rất quan trọng, không thể nói chung chung. Muốn nâng cao ĐĐCV thì phải tăng cường công tác giám sát hoạt động công vụ của cán bộ, công chức.

Xây dựng bộ máy hành chính năng động, hiệu quả và trong sạch đang là mục tiêu chính của công cuộc cải cách hành chính và xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo. Để thực hiện được mục tiêu này, trước hết phải có đội ngũ cán bộ, công chức giỏi nghiệp vụ và đáp ứng những chuẩn mực của ĐĐCV.

Thực tế, Luật Cán bộ, công chức rất ít đề cập nội dung hoạt động công vụ - hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cán bộ, công chức trong các công sở nhằm giải quyết quan hệ giữa cơ quan nhà nước với tổ chức, công dân và người nước ngoài. Trong lúc đó, hoạt động công vụ phải thực hiện theo nguyên tắc thống nhất, công khai, tuân thủ pháp luật, đúng thẩm quyền và chịu trách nhiệm cá nhân. Chính vì thiếu những quy định có tính pháp lý cao về hoạt động công vụ mà dẫn đến những hệ lụy, bất cập không thể tránh khỏi. Đó là mảnh đất màu mỡ tạo điều kiện cho những hành xử công vụ một cách tùy tiện, tự tung tự tác, tiêu cực, nhũng nhiễu.

Thiết nghĩ, những nguyên tắc đạo đức trong nền công vụ là cơ sở cần được nghiên cứu để luật hóa, khi chuẩn mực đạo đức trong nền công vụ đã trở thành vấn đề thiết yếu đối với bộ máy hành chính. (Người Lao Động 15/7, Diệp Văn Sơn) Về đầu trang

Đánh giá cán bộ cần đi vào thực chất

Theo dự kiến, hôm nay (15/7), Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ cho ý kiến về một số vấn đề còn ý kiến khác nhau của dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ công chức (CBCC) và Luật Viên chức.

Trước đó, một trong những nội dung được các đại biểu Quốc hội (ĐB) quan tâm, dành nhiều thời gian tranh luận tại Kỳ họp thứ 7 là vấn đề đánh giá CBCC. Theo các ĐB, đánh giá cán bộ được coi là khâu đầu tiên trong công tác cán bộ; đánh giá đúng hay sai sẽ ảnh hưởng đến việc bố trí, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ…

Số liệu bị hoài nghi

Dẫn số liệu của Bộ Nội vụ tổng hợp từ các địa phương cho rằng chỉ có 0,59% công chức và 0,38% viên chức không hoàn thành nhiệm vụ, ĐB Tô Văn Tám (Kon Tum) khẳng định dư luận đang nghi ngờ về tính chính xác của số liệu này. “Cử tri còn nhớ, Thủ tướng đã có lần nói rằng, khoảng 3% cán bộ công chức ở tình trạng “sáng cắp ô đi, tối cắp ô về”, điều đó cho thấy công tác đánh giá CBCC còn hạn chế, chưa bám vào kết quả cụ thể, các tiêu chí đánh giá còn nặng định tính nên chung chung, chưa định lượng được”, ông Tám cho biết.

Ông Tám cũng thừa nhận việc dự thảo luật lần này đã bổ sung (tại Điều 56) quy định về các nội dung đánh giá công chức khá rõ, nhưng dự thảo chưa có quy định về phương pháp đánh giá để có kết quả đánh giá chính xác. Giải quyết bất cập này, ĐB đề nghị bổ sung quy định về phương pháp đánh giá CBCC theo hướng dựa trên kết quả điều tra, sát hạch định kỳ, thăm dò ý kiến nhân dân hoặc bỏ phiếu.

Trao đổi với PLVN, ông Nguyễn Viết Thông, Tổng Thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương thẳng thắn: “Chúng ta ảnh hưởng bởi tư tưởng Á Đông, nhiều khi quan niệm “một trăm cái lý không bằng một tý cái tình” nên dễ xuê xoa, bỏ qua những khuyết điểm của nhau, thậm chí không dám nói khuyết điểm. Do đó, đánh giá cán bộ không thực chất tồn tại nhiều năm nay.

Ngoài ra, chúng ta cũng chưa đưa ra những tiêu chí đánh giá cụ thể. Lâu nay chúng ta hay nói đến việc đánh giá về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, hoàn thành nhiệm vụ… nhưng đều là những quy định chung chung.

Để việc đánh giá cán bộ đi vào thực chất hơn, một số ý kiến đề nghị công tác này không chỉ làm định kỳ, thông qua những báo cáo hàng quý, hàng năm mà phải diễn ra thường xuyên, liên tục và đánh giá đa chiều: Cá nhân tự đánh giá, tổ chức đánh giá, cấp trên đánh giá, cấp dưới đánh giá và Đảng đánh giá, ngoài xã hội đánh giá…

Theo Phó GS, TS.Trần Hậu, nguyên Giám đốc Trung tâm Công tác lý luận, kiêm Tổng Biên tập Tạp chí Mặt trận, khi đánh giá một cán bộ, thông thường dựa trên hai mặt: Năng lực và phẩm chất. Nhưng cũng vấn đề đó, mỗi nơi mỗi lúc đều có nội hàm khác nhau. Vì thế, quan trọng nhất là phải cụ thể hóa cho được những năng lực, phẩm chất này vào hoàn cảnh cụ thể của từng nơi, từng thời điểm, từng chức danh cán bộ.

Cùng quan điểm này, khi thảo luận về Luật CBCC và Luật Viên chức tại hội trường Quốc hội, ĐB Trương Thị Yến Linh (Cà Mau) đề nghị Ban soạn thảo xem xét, bổ sung quy định công chức có nhiệm vụ thống kê số lượng đầu công việc đã xử lý trong năm, bao gồm cả công việc chuyên môn gắn với vị trí việc làm đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và các nhiệm vụ khác được lãnh đạo giao.Việc này nhằm góp phần xác định hiệu quả công tác của công chức, qua đó xác định hiệu quả sử dụng công chức của cơ quan, đơn vị. Làm được điều đó mới khắc phục được tình trạng làm nhiều sai nhiều, không làm không sai, hoặc chọn việc mà làm của một bộ phận công chức hiện nay.

Nói như Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên Tư lệnh Quân khu 4 khi trao đổi với PLVN: “Cá nhân người cán bộ đã đảm nhận những việc gì không quan trọng bằng việc họ đã làm được như thế nào, kết quả ra sao? Một Bí thư làm 5 năm chẳng ra kết quả gì nhưng một Bí thư khác, mới 3 năm đã làm xoay chuyển tình hình. So sánh vậy để thấy rằng, đánh giá cán bộ thông qua việc lấy kết quả sản phẩm của họ đã làm ra trong thời gian qua nhằm chọn cá nhân đó vào vị trí cao hơn, xứng đáng hơn là việc làm rất đúng đắn và mang lại hiệu quả cao”.

Vấn đề quan trọng là sau khi đánh giá phải công khai kết quả cho mọi cán bộ đảng viên và nhân dân biết CBCC, viên chức đó đã được đánh giá đúng và khách quan chưa. Đồng thời, bản thân mỗi CBCC, viên chức được đánh giá cũng tự thấy mình đã đáp ứng được yêu cầu công việc như thế nào, từ đó đề ra những giải pháp khắc phục, phấn đấu hoặc phát huy những thế mạnh. (Pháp Luật Việt Nam 15/7, Vân Thanh) Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

Sử dụng công nghệ trong phòng, chống tham nhũng

Tham nhũng là vấn đề nhức nhối của tất cả các quốc gia trên thế giới. Ngoài những biện pháp phòng, chống và hình phạt cho tội phạm tham nhũng mà các quốc gia đang áp dụng, thì việc sử dụng các công nghệ mới có thể đem lại hiệu quả nhất định cho cuộc chiến cam go này.

Trong năm 2018, khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã có sự cải thiện về nỗ lực chống tham nhũng. Nhiều nước trong nhóm ASEAN như: Indonesia, Malaysia và Philippines đều tăng nhẹ về thứ bậc. Singapore vươn lên hạng ba, trong khi Hong Kong (Trung Quốc) và Nhật Bản đều xuất hiện trong top 20. New Zealand đứng hạng hai về Chỉ số nhận thức tham nhũng (CPI), chỉ xếp sau Đan Mạch. 

Điểm CPI trung bình của châu Á - Thái Bình Dương đạt 44/100, phần nào cho thấy những nỗ lực chống tham nhũng của khu vực này. Tuy xếp sau khu vực Liên minh châu Âu (EU) với điểm trung bình 66/100, châu Á - Thái Bình Dương vẫn có chỉ số CPI cao hơn Đông Âu và Trung Á.

Cũng trong năm qua, Việt Nam đạt 33/100 điểm, xếp hạng 117/180 toàn cầu, giảm nhẹ 2 điểm so với năm 2017. Điểm số CPI 2018 của Việt Nam được tính dựa trên cơ sở 8 nguồn dữ liệu là những khảo sát quốc tế độc lập. Về mặt thống kê, việc giảm điểm này được xem là không đáng kể. Tuy nhiên, xét trên thang điểm từ 0 - 100 của CPI, trong đó, 0 là rất tham nhũng và 100 là rất trong sạch, tham nhũng trong khu vực công ở Việt Nam vẫn được cho là vấn đề nhức nhối. Cùng giảm điểm tương tự như Việt Nam, trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương còn có các quốc gia: Trung Quốc, Maldives và Bangladesh.

Với nỗ lực phòng, chống tham nhũng, nhiều công nghệ mới đã được sử dụng, tạo thuận lợi cho việc báo cáo các biểu hiện tham nhũng và cung cấp quyền truy cập thông tin chính thức. Điều này giúp theo dõi hiệu quả và toàn vẹn các hoạt động chính trị, xã hội của mỗi quốc gia, đồng thời tăng tính minh bạch của các thông tin tài chính. Công nghệ thông tin và truyền thông còn hỗ trợ các nỗ lực vận động người dân tham gia phòng, chống tham nhũng.

Trong thập kỷ qua, chính phủ các nước đã đưa ra nhiều sáng kiến về chính phủ điện tử, trong đó cung cấp các kênh mới hiệu quả hơn, giúp phát hiện các trường hợp lạm dụng công quỹ, tham nhũng và tạo thuận lợi cho việc khiếu nại. Các báo cáo có thể được thực hiện thông qua các trang web, đường dây nóng hoặc các ứng dụng ngay trên điện thoại thông minh, nhằm kịp thời tổng hợp các ghi nhận của công dân về các hành vi tham nhũng.

Nhằm cải thiện quan hệ ngoại giao với chính phủ các quốc gia khác, đồng thời giảm tác động của tham nhũng đến người dân. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã điều hành một số chương trình kết nối xã hội dân sự, cơ quan báo chí, các nhà lãnh đạo cộng đồng và các chuyên gia công nghệ nhằm khai thác vai trò của công nghệ, phát triển các giải pháp sáng tạo để đối phó với các thách thức tham nhũng.

Tại Ấn Độ, để tiếp cận với nguồn hạt giống và phân bón được trợ cấp, nông dân phải nộp giấy chứng nhận đăng ký đất đai do Sở Tài Nguyên cấp. Việc này được xem như là một nguy cơ cho hoạt động tham nhũng hoành hành. Chính phủ Ấn Độ đã phát triển một dự án có tên gọi “Bhoomi”, trong đó sử dụng công nghệ để tải tất cả các chi tiết về quyền sở hữu đất đai, cũng như có thể lấy các bản sao của tài liệu này thông qua mạng. Dự án này đã giúp hạn chế hành vi tham nhũng, nhận hối lộ của các cán bộ phụ trách đất đai ở các địa phương.

Một trong những trang web giúp công dân báo cáo về tham nhũng là Ipaidabride.com của Ấn Độ. Thông qua trang web này, các công dân Ấn Độ có thể báo cáo về bản chất, số lượng, loại hành vi, vị trí, tần suất và giá trị của các hành vi tham nhũng mà họ đã trải qua trong thực tế. Ipaidabribe.com đã nhận được 22.500 báo cáo trong giai đoạn 2010-2012, một trong số đó đã được giới truyền thông điều tra và dẫn đến những vụ bắt giữ và kết án nghiêm trọng. Sáng kiến này bắt đầu được phát triển ở Ấn Độ và đến nay đã được nhân rộng tại các quốc gia, như: Hy Lạp, Kenya, Zimbabwe và Pakistan. Các phiên bản mới của Ipaidabribe.com sẽ sớm được ra mắt ở: Azerbaijan, Nam Phi, Ukraine và Tunisia.

Tự động hóa đang đóng góp vai trò quan trọng trong việc giảm bớt các hoạt động thiếu kiểm soát trong thu thuế. Chính phủ Afghanistan đã triển khai một hệ thống quản lý thuế tự động để chuyển thông tin của người nộp thuế đến nơi quản lý dữ liệu quốc gia và giới hạn người truy cập. Điều này đã giúp giảm nguy cơ tham nhũng, xây dựng niềm tin của công chúng vào hệ thống thu thuế quốc gia.

Tổ chức minh bạch Quốc tế (TI) đã mở hơn 50 Trung tâm tư vấn pháp lý và hỗ trợ pháp lý (ALAC) kể từ năm 2000, để tiếp nhận các khiếu nại của công dân về các hành vi tham nhũng trên thế giới. Tổ chức minh bạch quốc tế tại Macedonia đã cho ra mắt nền tảng báo cáo trực tuyến có tên Draw a Red Line, cho phép các cá nhân trải qua hoặc chứng kiến những hành vi tham nhũng báo cáo bằng cách gửi tin nhắn SMS từ điện thoại di động, gửi email, sử dụng mẫu trên trang web, hay qua mạng xã hội twitter hoặc bằng cách gọi điện thoại. Các báo cáo sau đó được nhân viên của TI Macedonia xác minh và chuyển đến các cơ quan, tổ chức có liên quan. Một số nền tảng báo cáo toàn cầu cũng đã được phát triển trong những năm gần đây, điển hình như BRIBEline là một trang web báo cáo bằng 21 ngôn ngữ, được hãng TRACE xây dựng. BRIBEline thu thập thông tin thông qua các khiếu nại nặc danh về các khoản hối lộ có liên quan đến chính phủ, tổ chức quốc tế, lực lượng an ninh, doanh nghiệp nhà nước… trên toàn thế giới. Trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 2010 tại Philippines, dự án VoteReportPH đã được xây dựng để khuyến khích cử tri báo cáo gian lận bầu cử và những bất thường thông qua tin nhắn SMS, email, Twitter và trang web. Dự án đã thu hút khoảng 2.500 lượt truy cập mỗi tháng. Tại Uganda, một đường dây nóng độc lập đã được thiết lập, cho phép công dân báo cáo về các vấn đề gian lận và bất thường trong quá trình bầu cử.

Có thể nói, công nghệ là một vũ khí mạnh mẽ trong cuộc chiến chống tham nhũng, điều này đã được Liên hợp quốc khẳng định. Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đặc biệt kêu gọi các quốc gia sử dụng công nghệ trong phòng, chống tham nhũng nhằm bảo vệ các nền kinh tế mới nổi vì tham nhũng thường gây nguy hại cho hòa bình và tiến bộ xã hội. Các công nghệ mới được quản lý hiệu quả có thể mang đến một thế hệ quản trị mở và sự tham gia rộng rãi của người dân.

UNDP cho biết, bởi số lượng dòng tiền bất hợp pháp khổng lồ mà các nền kinh tế mới nổi đã mất hơn 1,1 nghìn tỷ USD trong năm 2013. Mỗi năm có khoảng 1,5 nghìn tỷ USD tiền hối lộ. Các quốc gia đang dựa vào viện trợ quốc tế đã bị tổn thất 10 USD cho mỗi 1 USD họ nhận được từ viện trợ.

Tuy nhiên, với những công nghệ mới, những khoản tiền mất do hối lộ, tham nhũng có thể bị hạn chế. Điển hình như với bản đồ kỹ thuật số của Freetown, tính minh bạch trong hoạt động đăng ký thuế bất động sản đã tăng lên rất nhiều. Cùng với Google, tổ chức này đã hỗ trợ Philippines tạo ra các hoạt động giám sát theo thời gian thực cho các dự án cơ sở hạ tầng. Sử dụng công nghệ rất có ích trong việc ngăn chặn dòng tiền mờ ám từ việc phân phối viện trợ cho các trại tị nạn.

Áp dụng công nghệ còn thúc đẩy các chính phủ cung cấp dữ liệu mở cho mọi tổ chức, cá nhân có thể tiếp cận. Việc chia sẻ công nghệ và đổi mới thông qua các công cụ như dữ liệu lớn và cơ sở hạ tầng thông tin có thể cải thiện hiệu quả phòng và chống tham nhũng. Công nghệ dữ liệu lớn nhìn chung liên quan đến các tập dữ liệu có khối lượng lớn và phức tạp đến mức các phần mềm xử lý dữ liệu truyền thống không có khả năng thu thập, quản lý và xử lý dữ liệu trong một khoảng thời gian hợp lý. Dữ liệu lớn chủ yếu được sử dụng trong các lĩnh vực y tế công cộng, thương mại và thuế, trong đó dữ liệu được phân tích và trực quan hóa nhằm xác định xu hướng, mô hình và mối quan hệ trong khối lượng dữ liệu khổng lồ đang được sử dụng, nhằm đạt được những thông tin có giá trị có liên quan đến hoạt động tham nhũng. Một ví dụ điển hình là cơ quan Thuế Australia đã sử dụng dữ liệu lớn để tìm kiếm trong số lượng lớn các hồ sơ những bằng chứng về những nhà bán lẻ trực tuyến không đáp ứng được nghĩa vụ về thuế mà họ phải tuân thủ.

Sự phát triển của công nghệ, như: dữ liệu lớn, các ứng dụng di động, trang web có vai trò quan trọng trong việc tăng khả năng tiếp cận các nguồn thông tin và kịp thời nắm bắt được những hành vi tham nhũng do người dân cung cấp. Tuy nhiên, công nghệ sẽ không phát huy được hiệu quả nếu thiếu hành động của các chính phủ và tổ chức, cũng như sự hợp tác của khu vực công và tư nhân, nhằm nâng cao tính minh bạch và chống tham nhũng. (Tapchimattran.vn 15/7, Hồng Vy) Về đầu trang./.

  Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.038.248 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này