Bản tin cải cách hành chính ngày 02/1/2020

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. Cán bộ công chức tố cáo: Lãnh đạo không được điều động, chuyển vị trí khác

2. Nghị định 85 về Cơ chế một cửa và KTCN chính thức có hiệu lực

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

3. Quảng Nam: Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính

4. Quảng Nam: Xây dựng đội ngũ cán bộ gắn với tinh gọn tổ chức bộ máy

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

5. Cải cách thủ tục hành chính ngành Bảo hiểm xã hội: Dấu ấn công nghệ thông tin

6. Năm 2019 - Năm cải cách toàn diện của ngành Thuế

7. Dịch vụ công trực tuyến triển khai vẫn còn chậm

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

8. Sẽ thu hẹp các đối tượng là công chức

9. Kỷ luật hai cán bộ xã đánh bài tại công sở

10. Phú Yên: Huỷ kết quả trúng tuyển công chức vì chứng chỉ không hợp pháp

         

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Cán bộ công chức tố cáo: Lãnh đạo không được điều động, chuyển vị trí khác

Bộ Nội vụ đang dự thảo thông tư hướng dẫn thẩm quyền, trình tự, thủ tục, biện pháp bảo vệ vị trí công tác của người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức (người được bảo vệ).

Theo dự thảo, nội dung bảo vệ vị trí công tác là việc bảo vệ công việc gắn với chức danh, chức vụ, vị trí việc làm của cán bộ, công chức; công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý của viên chức trong quá trình giải quyết tố cáo.

Việc áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ phải kịp thời, đúng quy định của pháp luật.

Về thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ, dự thảo quy định: Người có thẩm quyền giải quyết tố cáo áp dụng biện pháp bảo vệ vị trí công tác của người được bảo vệ thuộc quyền quản lý.

Cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân được người có thẩm quyền giải quyết tố cáo, kiến nghị thực hiện biện pháp bảo vệ vị trí công tác của người được bảo vệ trong trường hợp người được bảo vệ không thuộc thẩm quyền quản lý của người có thẩm quyền giải quyết tố cáo.

Tổ chức, đơn vị làm công tác tổ chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện biện pháp bảo vệ vị trí công tác có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với tổ chức công đoàn, ban thanh tra nhân dân và các tổ chức khác cùng cấp trong việc thực hiện bảo vệ vị trí công tác của người được bảo vệ.

Dự thảo cũng nêu rõ, biện pháp bảo vệ vị trí công tác của người được bảo vệ thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 57 Luật Tố cáo.

Theo khoản 1, điều 7 Luật Tố cáo quy định biện pháp bảo vệ vị trí công tác của người được bảo vệ bao gồm:

Tạm đình chỉ, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định xử lý kỷ luật hoặc quyết định khác xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người được bảo vệ; Khôi phục vị trí công tác, vị trí việc làm, các khoản thu nhập và lợi ích hợp pháp khác từ việc làm cho người được bảo vệ; Xem xét bố trí công tác khác cho người được bảo vệ nếu có sự đồng ý của họ để tránh bị trù dập, phân biệt đối xử; Xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với người có hành vi trả thù, trù dập, đe dọa làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được bảo vệ.

Ngoài ra, dự thảo còn nêu rõ, không thực hiện việc điều động, luân chuyển, biệt phái, chuyển đổi vị trí việc làm, phân công công việc khác đối với người được bảo vệ, trừ các trường hợp sau:

Thực hiện việc định kỳ chuyển đổi vị trí công tác theo quy định tại Chương V Nghị định 59/2019/NĐCP về hướng dẫn thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng; Được sự đồng ý của người được bảo vệ; Theo yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền. (Inforet.vn 2/1, N. Huyền) Về đầu trang

Nghị định 85 về Cơ chế một cửa và KTCN chính thức có hiệu lực

Kể từ hôm nay, Nghị định 85/2019/NĐ-CP quy định thực hiện thủ tục hành chính theo Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và kiểm tra chuyên ngành (KTCN) đối với hàng hóa XNK (gọi tắt là Nghị định 85) do Thủ tướng Chính phủ ký ban hành ngày 14/11/2019 chính thức có hiệu lực.

Nghị định 85 ra đời đã quy định đồng bộ, nhất quán về đối tượng, hồ sơ, quy trình khi áp dụng thực hiện trên Cơ chế một cửa quốc gia. Đồng thời, tạo cơ sơ pháp lý thống nhất để cải cách toàn diện hoạt động KTCN.

Theo bà Lê Như Quỳnh, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Tổng cục Hải quan, Nghị định 85 được xây dựng trong bối cảnh vừa tuân thủ các Luật quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa XNK (khi chưa được sửa đổi, bổ sung) vừa phải đảm bảo thực hiện các chỉ đạo của Chính phủ về thống nhất thủ tục hành chính đối với hàng hóa XNK, quá cảnh, phương tiện vận tải XNK, quá cảnh theo Cơ chế một cửa quốc gia, một cửa ASEAN, cải cách toàn diện hoạt động KTCN có liên quan đến hàng hóa XNK, quá cảnh.

Theo đó, Nghị định 85 được ban hành đã tạo cơ sở pháp lý thống nhất để thực hiện thủ tục hành chính đối với hàng hóa XNK, người và phương tiện vận tải XNC, quá cảnh trên Cổng thông tin một cửa quốc gia. Thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành trong công tác KTCN trên nền tảng kết nối thông tin qua Cơ chế một cửa quốc gia; cải cách toàn diện hoạt động KTCN theo hướng chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro, đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật chuyên ngành của tổ chức, cá nhân; minh bạch, công khai phương pháp, tiêu chí KTCN; xã hội hóa hoạt động KTCN; giải quyết tình trạng chồng chéo, trùng lắp trong KTCN và tình trạng một mặt hàng cùng lúc phải thực hiện nhiều thủ tục, hình thức quản lý, kiểm tra; chấm dứt tình trạng ban hành danh mục hàng hóa thuộc diện KTCN nhưng không có tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, mã số hàng hóa, trình tự, thủ tục kiểm tra.

Bên cạnh đó còn bảo đảm tính thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, khắc phục những chồng chéo, xung đột, bất cập tại các văn bản về KTCN đối với hàng hóa XNK, tạo thuận lợi cho hoạt động XNK.

Cũng theo bà Lê Như Quỳnh, để bảo đảm Nghị định 85 được thực hiện thống nhất ngay từ khi có hiệu lực thi hành, Bộ Tài chính đã có công văn đề xuất Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành nghiên cứu nội dung Nghị định 85 để triển khai thực hiện, bảo đảm thực hiện đúng, kịp thời khi có hiệu lực thi hành.

Theo đó, các bộ, quản lý ngành lĩnh vực có trách nhiệm công bố trên Cổng thông tin một cửa quốc gia các thông tin, như: Danh mục hàng hóa đã áp dụng hệ thống quản lý tiên tiến theo tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực quy định tại Khoản 4 Điều 27 Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa; danh mục hàng hóa phải KTCN theo quy định; các thông tin liên quan đến cơ quan KTCN; phạm vi công việc được chỉ định trong hoạt động KTCN, tiêu chí chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp; trình tự, thời gian, cách thức thực hiện thủ tục KTCN gắn với trách nhiệm của cơ quan KTCN, tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định; điều kiện, tiêu chí miễn kiểm tra, kiểm tra hồ sơ, kiểm tra hồ sơ kết hợp kiểm tra thực tế; danh sách tổ chức đánh giá sự phù hợp được thừa nhận phục vụ quản lý nhà nước theo điều ước quốc tế; danh sách tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định ban hành Thông báo kết quả đánh giá phù hợp quy định.

Đặc biệt, các bộ quản lý ngành, lĩnh vực có trách nhiệm thực hiện KTCN trên cơ sở quản lý rủi ro, đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật chuyên ngành của tổ chức, cá nhân trong KTCN nhằm bảo đảm hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước và tạo thuận lợi cho hoạt động XNK, quá cảnh; thực hiện KTCN trên cơ sở tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng áp dụng cho mặt hàng kiểm tra; áp dụng miễn, giảm KTCN đối với hàng hóa đã được chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy, công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy, chứng nhận đã áp dụng các hệ thống quản lý tiên tiến theo tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực theo quy định của bộ quản lý ngành, lĩnh vực và hàng hóa đã có kết quả đánh giá sự phù hợp được thừa nhận theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, bà Lê Như Quỳnh nhấn mạnh.

Các bộ, quản lý chuyên ngành cũng phải rà soát danh mục hàng hóa KTCN hiện hành, đối chiếu với quy định tại Nghị định 85 để chuẩn hóa các danh mục hàng hóa phải KTCN bảo đảm thực hiện đúng quy định tại Nghị định 85. (Haiquanonline.com.vn 1/1, Đảo Lê) Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Quảng Nam: Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính

Ngày 31.12, UBND tỉnh ban hành kế hoạch công tác cải cách hành chính (CCHC) tại Quyết định số 4353/QĐ-UBND. UBND tỉnh yêu cầu cụ thể hóa các chỉ tiêu, nhiệm vụ tại kế hoạch CCHC giai đoạn 2016 - 2020 của tỉnh đảm bảo chất lượng, hiệu quả, đúng tiến độ đề ra; tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong việc triển khai nhiệm vụ CCHC.

Kế hoạch đặt mục tiêu tiếp tục duy trì chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh trong nhóm 10 tỉnh, thành phố có chất lượng điều hành kinh tế tốt nhất cả nước; phấn đấu chỉ số CCHC, chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công trong nhóm 30 tỉnh, thành phố đứng đầu cả nước. 100% cơ quan nhà nước trong tỉnh bố trí cán bộ, công chức, viên chức theo tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu phát triển, có đủ trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị, cơ cấu đồng bộ, hợp lý.

Đồng thời, đảm bảo 100% hồ sơ thủ tục hành chính (TTHC) giải quyết được cập nhật, theo dõi thông qua hệ thống thông tin một cửa điện tử của tỉnh; phấn đấu có tối thiểu 60% TTHC được cung cấp trực tuyến mức độ 3, 4 có phát sinh hồ sơ; tối thiểu 40% hồ sơ TTHC được xử lý trực tuyến mức độ 3; tối thiểu 30% hồ sơ TTHC được xử lý trực tuyến mức độ 4; 100% hồ sơ giao dịch trên cổng dịch vụ công tỉnh được xác thực điện tử; 100% văn bản giao dịch giữa các cơ quan hành chính nhà nước của tỉnh dưới dạng điện tử.

Trọng tâm CCHC năm 2020 của tỉnh là tiếp tục đẩy mạnh cải cách TTHC; sắp xếp tổ chức bộ máy đảm bảo đồng bộ, tinh gọn, hiệu quả; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức gắn với siết chặt kỷ cương hành chính, kỷ luật công vụ; phát triển chính quyền điện tử; lấy sự hài lòng của tổ chức, cá nhân là thước đo chất lượng và hiệu quả phục vụ của cơ quan nhà nước... (Baoquangnam.com.vn 1/1, Châu Nữ) Về đầu trang

Quảng Nam: Xây dựng đội ngũ cán bộ gắn với tinh gọn tổ chức bộ máy

Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam luôn quan tâm đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có năng lực, uy tín và bản lĩnh chính trị.

Qua đó, tổ chức bộ máy từ tỉnh đến cơ sở từng bước được tinh gọn, hoạt động hiệu quả hơn; đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức (CCVC) cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Từ khi có Nghị quyết số 04-NQ/TU (ngày 12-8-2016) của Tỉnh ủy về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, kiện toàn tổ chức bộ máy giai đoạn 2016 - 2020 và định hướng đến năm 2025, các địa phương, đơn vị đã tích cực chủ động rà soát xác định đối tượng để cử đi đào tạo về chuyên môn, lý luận chính trị; trong đó chú trọng đào tạo cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ người dân tộc thiểu số; đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh. Kết quả, từ tháng 10-2016 đến nay, toàn tỉnh đã cử 2.211 cán bộ đi học lý luận chính trị; cử 12.852 lượt cán bộ, CCVC tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ.

Chủ trương của Tỉnh ủy là vừa tích cực đào tạo, bồi dưỡng, vừa quyết liệt chỉ đạo, kiểm tra, rà soát tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm, đề bạt cán bộ. Nhờ đó đã tạo động lực cho gần 700 cán bộ nỗ lực cố gắng hơn trong công việc và sắp xếp thời gian đi học lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, quản lý nhà nước, ngoại ngữ, tin học, đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định. Đến nay, đội ngũ cán bộ, CCVC từ tỉnh đến cơ sở có bước trưởng thành, phát triển về nhiều mặt, chất lượng ngày càng được nâng lên; số cán bộ, công chức có trình độ đại học và trên đại học ở cấp xã đạt tỷ lệ hơn 70,7%, cấp huyện đạt 90,4% và cấp tỉnh đạt 89,2%. Sau hơn hai năm triển khai nghị quyết này, bước đầu cơ cấu về độ tuổi, giới tính, dân tộc, ngành nghề, lĩnh vực công tác có sự cân đối, hợp lý hơn.

Các chức danh lãnh đạo chủ chốt cấp xã ở khu vực đồng bằng có trình độ chuyên môn đại học trở lên là 81,95%, trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên đạt 90,88%. Tại khu vực miền núi, cán bộ cấp xã có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên đạt 91,6%, trung cấp chuyên môn trở lên 83,4%...

Hiện đội ngũ cán bộ trưởng phòng, phó phòng cấp huyện có trình độ chuyên môn sau đại học đạt 10,34% và trưởng phòng, phó phòng thuộc sở, ban, ngành tỉnh có trình độ chuyên môn sau đại học đạt 30,26%.

Thực hiện chủ trương của Trung ương về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, Tỉnh ủy Quảng Nam đã ban hành các văn bản chỉ đạo thực hiện phù hợp với đặc điểm, tình hình của cơ quan, đơn vị, địa phương. Đến nay, tỉnh đã kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy, biên chế của sáu cơ quan tham mưu giúp việc Tỉnh ủy; qua đó, giảm 10 đầu mối (từ 31 phòng xuống còn 21 phòng), giảm 42 lãnh đạo cấp phòng và giảm 17 biên chế. Đồng thời thực hiện xong việc sắp xếp tổ chức bộ máy của Văn phòng HĐND tỉnh, từ ba phòng xuống còn hai phòng; giảm bảy trưởng phòng và phó trưởng phòng. Ngay đầu năm 2019, tỉnh đã hoàn thành việc sắp xếp tổ chức bộ máy, đổi mới cơ chế hoạt động của Ban Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh; giao chức năng thăm, khám, chăm sóc sức khỏe cán bộ cho Bệnh viện đa khoa tỉnh thực hiện. Đã kết thúc hoạt động của Đảng bộ Khối doanh nghiệp tỉnh, chuyển các tổ chức đảng về trực thuộc đảng bộ địa phương nơi doanh nghiệp có trụ sở chính.

Giám đốc Sở Nội vụ Trần Anh Tuấn cho biết, đến nay, khối chính quyền đã sắp xếp, kiện toàn, giải thể, hợp nhất 55 đơn vị. Cụ thể, đã giải thể Ban Quản lý các Khu công nghiệp Quảng Nam; chuyển giao Ban Quản lý Phát triển đô thị mới Điện Nam - Điện Ngọc về UBND thị xã Điện Bàn quản lý; giải thể Văn phòng đại diện tỉnh Quảng Nam tại TP Hà Nội; chuyển giao Ban Quản lý dự án hạ tầng trực thuộc Ban Quản lý Khu kinh tế mở Chu Lai về Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông tỉnh; giải thể phòng y tế cấp huyện và giao chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về văn phòng HĐND và UBND cấp huyện. Đến nay, toàn tỉnh đã giảm 121 đơn vị sự nghiệp công lập cấp tỉnh và huyện; qua đó, giảm 1.807 người và giảm 111 cấp phó. Ngoài ra, qua việc sắp xếp, hiện toàn tỉnh còn 1.240 thôn, tổ dân phố (giảm 479 thôn, tổ dân phố), với 3.721 người giữ chức danh người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố (giảm 4.748 người) và tiết kiệm kinh phí hơn 60 tỷ đồng/năm. Thực hiện tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, CCVC theo Nghị quyết số 39-NQ/TW và Kết luận số 17-KL/TW của Bộ Chính trị, toàn tỉnh tinh giản được 3.182 biên chế; trong đó, khối chính quyền giảm được 3.087 biên chế.

Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Nguyễn Chín chia sẻ, công tác kiện toàn, sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy là vấn đề mới, khó, nhạy cảm, phức tạp và liên quan nhiều tổ chức, cá nhân, nhưng bằng sự quyết tâm vào cuộc của các cấp ủy đảng, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở cho nên đã đạt được những kết quả nhất định. Bước đầu, tổ chức bộ máy được tinh gọn, hoạt động hiệu quả hơn trước. Kết quả này thể hiện sự quyết tâm, tinh thần dám làm và dám chịu trách nhiệm của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Quan điểm của tỉnh là quyết liệt, thận trọng, nhân văn, không cầu toàn, nóng vội, trên nguyên tắc “dễ làm trước, khó làm sau”, “làm thí điểm trước, nhân rộng sau”. Kinh nghiệm rút ra là phải làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục nhằm nâng cao nhận thức và tạo sự đồng thuận cao trong quá trình thực hiện; phải thực hiện đồng bộ, công khai, dân chủ, minh bạch, chặt chẽ, thận trọng; bảo đảm đầy đủ chế độ, chính sách đối với cán bộ, CCVC, người lao động chịu sự tác động trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy.

Để công tác sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy đạt kết quả cao, Trung ương cần sớm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để quy định, sửa đổi, bổ sung, thay thế các văn bản liên quan đến công tác quản lý các lĩnh vực tổ chức bộ máy, biên chế, tinh giản biên chế; tổ chức bộ máy chính quyền địa phương; quy định mới về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế cơ quan Ủy ban MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội cấp tỉnh, cấp huyện…, làm cơ sở để địa phương tổ chức thực hiện. (Nhandan.com.vn 2/1, Tấn Nguyên) Về đầu trang 

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Cải cách thủ tục hành chính ngành Bảo hiểm xã hội: Dấu ấn công nghệ thông tin

Trong suốt thời gian qua, hướng tới sự hài lòng của người dân, tổ chức và doanh nghiệp, Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam đã luôn tập trung, quyết liệt triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, liên tục rà soát để sửa đổi, bổ sung các quy trình nghiệp vụ theo hướng tạo điều kiện thuận lợi, giảm bớt các thủ tục không cần thiết cho người dân và doanh nghiệp. Nhờ đó, BHXH Việt Nam được đánh giá là điểm sáng trong thực hiện Nghị quyết số 19 của Chính phủ, được cộng đồng doanh nghiệp và người dân đánh giá cao và những kết quả này không thể thiếu vắng được dấu ấn của CNTT.

BHXH có chức năng tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách BHXH, Bảo hiểm y tế (BHYT); tổ chức thu, chi chế độ Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN); quản lý và sử dụng các quỹ: BHXH, BHTN, BHYT; thanh tra chuyên ngành việc đóng BHXH, BHTN, BHYT theo quy định của pháp luật… Mang trong mình chức năng và nhiệm vụ khá nặng nề, đồng thời có liên quan trực tiếp đến quyền lợi của hàng triệu người dân, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT), hiện đại hóa BHXH để nâng cao chất lượng phục vụ người tham gia và hưởng BHXH, BHYT đã trở thành yêu cầu cấp thiết của ngành BHXH trong thời gian vừa qua. Công tác ứng dụng CNTT đã được BHXH Việt Nam đặc biệt quan tâm, thể hiện qua việc xây dựng Hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung toàn ngành; hệ thống cấp số định danh quản lý người tham gia BHXH, BHYT, BHTN được thống nhất trên phạm vi toàn quốc...

Ngay từ năm 2014, BHXH Việt Nam đã đẩy mạnh ứng dụng CNTT theo hướng lấy người dân làm trung tâm để triển khai hình thức giao dịch điện tử trong thực hiện các thủ tục hành chính (TTHC) của ngành. Hiện nay, đã có hơn 90% doanh nghiệp lựa chọn thực hiện qua hình thức giao dịch này. Từ đó, số giờ giao dịch nộp BHXH trong những năm qua đã có sự cải thiện đáng kể, từ 335 giờ (năm 2014) xuống còn 147 giờ; số lần nộp BHXH được ghi nhận với mức tốt nhất là 1 lần. 5 năm qua, số lượng TTHC của BHXH đã giảm từ 263 thủ tục năm 2012, đến năm 2014 đã giảm còn 115 thủ tục, năm 2015 còn 33 thủ tục, 2016 còn 32 thủ tục, năm 2017 còn 28 thủ tục, năm 2019 còn 27 thủ tục; rút ngắn thời hạn cấp sổ BHXH từ 20 ngày, thẻ BHYT từ 7 ngày xuống còn 5 ngày... Số giờ thực hiện TTHC từ 335 giờ hướng đến giảm 49 giờ. Với việc thực hiện giao dịch điện tử trong tất cả các khâu từ thu, nộp đến quản lý chi, trả, thì số lần thực hiện giao dịch điện tử giảm từ 12 lần/năm xuống còn 1 lần/năm.

Đáng chú ý, từ năm 2017, toàn bộ 63 cơ quan BHXH tỉnh, thành phố trong cả nước đều đã triển khai hình thức tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích. Nhờ đó, mọi tổ chức, doanh nghiệp khi lựa chọn hình thức này đều không phải trực tiếp đến cơ quan BHXH và không phải trả phí.

Hiện BHXH Việt Nam đã triển khai ứng dụng CNTT ở hầu hết các hoạt động nghiệp vụ chủ yếu của ngành BHXH như: Giao dịch điện tử trong công tác thu BHXH, BHYT, BHTN và cấp sổ BHXH, thẻ BHYT; giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN; giám định điện tử chi phí khám chữa bệnh BHYT thông qua Hệ thống thông tin giám định BHYT; số hóa hồ sơ lưu trữ; các phần mềm phục vụ công tác tài chính - kế toán, quản lý văn bản và điều hành...

Nhờ áp dụng CNTT vào cải cách TTHC, trong Báo cáo môi trường kinh doanh toàn cầu năm 2020 (công bố tháng 10/2019), mức độ thuận lợi về môi trường kinh doanh của Việt Nam đã xếp thứ 70/190 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó chỉ số “Nộp thuế và BHXH” tăng được 22 bậc so với Báo cáo 2019. Đây là nỗ lực chung của ngành Thuế và ngành BHXH trong những năm qua.

Nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, bảo vệ quyền lợi người tham gia BHXH, BHYT, từ tháng 4/2019, BHXH Việt Nam đã triển khai dịch vụ tin nhắn thông báo, tra cứu quá trình đóng, hưởng, giải quyết hồ sơ BHXH, BHYT, BHTN. Đây là một trong những dịch vụ thuộc “Hệ sinh thái 4.0 ngành BHXH” nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, bảo vệ quyền lợi người tham gia BHXH, BHYT.

Dịch vụ tin nhắn thông báo, tra cứu quá trình đóng, hưởng, giải quyết hồ sơ BHXH, BHYT, BHTN là hệ thống tương tác đa phương tiện giữa người dân và doanh nghiệp với cơ quan BHXH. Hệ thống nằm trong chương trình ứng dụng CNTT, hiện đại hóa ngành BHXH, được BHXH Việt Nam lên kế hoạch, thực hiện thời gian qua, đến nay đã chính thức đi vào hoạt động. Theo đó, 2 loại hình tin nhắn được triển khai là: “Tin nhắn thương hiệu BHXH Việt Nam” cho cơ quan BHXH và “Tin nhắn theo cú pháp” cho đơn vị, cá nhân.

Dịch vụ tin nhắn thông báo, tra cứu quá trình đóng, hưởng, giải quyết hồ sơ BHXH, BHYT, BHTN đã đem đến sự kết nối thông tin, giải quyết chế độ chính sách giữa các cá nhân, đơn vị với cơ quan BHXH trở lên thuận lợi, nhanh chóng và chính xác hơn. Đây là điều rất cần thiết giúp người dân, người lao động chủ động hơn trong việc nắm bắt, cập nhật thông tin quá trình tham gia, thụ hưởng các chính sách BHXH, BHYT, BHTN, từ đó, cùng với cơ quan BHXH đấu tranh, tố giác, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động.

Về phía cơ quan BHXH, dịch vụ này sẽ góp phần quan trọng vào công tác quản lý, cải cách hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ khi có thể tiếp cận tốt nhất đến từng đơn vị sử dụng lao động, từng người tham gia BHXH, BHYT. Việc “cá nhân hoá” được đối tượng phục vụ giúp công tác thông tin, tuyên truyền của ngành BHXH thêm thân thiện, hiệu quả; đồng thời, việc thông báo, theo dõi cụ thể về “đường đi” của từng hồ sơ cũng giúp cho công tác giải quyết chế độ chính sách BHXH, BHYT, BHTN thêm nhanh chóng, chính xác.

Ngoài dịch vụ tin nhắn trên, hiện nay, hệ thống tương tác đa phương tiện của BHXH Việt Nam đang có 8 dịch vụ, bao gồm: Dịch vụ Call Center (trung tâm dịch vụ khách hàng); ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong Chatbot; trang mạng xã hội fanpage; chuyên trang BHXH với tổ chức, cá nhân; dịch vụ thanh toán điện tử; dịch vụ qua ứng dụng di động; dịch vụ tin nhắn thương hiệu; dịch vụ đánh giá sự hài lòng…

Việc áp dụng hệ thống tương tác đa phương tiện đang tạo thành một “Hệ sinh thái 4.0 ngành BHXH” phục vụ người dân và doanh nghiệp với các dịch vụ tiện ích, hiện đại nhất, góp phần quan trọng vào công tác quản lý, cải cách hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ của ngành BHXH nhằm tiếp cận tốt nhất đến từng đơn vị sử dụng lao động, người tham gia BHXH, BHYT, BHTN… Với hệ thống này, người dân cũng có quyền lựa chọn hình thức phù hợp nhất, thuận lợi nhất với mình để thực hiện các thủ tục liên quan đến BHXH, BHYT, BHTN. Trên nền tảng đó, ngoài dịch vụ tin nhắn tra cứu đã đi vào hoạt động, thời gian tới, BHXH Việt Nam sẽ triển khai tiếp: Dịch vụ thanh toán trực tuyến; Ứng dụng BHXH trên thiết bị di động; Hệ thống Chatbot hỗ trợ khách hàng (trả lời chính sách BHXH, BHYT tự động bằng trí tuệ nhân tạo, tăng tính tương tác cao với người tham gia, cung cấp thông tin đóng, hưởng BHXH, BHYT và dự tính mức hưởng nhằm phục vụ người dân tốt hơn); Phân tích, khai thác dữ liệu trên hệ thống dữ liệu tập trung (BigData); Thiết lập Fanpage truyền thông trên hệ thống mạng xã hội…

BHXH Việt Nam phấn đấu đến năm 2020 hoàn thành việc xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu điện tử về quản lý BHXH liên thông, hiện đại với công nghệ mới nhất, hứa hẹn mang lại diện mạo mới cho ngành BHXH trong việc quản lý, cung cấp dịch vụ theo hướng tập trung, nhanh chóng, chính xác; hướng tới sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp, thực hiện mục tiêu đảm bảo an sinh xã hội bền vững. (Haiquanonline.com.vn 2/1, Xuân Thảo) Về đầu trang

Năm 2019 - Năm cải cách toàn diện của ngành Thuế

Những năm qua, ngành Thuế đã liên tục chuyển động, cải cách để thay đổi diện mạo, hướng tới hiện đại, chuyên nghiệp và thân thiện với người nộp thuế. Sự đổi mới của ngành đến thời điểm này đã chính thức được ghi nhận một cách tích cực, không chỉ bởi các tổ chức quốc tế mà còn ở chính cộng đồng doanh nghiệp trong nước. Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Cao Anh Tuấn đã có những chia sẻ với Báo Hải quan về thành tựu này của ngành Thuế.   

Năm 2019, chỉ số nộp thuế của Việt Nam đã đạt được một bước tiến tốt đẹp khi không chỉ cải thiện được thứ hạng mà các tiêu chí của chỉ số này cũng thay đổi tích cực. Ông có thể chia sẻ rõ hơn về điều này?

Tại Báo cáo Môi trường kinh doanh toàn cầu – Doing Business 2020 do Ngân hàng Thế giới công bố, chỉ số nộp thuế của Việt Nam đã tăng 22 bậc, từ vị trí thứ 131 lên vị trí thứ 109 trong tổng số 190 quốc gia. Theo đó, phần lớn các chỉ tiêu quyết định đến chỉ số này đều có sự cải thiện. Trong đó, thời gian nộp thuế giảm 114 giờ (từ 498 xuống 384 giờ). Trong số giờ này có 94 giờ giảm là nhờ cải cách, đơn giản hóa các thủ tục về khai thuế Giá trị gia tăng và 20 giờ giảm là nhờ những cải cách, đơn giản hóa các thủ tục về nộp và quyết toán thuế Thu nhập doanh nghiệp. Số lần nộp thuế của Việt Nam cũng giảm 4 lần (từ 10 lần năm 2019 xuống còn 6 lần năm 2020). Tổng mức thuế suất (tỷ lệ tổng thuế và đóng góp) giảm 0,2%, từ mức 37,8% (thuế 13,3%, bảo hiểm xã hội 24,5%) năm 2019 xuống còn 37,6% năm 2020.

Như vậy, với chỉ số nộp thuế của Việt Nam tăng 22 bậc, ngành Thuế đã vượt chỉ tiêu của Chính phủ đề ra tại Nghị quyết số 02/NQ-CP (năm 2019 tăng 7-10 bậc về chỉ số nộp thuế), tiệm cận mục tiêu đến năm 2021, chỉ số nộp thuế tăng lên 30-40 bậc.

Đây thực sự là một kết quả ấn tượng với ngành Thuế. Nếu như tại Báo cáo Môi trường kinh doanh toàn cầu được công bố năm 2018, chỉ số nộp thuế của Việt Nam có sự sụt giảm nhẹ do có độ trễ của chính sách thì đến năm 2019, nỗ lực của toàn ngành Thuế đã được ghi nhận, đánh giá một cách đầy đủ và toàn diện.

Để có được kết quả này, ngành Thuế đã nỗ lực không ngừng để đưa nhiều ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý thuế nhằm cắt giảm, đơn giản hóa nhiều khâu trong quy trình nghiệp vụ và tạo thêm dư địa để cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp và người dân trong thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước. Điều này là minh chứng rõ nét nhất cho những nỗ lực vượt bậc trong đẩy mạnh cải cách toàn diện của toàn hệ thống thuế trong suốt một năm qua từ thể chế, phương thức đến bộ máy.

Năm qua, ngoài việc được tổ chức quốc tế công nhận thành quả, cái nhìn của cộng đồng doanh nghiệp trong nước đối với ngành Thuế cũng thay đổi đáng kể. Ông đánh giá như thế nào về điều này?

Tại Báo cáo đánh giá sự hài lòng của doanh nghiệp đối với cơ quan thuế được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố hồi tháng 10/2019, có tới 78% doanh nghiệp hài lòng về kết quả cải cách thuế. Đây là năm thứ ba VCCI tổ chức đánh giá sự hài lòng của doanh nghiệp với kết quả cải cách của ngành Thuế. Nếu như chỉ số này ở năm 2014 chỉ là 71%, năm 2016 là 75% thì bước sang năm 2019 chỉ số này đã tăng lên là 78%.

Phân tích sâu hơn về báo cáo đánh giá này của VCCI, có thể thấy trong đó có nhiều chỉ số đạt tỷ lệ cao như: Có đến 90% doanh nghiệp cho rằng tiếp cận thông tin về thuế dễ dàng, thuận lợi; 80% đánh giá thu tục hành chính thuế dễ/tương đối dễ thực hiện; hay có đến gần 97% doanh nghiệp cho biết cảm thấy dễ/tương đối dễ khi thực hiện các thủ tục thuế điện tử…

Chúng tôi cho rằng đây là nguồn động viên khích lệ rất tích cực của cộng đồng doanh nghiệp dành cho cơ quan Thuế. Kết quả đánh giá đó cũng cho thấy những nỗ lực của Bộ Tài chính nói chung và Tổng cục Thuế nói riêng trong việc thực hiện cải cách, đơn giản hóa chính sách, thủ tục hành chính thuế, sửa đổi các quy trình nghiệp vụ và ứng dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ doanh nghiệp khai thuế, nộp thuế điện tử… trong những năm qua đã đem lại nhiều lợi ích thiết thực, phù hợp với nhu cầu và mong muốn của doanh nghiệp.

Chiến lược cải cách hệ thống Thuế 2011-2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã đặt ra mục tiêu “Đến năm 2020 tối thiểu có 80% số người nộp thuế hài lòng với các dịch vụ mà cơ quan thuế cung cấp”. Với kết quả năm nay, tôi cho rằng ngành Thuế đã tiến gần đến mục tiêu Chiến lược 2020 đã đặt ra.

Được biết, tại Báo cáo của VCCI, chỉ số “Sự phục vụ của công chức thuế” năm 2019 đã tăng 1,5 điểm so với năm 2016 (2019 là 7,86 điểm, 2016 là 6,36 điểm). Ngành Thuế đã nỗ lực như thế nào để hình ảnh công chức thuế trong mắt cộng đồng doanh nghiệp ngày càng trở nên tốt đẹp như vậy?

Tôi cho rằng đây là kết quả của việc ngành Thuế đã có những biện pháp chỉ đạo quyết liệt, từ việc đào tạo tập huấn trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ thuế đến chấn chỉnh kỷ cương kỷ luật công vụ; rèn luyện tác phong làm việc, tinh thần thái độ phục vụ của cán bộ công chức thuế… Những điều đó đã được cộng đồng doanh nghiệp ghi nhận và đánh giá khá công bằng.

Tôi cũng muốn chia sẻ thêm, thời gian qua, ngành Thuế đã và đang tăng cường chấn chỉnh kỷ cương, kỷ luật trong thực thi công vụ của công chức thuế, đặc biệt là tập trung vào những khâu trọng yếu có khả năng gây phiền hà, nhũng nhiễu, phát sinh tiêu cực cho người nộp thuế như giám sát việc thực hiện thanh tra thuế (ghi nhật ký thanh tra/kiểm tra điện tử), xử lý kết quả sau thanh tra, kiểm tra; giải quyết hoàn thuế của doanh nghiệp… Tới đây, toàn ngành Thuế cũng sẽ tiếp tục tập trung vào công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ và đạo đức công vụ, tinh thần, thái độ phục vụ người dân, doanh nghiệp của công chức thuế; đảm bảo việc quản lý và giải quyết các thủ tục hành chính thuế đúng quy định của pháp luật và hướng tới nâng cao sự hài lòng của người nộp thuế.

Có thể nói, đến thời điểm hiện tại, cả về thể chế pháp luật và cải cách hành chính đã được Tổng cục Thuế làm rất tốt. Điều này sẽ đóng góp như thế nào trong công tác quản lý của ngành Thuế cả hiện tại và trong tương lai, thưa ông?

Một dấu mốc quan trọng của toàn ngành Thuế trong năm 2019 đó chính là việc Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 chính thức được Quốc hội thông qua và sẽ có hiệu lực vào 1/7/2020. Phải khẳng định rằng, Luật Quản lý thuế mới sẽ là cơ sở pháp lý cho những cải cách, đơn giản hóa các quy định, trình tự thủ tục, áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý thuế, áp dụng hóa đơn điện tử…

Bên cạnh đó, để tạo thuận lợi tối đa hơn nữa cho người nộp thuế, ngành Thuế cũng đang tiếp tục duy trì và đảm bảo hệ thống thuế điện tử (khai, nộp, hoàn, đăng ký thuế) để đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp cả về hệ thống mạng thông tin, ứng dụng và vận hành. Tổng cục Thuế cũng đã triển khai xong hệ thống eTax trên toàn quốc. Hệ thống này cho phép doanh nghiệp truy cập để tra cứu được nghĩa vụ khai thuế, nộp thuế, số thuế còn nợ... của mình để đảm bảo sự chính xác, đồng bộ giữa số liệu của cơ quan thuế và doanh nghiệp; trường hợp doanh nghiệp phát hiện số liệu có sai sót, nhầm lẫn thì điều chỉnh kịp thời.

Thời gian tới, ngành Thuế sẽ tiếp tục cải cách, bắt kịp với các nước trong khu vực và trên thế giới trong công cuộc cải cách hiện đại hóa toàn ngành. Mục tiêu hướng tới của cuộc cải cách này đó chính là: Thể chế chính sách thuế minh bạch; quy trình thủ tục hành chính thuế đơn giản, khoa học và phù hợp với thông lệ quốc tế; nguồn nhân lực có chất lượng, liêm chính; ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, có tính liên kết, tích hợp và tự động hóa cao. Đây được xem là việc làm có ý nghĩa thiết thực nhất để hỗ trợ, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thực hiện tốt nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước.

Xin cảm ơn ông! (Haiquanonline.com.vn 1/1, Thùy Linh) Về đầu trang

Dịch vụ công trực tuyến triển khai vẫn còn chậm

Tại nhiều địa phương có số lượng thủ tục ở mức độ 3, mức độ 4 cao nhưng trên thực tế thì số lượng hồ sơ nộp qua mạng rất thấp.

Nghị quyết 02 năm 2019 về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực tranh quốc đã dành một mục quan trọng để thúc đẩy hoạt động thanh toán điện tử và dịch vụ công cấp độ 4.

Qua 1 năm triển khai, bên cạnh một số Bộ, ngành và địa phương đã có các biện pháp nhằm thực hiện nội dung này, theo phản ánh của nhiều doanh nghiệp hiện tiến độ thực hiện vẫn còn rất chậm.

Khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho thấy, thời gian qua nhiều Bộ, ngành đã thực hiện xây dựng Cổng dịch vụ công trực tuyến nhằm cung cấp dịch vụ công cấp độ 3, cấp độ 4 cho doanh nghiệp và người dân. Số lượng các dịch vụ công cấp độ 3 và cấp độ 4 có thể cung cấp được ở các bộ rất khác nhau.

Các bộ cam kết có thể cung cấp dịch vụ công cấp độ 4 đến cho doanh nghiệp nhiều nhất là Thông tin và Truyền thông, Công Thương, Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Khoa học và Công nghệ, Tài nguyên và Môi trường, Văn hoá Thể thao và Du lịch, Ngân hàng nhà nước Việt Nam.

Tuy nhiên, theo ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng Ban pháp chế VCCI, việc các cơ quan nhà nước cam kết có thể cung cấp được bao nhiêu dịch vụ công cấp độ 3 và cấp độ 4 mới chỉ là bước đầu tiên. Có một thực trạng đáng lo ngại là hiện không có chỉ tiêu thống kê rõ ràng về số lượng hồ sơ nộp qua mạng. Dù tỉnh nào cũng có mục thống kê, song chỉ có khoảng 1/3 số tỉnh là có thể thống kê được số hồ sơ nộp qua mạng.

Một vấn đề đặt ra là tại nhiều địa phương có số lượng thủ tục ở mức độ 3, mức độ 4 cao, nhưng trên thực tế thì số lượng hồ sơ nộp qua mạng rất thấp. Theo đó, còn có tình trạng, các cơ quan nhà nước đã sử dụng biện pháp từ chối nhận hồ sơ giấy, ép nộp hồ sơ điện tử để tăng tỷ lệ hồ sơ tiếp nhận điện tử nhằm báo cáo thành tích hoàn thành chỉ tiêu.

“Ban Pháp chế VCCI không chỉ xây dựng một hệ thống dịch vụ công trực tuyến thật sự hiện đại, hệ thống này phải tạo ra sự thân thiện và thuận lợi làm động lực để doanh nghiệp sử dụng các cổng thông tin. Chính vì vậy, đây là vấn đề cần phải đặt ra trong thời gian tới”, ông Tuấn chỉ rõ./. (Vov.vn 1/1, Nguyễn Hằng) Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Sẽ thu hẹp các đối tượng là công chức

Luật Cán bộ, công chức sửa đổi, bổ sung có hiệu lực vào ngày 1-7-2020, với nhiều nội dung ảnh hưởng lớn đến đối tượng công chức.

Hiện nay có 8 nhóm đối tượng được gọi là công chức (CC). Theo khoản 2, điều 4 Luật Cán bộ, CC quy định, CC là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và thuộc các cơ quan, đơn vị được nêu cụ thể tại Nghị định 06 năm 2010 gồm: Trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam; Trong Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước; Trong Bộ, cơ quan ngang Bộ và các tổ chức khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập; Trong cơ quan hành chính ở cấp tỉnh, cấp huyện; Trong hệ thống Tòa án nhân dân, hệ thống Viện Kiểm sát nhân dân; Trong cơ quan của tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, tỉnh, huyện; Trong cơ quan, đơn vị của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; Trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập…

Trong đó, CC hiện nay được tuyển dụng bằng hình thức thi tuyển trừ trường hợp đã có cam kết tình nguyện làm việc từ 5 năm trở lên ở miền núi, biên giới, hải đảo… Đồng thời, CC phải đáp ứng một số tiêu chuẩn, điều kiện như sau: Đủ 18 tuổi trở lên, Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam; Có đơn dự tuyển, lý lịch rõ ràng, có văn bằng, chứng chỉ phù hợp; Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt.

Ngoài ra, CC phải trải qua quá trình tập sự để làm quen với môi trường công tác, tập làm những công việc của vị trí việc làm được tuyển dụng. Trong đó, điều 20 Nghị định 24 năm 2010 nêu rõ, thời gian tập sự của công chức gồm: 12 tháng nếu được tuyển dụng vào CC loại C; 6 tháng với trường hợp tuyển dụng vào CC loại D.

Ngày 26-11-2019, Quốc hội đã chính thức thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Luật Cán bộ, CC với nhiều nội dung ảnh hưởng lớn đến đối tượng CC. Một trong số đó là việc sửa đổi phạm vi đối tượng là CC.

Theo đó, khoản 2, điều 4 Luật hiện nay được khoản 1, điều 1 Luật mới 2019 sửa đổi theo hướng lãnh đạo, quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập sẽ không còn là CC.

Điều này hoàn toàn phù hợp với chủ trương không thực hiện chế độ CC trong đơn vị sự nghiệp công lập theo tinh thần của Nghị quyết 19-NQ/TW và sẽ xây dựng bảng lương mới theo vị trí việc làm thay thế bảng lương hiện nay nêu tại Nghị quyết 27-NQ/TW .

Tuy nhiên, khoản 19, điều 1 của Luật sửa đổi năm 2019 cũng nêu rõ, CC đang giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập theo Luật và các văn bản hướng dẫn hiện hành vẫn sẽ tiếp tục được thực hiện chế độ, chính sách … cho đến hết thời hạn bổ nhiệm giữ chức vụ đang đảm nhiệm. (Nld.com.vn 2/1, H.Lê) Về đầu trang

Kỷ luật hai cán bộ xã đánh bài tại công sở

Ngày 1-1, lãnh đạo Huyện ủy Triệu Sơn cho biết: Sau khi có kết quả kiểm tra, xác minh, căn cứ tự kiểm điểm, nhận khuyết điểm, sai phạm của các cá nhân liên quan, xét đề nghị của Ủy ban Kiểm tra và Hội đồng kỷ luật, Ban Thường vụ Huyện ủy Triệu Sơn quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cách tất cả các chức vụ trong đảng đối với Bí thư Đảng ủy xã và Đảng ủy viên, Phó Chủ tịch UBND xã Hợp Thành.

Trước đó, tiếp nhận phản ánh và tin tố giác của quần chúng nhân dân, báo chí về việc Bí thư Đảng ủy xã và Phó Chủ tịch UBND xã Hợp Thành, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa có hành vi đánh bài ăn tiền tại công sở xã, các cơ quan chức năng ở huyện Triệu Sơn đã khẩn trương vào cuộc kiểm tra, xác minh.

Căn cứ kết quả kiểm tra, đề xuất của các cơ quan tham mưu, Ban Thường vụ Huyện ủy Triệu Sơn quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cách tất cả các chức vụ trong Đảng đối với ông Lê Đình Sơn, Bí thư Đảng ủy xã Hợp Thành và ông Nguyễn Đình Pho, Đảng ủy viên, Phó Chủ tịch UBND xã Hợp Thành.

Ngoài ra, Ban Thường vụ Huyện ủy Triệu Sơn giao Hội đồng nhân dân huyện hướng dẫn Hội đồng nhân dân xã Hợp Thành tiến hành các bước theo quy định để bãi nhiệm chức danh Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã Hợp Thành đối với ông Lê Đình Sơn; giao UBND huyện Triệu Sơn tiến hành các thủ tục, ra quyết định cách chức Phó Chủ tịch UBND xã đối với ông Nguyễn Đình Pho. Nguyên nhân là do các cán bộ nêu trên đã có hành vi đánh bài ăn tiền tại trụ sở UBND xã Hợp Thành. (Nhandan.com.vn 1/1, Mai Luận) Về đầu trang

Phú Yên: Huỷ kết quả trúng tuyển công chức vì chứng chỉ không hợp pháp

Ngày 31/12/2019, ông Trần Hữu Thế, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên đã ký quyết định hủy bỏ kết quả trúng tuyển công chức năm 2017-2018 đối với bà N.T.N.L (SN 1984) trú ở TP Tuy Hòa vì lý do sử dụng chứng chỉ không hợp pháp trong hồ sơ đăng ký thi tuyển.

Trước đó tại kỳ thi tuyển công chức năm 2017-2018 của tỉnh Phú Yên, bà L đã thi tuyển và đạt được điểm số cao từ đó Hội đồng thi tuyển công nhận bà L trúng tuyển vị trí công chức quản lý chất lượng công trình giao thông tại Sở GTVT Phú Yên.

Tuy nhiên sau đó cơ quan chức năng phát hiện chứng chỉ tin học trình độ A do Trung tâm Ngoại ngữ - Bồi dưỡng kiến thức Đông Á cấp cho bà N.T.N.L ngày 28/10/2010 là không hợp pháp.

Sau khi Sở Nội vụ có văn bản trao đổi với Sở GTVT Phú Yên về trường hợp nêu trên thì bà L có đơn xin cứu xét đồng thời bổ sung chứng chỉ ứng dụng công nghệ thông tin cơ bản do Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Phú Yên cấp ngày 14/11/2017.

Tuy nhiên, chiếu theo điều lệ của kỳ thi thì bà L vẫn sai trong quá trình thủ tục hồ sơ yêu cầu của vị trí tuyển dụng nên UBND tỉnh Phú Yên quyết định hủy kết quả thi của bà L. (Dantri.com.vn 2/1, Trung Thi) Về đầu trang./.

 

     Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.033.169 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này