Bản tin cải cách hành chính ngày 31/3/2020

Font size : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1. Hà Nội: Sáp nhập đơn vị hành chính cấp phường cần hỗ trợ thêm cho cơ sở

2. TP.HCM: Đẩy mạnh dịch vụ công trực tuyến trong mùa dịch Covid-19

3. Bình Dương: TP Dĩ An tạm ngưng giao dịch trực tiếp tại bộ phận một cửa

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

4. Bổ sung cơ chế xử lý văn bản chứng thực không đúng quy định

5. Ban hành Kế hoạch cải cách hành chính lĩnh vực tài nguyên môi trường

6. Ngành Tài chính điện tử hóa giải quyết thủ tục hành chính

7. Cục Thuế Khánh Hòa: Nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

8. Luân chuyển, bố trí cán bộ chủ chốt không là người địa phương

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

9. Khiếu nại “hành vi im lặng” của cơ quan hành chính nhà nước

         

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Hà Nội: Sáp nhập đơn vị hành chính cấp phường cần hỗ trợ thêm cho cơ sở

Qua gần một tháng thực hiện Nghị quyết của Quốc hội "về sắp xếp đơn vị hành chính (ÐVHC) cấp xã thuộc TP Hà Nội" , các phường mới được sáp nhập tại quận Hai Bà Trưng đang khẩn trương ổn định tổ chức bộ máy, tuy nhiên cũng còn không ít vướng mắc cần sớm được hỗ trợ tháo gỡ.

Ngày 1-3, Quận ủy Hai Bà Trưng công bố thành lập Ðảng bộ phường Phạm Ðình Hổ (mới), Ðảng ủy phường đã phân công nhiệm vụ, tổ chức Kỳ họp HÐND lần thứ nhất; chính thức hoạt động bộ máy với đầy đủ chức danh chủ chốt của Ðảng ủy, HÐND, UBND; từng bước kiện toàn các tổ chức chính trị xã hội. Ðồng thời, thực hiện Nghị quyết HÐND thành phố Hà Nội ngày 21-2-2019 về sáp nhập tổ dân phố (TDP), hai phường (cũ) đã tiến hành sáp nhập TDP xong. Cụ thể, tại phường Phạm Ðình Hổ (cũ) còn tám TDP, phường Ngô Thì Nhậm (cũ) còn năm TDP.

Theo Bí thư Ðảng ủy phường Phạm Ðình Hổ, Lê Việt Hùng, với số cán bộ, công chức (CBCC) dôi dư, việc sắp xếp thuộc thẩm quyền quận và theo quy định hoàn thành trong 5 năm, riêng Hà Nội chủ trương đẩy nhanh, cho nên quận, phường phấn đấu hoàn thành trong hai năm 2021 - 2022. Trước mắt, Thường trực Ðảng ủy, UBND phường đã phân công lại các vị trí sau hợp nhất, đến nay bộ máy hoạt động ổn định. "Khó tránh khỏi băn khoăn của CBCC, nhưng cả cán bộ chủ chốt và những người hoạt động không chuyên trách đã dần thông suốt, bởi chúng tôi đã trao đổi về đề án, xác định rõ với cán bộ, đảng viên dù được điều động về đâu, thì cũng sẽ được bố trí theo đúng chuyên môn. Nhờ cả hệ thống đồng lòng, phường đã thay đổi xong bộ máy chỉ trong vài ngày trước khi thực hiện Nghị quyết", đồng chí Lê Việt Hùng chia sẻ.

Tại phường Nguyễn Du (mới), từ ngày 1-3, CBCC đang phụ trách mảng nào thì tiếp tục chịu trách nhiệm mảng đó, tránh tình trạng bị sót việc trong giai đoạn chuyển đổi. Phường Nguyễn Du trước vẫn thiếu CBCC ở một số vị trí, cho nên khi sáp nhập phường, số CBCC dôi dư không đáng kể. Quận đã xây dựng đề án, sau rà soát sẽ bố trí phù hợp, có thể điều động sang vị trí còn thiếu tại phường khác. "Theo quy định, nếu các lao động hợp đồng không muốn làm việc tiếp tại phường sẽ được giải quyết theo Luật Lao động và hướng dẫn của thành phố; nếu vẫn muốn làm tiếp, UBND phường sẽ ký tiếp hợp đồng (giúp việc cho công chức), riêng tại bộ phận "một cửa" phải là công chức", Chủ tịch UBND phường Nguyễn Du, Dương Minh Ðức cho hay.

Mặc dù bộ máy đang dần ổn định, song khó khăn nhất hiện nay với phường Phạm Ðình Hổ là trụ sở UBND phường khá chật chội, không tạo sự thoải mái cho công dân khi đến giải quyết thủ tục hành chính (TTHC). Do đó, để sớm có mặt bằng phục vụ người dân tốt hơn, lãnh đạo phường đề xuất quận cho chuyển trụ sở giữa UBND phường và Ðảng ủy phường, vì trụ sở Ðảng ủy rộng hơn, mà không phải tiếp nhiều công dân, giải quyết TTHC.

Ðáng chú ý, sau khi ra mắt ÐVHC phường mới, các phường phải thực hiện luôn việc sáp nhập TDP. CBCC phường giờ lại phải nắm bắt thêm địa bàn, trong khi tổ trưởng TDP mới chưa thể sâu sát ngay. Phường Nguyễn Du (mới) có 10 TDP, mỗi tổ có từ 190 hộ đến 445 hộ, tổ ít nhất cũng có gần 700 nhân khẩu. Do không có tổ phó, phường phải nhờ các bác tổ trưởng TDP (cũ) cùng lo các công việc với tổ trưởng mới, nhưng có những bác vì lý do sức khỏe cho nên sự phối hợp cũng hạn chế. Với những TDP có đông dân thì nhà sinh hoạt cộng đồng không thể đáp ứng được nhu cầu hội họp. TDP số 10 phường Nguyễn Du có gần 300 hộ dân, mỗi khi họp có ít nhất 150 người dự, nhưng điểm sinh hoạt cộng đồng tại số 18 phố Nguyễn Thượng Hiền chỉ chứa được cao nhất là 70 người; muốn họp trực tuyến thì phải đủ hạ tầng, cán bộ cơ sở biết sử dụng công nghệ thông tin…

Thực tế cũng cho thấy, trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp, phường mới sáp nhập lại quá nhiều việc đột xuất, địa bàn rộng hơn, cho nên với số CBCC hiện nay thì các phường mới đang trong tình trạng quá tải. Quy định về sáp nhập ÐVHC cho thời gian ổn định trong 5 năm, nhưng nếu kéo dài tình trạng như vậy sẽ rất khó khăn. Nhiều việc phát sinh trong quá trình sáp nhập mà cơ sở chưa lường hết, cho nên rất bối rối khi thực hiện; cần phải điều chỉnh dần. Chủ tịch UBND phường Nguyễn Du, Dương Minh Ðức đề nghị: "Không riêng phường Nguyễn Du, mà các phường, xã sau khi sáp nhập đều gặp phải những khó khăn này, mong các cấp, các ngành sớm hướng dẫn, hỗ trợ cụ thể cho phường. Trong đó, trụ sở cơ quan cần được đầu tư căn cứ số phòng ban, số dân phải quản lý. Việc luân chuyển CBCC cũng cần tính theo chuyên môn của CBCC, bởi nếu được bố trí công việc đúng sở trường, thì CBCC sẽ làm việc hiệu quả hơn. Ðáng chú ý, cần quan tâm hơn về chế độ cho cán bộ cơ sở và CBCC phường. UBND phường Nguyễn Du có ba lãnh đạo, còn lại là công chức, chia ra quản lý 11 nghìn người dân tại 10 TDP; số CBCC sau sáp nhập giữ nguyên, nhưng địa bàn rộng, số dân tăng gần gấp hai lần, lại giảm nhiều cán bộ cơ sở, không còn tổ phó dân phố. Hiện, phường có 25 tuyến phố văn minh đô thị, nhiều nhất quận Hai Bà Trưng. Ngoài các tổ trưởng cùng công an phường, phải huy động thêm lực lượng tự quản, bảo vệ dân phố để duy trì trật tự văn minh đô thị trên 25 tuyến phố, cho nên phải chi thêm ngân sách bồi dưỡng. Do vậy, cần có chính sách hỗ trợ thêm cho cán bộ cơ sở, chứ ngân sách phường không thể đủ. (Nhandan.com.vn 30/3, Lan Hạ) Về đầu trang

TP.HCM: Đẩy mạnh dịch vụ công trực tuyến trong mùa dịch Covid-19

Trước tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, UBND TP.HCM chỉ đạo các sở ngành, quận huyện trên địa bàn tăng cường sử dụng dịch vụ công trực tuyến.

Ông Phạm Thế Hiển, ngụ quận Bình Tân có nhu cầu đăng ký hồ sơ kinh doanh, tuy nhiên, thay vì đến trụ sở chính quyền địa phương thì ông sử dụng cổng dịch vụ công trực tuyến của quận.

Ông Hiển cho rằng, ngoài sự tiện lợi của việc làm thủ tục qua mạng, thì nhờ dịch vụ công trực tuyến mà người dân cũng hạn chế đi lại, hạn chế đến nơi đông người trong mùa dịch. Chỉ cần một chiếc máy vi tính có nối mạng hoặc sử dụng ứng dụng trên điện thoại thông minh là có thể giải quyết được công việc.

“Bây giờ là thời đại 4.0 rồi, không lý do gì mà phải ngồi cầm bút lách cách, đi hỏi từng người một. Chắc chắn là tiện lợi hơn rất nhiều, vì ngồi ở nhà cũng có thể làm việc được chứ không phải đến công sở nào hết. Chính việc đó giúp cho mình cảm thấy tự tin hơn trước tình hình dịch bệnh”, ông Hiển nói.

Tại quận Bình Tân, hơn một tháng nay, khu vực tiếp nhận và trả kết quả của quận đã vắng vẻ hơn trước. Lượng người đến làm thủ tục trực tiếp giảm từ 15% - 20%. Người dân chuyển từ hình thức nộp hồ sơ trực tiếp sang nộp trực tuyến. Do đó giảm được lượng hồ sơ giấy, đồng thời giảm được số lượt tiếp xúc trực tiếp giữa cán bộ và người dân. Việc này mang lại hiệu quả rất lớn trong công tác phòng chống dịch Covid-19.

Ông Lê Văn Thinh, Chủ tịch UBND quận Bình Tân cho biết, các cán bộ tại quận Bình Tân đã tăng cường tuyên truyền, vận động người dân sử dụng các dịch vụ công trực tuyến. Hiện tại, quận đã triển khai 61 dịch vụ trực tuyến công cấp độ 3 và 13 dịch vụ trực tuyến công cấp độ 4.

“Trong 2 tháng đầu năm, lượng người sử dụng dịch vụ công trực tuyến tăng hơn 7% so với cùng kì năm ngoái. Đặc biệt, ý thức của người dân phối hợp với chính quyền trong việc tương tác với chính quyền trực tuyến đã tăng lên, giúp chúng tôi nhiều trong công tác chống dịch”, ông Lê Văn Thinh cho hay.

Không chỉ người dân, các chuyên gia và cán bộ tại TP. HCM cũng đánh giá cao hiệu quả phòng chống dịch nhờ sử dụng hình thức làm việc trực tuyến.

Theo ông Bùi Thành Đức, cán bộ Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. HCM, các cuộc họp giữa sở và địa phương cũng được tăng cường sử dụng theo hình thức họp trực tuyến. Không chỉ trong sở, việc triển khai dịch vụ công trực tuyến, một cửa điện tử cũng được áp dụng ở hầu hết các cơ quan công quyền trên địa bàn thành phố. Việc này không chỉ nâng cao hiệu quả phòng chống dịch Covid-19 mà còn tạo thuận lợi rất lớn cho người dân và doanh nghiệp khi làm thủ tục hành chính.

“Để thuận tiện hơn cho doanh nghiệp và các doanh nghiệp cũng không phải đi lại nhiều lần, hạn chế việc tiếp xúc trực tiếp, TP. HCM đã triển khai các biện pháp hỗ trợ đăng ký kinh doanh tại nhà. Tập trung vào việc nhận và trả hồ sơ qua đường bưu điện”, ông Bùi Thành Đức nói.

Luật sư Đỗ Trúc Lâm, Giám đốc hãng luật Lâm Trí Việt – Đoàn Luật sư TPHCM cho rằng, nên tăng cường tuyên truyền cho người dân để hiểu và ủng hộ việc làm thủ tục hành chính qua mạng, vừa góp phần giảm phiền hà phải đi lại nhiều lần, vừa chống được nhũng nhiễu, tiêu cực có thể phát sinh khi làm việc trực tiếp. Đặc biệt là trong giai đoạn cả nước cũng như thành phố tập trung cao độ để chống dịch như hiện nay.

“Hành chính công, tập trung tại một cửa có rất nhiều người dân lên nộp hồ sơ trực tiếp. Với một phòng làm việc có khoảng cách tiếp xúc quá gần như vậy thì nguy cơ lây nhiễm chéo hoàn toàn có thể xảy ra. Vì vậy, đẩy mạnh công tác trực tuyến công với thủ tục hành chính sẽ giúp cho việc phòng chống dịch bệnh đạt hiệu quả cao trong thời điểm hiện tại”, Luật sư Đỗ Trúc Tâm chia sẻ.

Việc đẩy mạnh sử dụng dịch vụ công trực tuyến không chỉ đáp ứng yêu cầu trong thời điểm phòng chống dịch Covid-19 mà còn mang lại nhiều lợi ích như: minh bạch, công khai trong giải quyết thủ tục hành chính, giảm tải được lượng giấy phải sử dụng khi làm hồ sơ, tiết kiệm được chi phí lưu trữ. Ngoài việc tuyên truyền rộng rãi để người dân hiểu và nắm được cách thực hiện, các cơ quan công quyền tại TP. HCM cũng cần tiếp tục quán triệt thực hiện nghiêm túc vấn đề này từ người đứng đầu, đồng thời dành sự quan tâm, đầu tư kinh phí đúng mức để áp dụng công nghệ hiện đại nhằm phục vụ tốt nhất cho người dân./. (Vov.vn 30/3, Duy Phương-Xuân Ngà) Về đầu trang

Bình Dương: TP Dĩ An tạm ngưng giao dịch trực tiếp tại bộ phận một cửa

Theo thông tin từ UBND TP Dĩ An, bắt đầu từ ngày 30/3/2020 cho đến khi có thông báo mới, bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của TP.Dĩ An sẽ tạm dừng giao dịch trực tiếp và chuyển sang giao dịch trực tuyến.

Căn cứ chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 27/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về quyết liệt thực hiện đợt cao điểm phòng chống dịch Covid-19.

Theo thông báo khẩn của UBND TP.Dĩ An sáng 30/3/2020, nhằm hạn chế tiếp xúc, tập trung đông người tại trụ sở cơ quan nhà nước và trụ sở Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả để tránh lây lan dịch bệnh Covid -19 ảnh hưởng đến sức khỏe nhân dân.

UBND TP Dĩ An tạm dừng giao dịch trực tiếp với cá nhân, đơn vị về thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND và bộ phận một cửa. Với thời gian bắt đầu thực hiện là từ 30/3/2020 đến khi có thông báo mới.

Để đảm bảo quyền lợi của cá nhân, tổ chức, công chức, nhân sự làm việc tại bộ phận một cửa, UBND TP Dĩ An chuyển sang tổ chức thực hiện thủ tục hành chính bằng hình thức trực tuyến: Hướng dẫn, tư vấn qua điện thoại, Zalo, Email…

Còn nộp hồ sơ, tiếp nhận và trả kết quả qua trang dịch vụ công của tỉnh Bình Dương tại địa chỉ: https://dichvucong.binhduong.gov.vn. hoặc tại nhà và dịch vụ bưu chính công ích. (Phapluatplus.vn 30/3, Thanh Hải - Xuân Cảnh) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Bổ sung cơ chế xử lý văn bản chứng thực không đúng quy định

Đó là một trong những điểm đáng chú ý của Thông tư số 01/ 2020/TT-BTP do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành, có hiệu lực từ ngày 20-4 tới, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16-2-2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch.

Cụ thể, Thông tư số 01/2020/TT-BTP nêu rõ: Các giấy tờ, văn bản đã được chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký không đúng quy định tại Nghị định số 23/2015/NĐ-CP và văn bản hướng dẫn thi hành thì không có giá trị pháp lý. Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp xã, người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự ban hành quyết định hủy bỏ giá trị pháp lý của giấy tờ, văn bản chứng thực không đúng quy định và đăng tải thông tin về những giấy tờ, văn bản này.

Thông tư cũng hướng dẫn cụ thể các trường hợp, điều kiện được chứng thực chữ ký trên các giấy ủy quyền về việc nộp hộ, nhận hộ hồ sơ, giấy tờ, trừ trường hợp pháp luật quy định không được ủy quyền; trường hợp ủy quyền nhận hộ lương hưu, bưu phẩm, trợ cấp, phụ cấp; ủy quyền nhờ trông nom nhà cửa, vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội để tránh nhiều cách hiểu khác nhau, góp phần giảm bớt rủi ro và tạo thuận lợi cho công chứng viên.

Trước đó, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP và thông tư hướng dẫn của Bộ Tư pháp chưa có quy định về việc nếu phát hiện chứng thực không đúng quy định thì sẽ thực hiện khắc phục sai sót như thế nào, gây lúng túng cho cơ quan thực hiện chứng thực. Khi phát hiện có sai sót, các cơ quan thực hiện chứng thực chủ yếu cố gắng thu hồi văn bản đã được chứng thực sai quy định một cách cơ học. Điều này rất khó thực hiện, dẫn đến có văn bản đã được chứng thực sai quy định vẫn được sử dụng trong các giao dịch hành chính, dân sự, tiềm ẩn rủi ro cho cả các cơ quan nhà nước và các tổ chức, cá nhân. (Hanoimoi.com.vn 30/3, Hà Phong) Về đầu trang

Ban hành Kế hoạch cải cách hành chính lĩnh vực tài nguyên môi trường

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà vừa ký Quyết định ban hành Kế hoạch tổng kết Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020 và xây dựng Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2021-2030.

Kế hoạch nhằm mục đích đánh giá toàn diện tình hình triển khai và kết quả thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020; xác định rõ những kết quả nổi bật đã đạt được, chỉ rõ những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong công tác cải cách hành chính (CCHC) giai đoạn 2011-2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Đồng thời xác định các biện pháp khắc phục những hạn chế, khó khăn, vướng mắc và đề xuất các định hướng, giải pháp, nhiệm vụ CCHC nhà nước giai đoạn 2021-2030 nói chung và nhiệm vụ CCHC của Bộ Tài nguyên và Môi trường nói riêng phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và yêu cầu xây dựng nền hành chính phục vụ phát triển đất nước trong tình hình mới.

Việc tổng kết, đánh giá phải đảm bảo tính toàn diện, khoa học, thiết thực, hiệu quả; đánh giá đa chiều, với sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý và các tổ chức, các nhân có liên quan.

Báo cáo tổng kết Chương trình tổng thể CCHC của Bộ phải đảm bảo đánh giá chính xác, khách quan, thực chất các nội dung CCHC; làm rõ kết quả so với mục tiêu, thể hiện thông qua sản phẩm, số liệu cụ thể, phân tích tồn tại, hạn chế để chỉ ra các nguyên nhân. Đồng thời, xác định mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ trọng tâm CCHC giai đoạn 2021-2030 và đề xuất các giải pháp thực hiện bảo đảm đồng bộ, khả thi, phù hợp với yêu cầu, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Gắn việc tổng kết với công tác thi đua - khen thưởng, đề xuất những hình thức khen thưởng phù hợp cho những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện Chương trình tổng thể CCHC giai đoạn 2011 - 2020.

Các nội dung Kế hoạch bao gồm: Xây dựng Kế hoạch tổng kết Chương trình tổng thể CCHC của Bộ giai đoạn 2011-2020; Hướng dẫn thực hiện, Đề cương báo cáo tổng kết Chương trình tổng thể CCHC của Bộ, của các đơn vị trực thuộc Bộ giai đoạn 2011­2020; Các đơn vị trực thuộc Bộ tổ chức tổng kết, xây dựng báo cáo tổng kết theo hướng dẫn của Vụ Tổ chức cán bộ; Xây dựng các báo cáo tổng kết chuyên đề CCHC giai đoạn 2011-2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Xây dựng báo cáo tổng kết Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 và đề xuất nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2020-2030 của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Tổ chức Hội nghị tổng kết Chương trình tổng thể CCHC cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 và đề xuất nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2020­-2030 của Bộ Tài nguyên và Môi trường;..

Về tổ chức thực hiện, Bộ trưởng giao Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ có trách nhiệm: Chủ trì xây dựng Kế hoạch; hướng dẫn, đôn đốc các đơn vị tổ chức tổng kết công tác cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 và đề xuất nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2020-2030 bảo đảm đúng yêu cầu, chất lượng và tiến độ; Chủ trì tổ chức Hội nghị tổng kết Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 và đề xuất nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2020-2030 của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Tổ chức xây dựng Báo cáo tổng kết Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020; dự thảo Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2020-2030 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ có trách nhiệm xây dựng Kế hoạch và tổ chức tổng kết nghiêm túc, bảo đảm chất lượng, tiến độ thời gian; hình thức tổ chức tổng kết phù hợp, thiết thực, hiệu quả; gắn với biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện Chương trình tổng thể tại đơn vị; Xây dựng Báo cáo tổng kết, Báo cáo chuyên đề theo phân công tại Kế hoạch này, gửi về Bộ (qua Vụ Tổ chức cán bộ) bảo đảm thời hạn; Phối hợp với Vụ Tổ chức cán bộ xây dựng báo cáo tổng kết Chương trình tổng thể CCHC giai đoạn 2011 -2020 và đề xuất nhiệm vụ CCHC giai đoạn 2020-2030 của Bộ Tài nguyên và Môi trường đảm bảo tiến độ theo yêu cầu.

Vụ trưởng Vụ Thi đua, Khen thưởng và Tuyên truyền, thủ trưởng các cơ quan báo chí, truyền thông thuộc Bộ có trách nhiệm thông tin, tuyên truyền tình hình tổng kết và kết quả CCHC giai đoạn 2011 -2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. (Dangcongsan.vn 30/3, BL) Về đầu trang

Ngành Tài chính điện tử hóa giải quyết thủ tục hành chính

Cục Tin học và Thống kê tài chính (Cục THTKTC) - Bộ Tài chính đã hoàn thiện các cơ chế chính sách, môi trường pháp lý về quản lý và triển khai ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) để giải quyết thủ tục hành chính ngành Tài chính.

Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án Cổng Dịch vụ công Quốc gia, với mục tiêu nâng cao chất lượng, hiệu quả cung cấp dịch vụ công của các cơ quan nhà nước, đảm bảo phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn, hướng tới số hóa, chuyển hoạt động sử dụng hồ sơ, văn bản giấy, giao dịch trực tiếp sang hoạt động sử dụng hồ sơ, văn bản điện tử, giao dịch điện tử và cung cấp dịch vụ công không phụ thuộc vào thời gian, địa giới hành chính. Đặc biệt, đề án hướng tới thúc đẩy cải cách hành chính (CCHC), thủ tục hành chính (TTHC) thông qua việc ứng dụng CNTT.

Đại diện Cục THTKTC cho biết, cùng chung tay với các bộ, ngành, địa phương trên cả nước, ngay khi Đề án được ban hành, với vai trò trực tiếp quản lý và triển khai ứng dụng CNTT, Cục THTKTC đã hoàn thiện các cơ chế chính sách, môi trường pháp lý và quản lý, triển khai ứng dụng CNTT đáp ứng đề án của Chính phủ.

Đề cập tới việc rà soát, ban hành quy trình nội bộ, quy trình điện tử đối với việc giải quyết TTHC, đại diện Cục THTKTC cho biết, đơn vị đã trình Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành quyết định về quy trình điện tử đối với việc tiếp nhận, giải quyết từng TTHC của ứng dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 của cơ quan Bộ Tài chính và quy trình nội bộ đối với việc giải quyết từng TTHC tại các đơn vị thuộc cơ quan Bộ Tài chính, đảm bảo tuân thủ đầy đủ các quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật.

Qua quá trình triển khai thực tế cho thấy, việc áp dụng quy trình điện tử đã giúp cơ quan Bộ Tài chính giám sát chặt chẽ tổng thể quy trình xử lý hồ sơ, từ khâu tiếp nhận, thụ lý đến khi trả kết quả, như: Cung cấp ngay tức thời thông tin hồ sơ đang nằm ở phòng, ban nào? Ai đang thụ lý? Đã được lãnh đạo xem xét cho ý kiến hay chưa, hay hồ sơ đang tắc ở khâu nào... đồng thời giảm thiểu thời gian xử lý hồ sơ, hồ sơ được luân chuyển cho lãnh đạo, các cán bộ, bộ phận liên quan; nhận lại kết quả phản hồi về ngay sau khi được xem xét phê duyệt. Từ đó hỗ trợ trao đổi thông tin giữa các cơ quan quản lý nhà nước, giữa các phòng ban, bộ phận, giữa chuyên viên với lãnh đạo được nhanh chóng, chính xác.

Bên cạnh đó, việc áp dụng quy trình điện tử còn thúc đẩy CCHC, hoàn thiện chế độ, chính sách quản lý nhà nước, thúc đẩy ứng dụng CNTT trong các cơ quan quản lý, hướng tới xây dựng chính phủ điện tử.

Đến nay, Bộ Tài chính đã hoàn thiện hồ sơ thiết kế chi tiết dự án “Nâng cấp Cổng dịch vụ công và hệ thống thông tin một cửa điện tử Bộ Tài chính” đảm bảo thủ tục theo quy định của Nghị định số 73/2019/NĐ-CP quy định quản lý đầu tư ứng dụng CNTT sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, các quy định tại Thông tư số 18/2019/TT-BTTTT và Thông tư số 22/2019/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và truyền thông.

Việc nâng cấp Cổng dịch vụ công và hệ thống thông tin một cửa điện tử Bộ Tài chính cũng nhằm thiết lập hệ thống thông tin điện tử một cửa kết nối giữa các cấp chính quyền nâng cao chất lượng phục vụ, kiểm soát chặt chẽ việc giải quyết TTHC cho cá nhân, tổ chức.

Bên cạnh đó, việc làm này còn nhằm tăng cường tính công khai minh bạch và trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức, viên chức; tăng tính liên thông, kết nối, chia sẻ thông tin trong giải quyết TTHC, tăng số lượng TTHC được hướng dẫn, tiếp nhận, giám sát, trả kết quả.

Cho đến nay, Bộ Tài chính cũng đã hoàn thành cung cấp bộ câu hỏi – trả lời về những vấn đề thường gặp trong quá trình giải quyết các TTHC và công khai trên Cổng dịch vụ công của bộ, ngành, địa phương và tích hợp trên Cổng dịch vụ công quốc gia.

Theo đại diện Văn phòng Bộ Tài chính, Bộ Tài chính đã thực hiện rà soát, đánh giá tổng thể các TTHC thuộc lĩnh vực tài chính với mục đích hướng tới sự thống nhất, đồng bộ, đơn giản hóa, công khai, minh bạch TTHC.

Theo thống kê, năm 2019, Bộ Tài chính đã ban hành 21 quyết định công bố TTHC, theo đó đã bãi bỏ 84 TTHC và đơn giản hóa 27 TTHC trong các lĩnh vực thuế, hải quản, công sản, chứng khoán, tài chính ngân hàng, bảo hiểm, tài chính doanh nghiệp. Trong quý I/2020, Bộ Tài chính tiếp tục ban hành 1 quyết định công bố bãi bỏ 5 TTHC thuộc lĩnh vực công sản. Tính đến thời điểm hiện nay, tổng số TTHC thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Tài chính còn lại là 964 TTHC. 

Việc chuẩn hóa, công khai TTHC trên cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC, Bộ Tài chính đã hoàn thành đăng tải các TTHC hiện còn hiệu lực lên CSDL mới được tích hợp trên Cổng Dịch vụ công quốc gia (CSDL.dichvucong.gov.vn); hướng dẫn các đơn vị quản lý tài khoản, thay đổi mật khẩu đăng nhập CSDL quốc gia về TTHC theo yêu cầu của Văn phòng Chính phủ.

Về tình hình cung cấp dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) của Bộ Tài chính trên Cổng TTĐT, tính đến tháng 3/2020, tổng số TTHC của Bộ Tài chính là 946 thủ tục. Trong đó, DVCTT mức độ 1 là 101, DVCTT mức độ 2 là 295, DVCTT mức độ 3 là 214, DVCTT mức độ 4 là 336.

Tổng số DVCTT mức độ 3, 4 của ngành Tài chính là 550 DVCTT. Dự kiến đến hết năm 2020, Bộ Tài chính sẽ triển khai cung cấp 634 DVCTT mức độ 3, 4 lên cổng TTĐT của Bộ Tài chính.

Ngoài ra, Bộ Tài chính sẽ triển khai thực hiện kết nối, tích hợp dùng chung hệ thống thanh toán trực tuyến của Cổng Dịch vụ công Quốc gia để thực hiện thanh toán trực tuyến phí, lệ phí, thuế,... trong giải quyết TTHC và thực hiện dịch vụ công theo hướng dẫn và lộ trình của Văn phòng Chính phủ. (Thoibaotaichinhvietnam.vn 30/3, Đức Minh) Về đầu trang

Cục Thuế Khánh Hòa: Nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính

Thực hiện chỉ đạo của Tổng cục Thuế về nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) thuế, Cục Thuế Khánh Hòa thực hiện niêm yết TTHC tại trụ sở cơ quan thuế; thay thế, bãi bỏ những thủ tục rườm rà…, nhằm hỗ trợ người nộp thuế (NNT) thực hiện pháp luật thuế được thuận lợi.

Cùng với đó, đơn vị cũng thường xuyên kiểm tra việc tiếp nhận và giải quyết TTHC, chấn chỉnh kịp thời các trường hợp giải quyết TTHC trễ hạn, xử lý nghiêm các trường hợp gây phiền hà cho NNT.

Cụ thể, Cục Thuế Khánh Hòa đẩy mạnh việc giải quyết TTHC thuế theo phương thức trực tuyến đối với những TTHC đã đáp ứng dịch vụ công trực tuyến mức 3, 4; các TTHC tiếp nhận, trả kết quả qua dịch vụ bưu chính công ích. Bố trí đầy đủ cán bộ tại bộ phận một cửa tại cơ quan thuế để đảm bảo việc tiếp nhận, trả kết quả các TTHC thuế nhanh chóng, đúng thời hạn đối với các TTHC tiếp nhận và trả kết quả trực tiếp tại cơ quan thuế.

Kiểm soát chặt chẽ, thực hiện nghiêm quy định về thời hạn, hồ sơ, trình tự giải quyết đối với các thủ tục về hóa đơn, đối với thủ tục “mua hóa đơn do cơ quan thuế đặt in” phải giải quyết trong ngày nếu đúng, đủ hồ sơ theo quy định.         

Cùng với việc nâng cao chất lượng việc giải quyết thủ tục hành chính thuế, Cục Thuế Khánh Hòa còn tăng cường triển khai có hiệu quả việc gửi, nhận văn bản điện tử liên thông giữa các cấp hành chính, trong đó, chú trọng tăng cường gửi, nhận văn bản điện tử với các cơ quan trung ương qua trục liên thông văn bản quốc gia. Đảm bảo 100% văn bản điện tử gửi, nhận trên trục liên thông văn bản quốc gia được tích hợp chữ ký số và được xác thực theo quy định./. (Thoibaotaichinhvietnam.vn 30/3, Văn Tuấn) Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Luân chuyển, bố trí cán bộ chủ chốt không là người địa phương

Thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 25-1-2002 của Bộ Chính trị khóa IX về luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý, công tác điều động, luân chuyển cán bộ (LCCB) gắn với bố trí cán bộ chủ chốt không là người địa phương (KLNÐP) được cấp ủy các cấp tập trung triển khai, thực hiện và đạt kết quả tích cực. Hiệu quả của việc LCCB và bố trí cán bộ chủ chốt KLNÐP góp phần khắc phục những hạn chế trong công tác cán bộ, phát huy tính sáng tạo, chủ động và tâm huyết, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ. Tuy nhiên, việc triển khai chủ trương này ở một số nơi chưa đạt mục tiêu đề ra, cần tiếp tục có giải pháp tháo gỡ.

Huyện Bảo Yên (Lào Cai) những năm đầu nhiệm kỳ 2015-2020 là điểm nóng về an ninh trật tự. Có thời điểm một số đối tượng ngang nhiên lấn chiếm đất công, dựng lều lán trái phép chung quanh di tích đền chùa gây bức xúc dư luận. Nguyên nhân do nhiều vị trí lãnh đạo chủ chốt huyện, xã là người địa phương, bị chi phối bởi mối quan hệ bà con, họ hàng khiến việc xử lý thiếu kiên quyết. Tỉnh ủy Lào Cai đã bàn và thống nhất luân chuyển đồng chí Dương Ðức Huy, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về làm Bí thư Huyện ủy. Trên cương vị mới, đồng chí Huy chủ động bàn, thống nhất trong Thường vụ Huyện ủy quyết định bố trí, luân chuyển cán bộ lãnh đạo KLNÐP. Tại xã Bảo Hà, đồng chí Trưởng phòng Tư pháp luân chuyển về làm Bí thư Ðảng ủy xã; Bí thư Ðảng ủy xã này qua làm Chủ tịch UBND xã Xuân Thượng. Ðồng thời, đội ngũ cán bộ chủ chốt cùng các ban, ngành của huyện tiến hành xử lý nghiêm các vi phạm, nhanh chóng ổn định tình hình. Tại xã Xuân Thượng, đồng chí Chủ tịch UBND xã Nguyễn Văn Dũng, nguyên Bí thư Ðảng ủy xã Bảo Hà KLNÐP đã phát huy tốt năng lực lãnh đạo. Ở cấp huyện, để xóa bỏ tình trạng con em cán bộ được "giữ chỗ" chờ chỉ tiêu biên chế, đồng chí Bí thư huyện ủy cùng Ban Thường vụ đổi mới công tác tuyển chọn cán bộ bằng cách thi tuyển công khai, do đồng chí trực tiếp phỏng vấn. Kết quả đã thu hút được hơn 30 cán bộ trẻ (có cả thạc sĩ, kỹ sư) bổ sung cho cơ sở. Lực lượng này đã tích cực cùng địa phương thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đưa huyện trở thành đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua của tỉnh năm 2019.

Khi đi luân chuyển, nhiều cán bộ lãnh đạo, chủ chốt KLNÐP đã phát huy năng lực, sở trường góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng tổ chức đảng tại nơi công tác. Năm 2012, đồng chí Bùi Duy Quang, Trưởng phòng Kinh tế ngành của UBND tỉnh Ninh Bình được luân chuyển làm Phó Bí thư Huyện ủy Hoa Lư, được giới thiệu, bầu làm Phó Chủ tịch UBND huyện. Xem đây như quê hương của mình, đồng chí Quang thường xuyên bám sát cơ sở, chịu khó tìm tòi, học hỏi, tranh thủ sự giúp đỡ của cấp trên, tham vấn kinh nghiệm của cán bộ, công chức ở địa phương. Từ đó chủ động tham mưu với Thường trực Huyện ủy có những quyết sách phù hợp, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, khơi dậy các nguồn lực và sức sáng tạo của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội. Từ một địa phương chưa phát triển, hệ thống giao thông còn yếu kém, đời sống của người dân các xã còn khó khăn, năm 2016 Hoa Lư trở thành huyện nông thôn mới đầu tiên của cả nước theo tiêu chí mới. Khi phụ trách lĩnh vực giải phóng mặt bằng để phục vụ các dự án, công trình trọng điểm, bất kể nắng, mưa, đồng chí Quang thường chủ động cùng các thành viên Hội đồng giải phóng mặt bằng huyện đến tận nhà các hộ dân để tuyên truyền, vận động, lắng nghe và giải thích cho mọi người về những lợi ích thiết thực của dự án, quyền và nghĩa vụ của công dân. Trong thực hiện nhiệm vụ, Hội đồng giải phóng mặt bằng huyện luôn đặt lợi ích của người dân làm trọng tâm. Nhờ đó, công tác đền bù, giải tỏa ít chậm tiến độ; đơn thư kéo dài của các dự án tồn đọng trước đó được giải quyết rốt ráo. Từ năm 2018 đến nay, đồng chí Bùi Duy Quang được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch UBND huyện Hoa Lư.

Năm 2014, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ thành phố Châu Ðốc Huỳnh Hoa Hường được luân chuyển về làm Bí thư Ðảng ủy xã Vĩnh Tế, TP Châu Ðốc (An Giang). Với kinh nghiệm qua nhiều vị trí công tác, đồng chí nhanh chóng nắm bắt tình hình, gần gũi nhân dân. Theo Chủ tịch UBND xã Vĩnh Tế Ngô Văn Trung, rõ nhất từ khi đồng chí Hường làm Bí thư Ðảng ủy xã là khắc phục được biểu hiện cục bộ trong công tác cán bộ, giúp địa phương tiếp cận nhanh nhiều vấn đề mới, thay đổi lề lối, tác phong của đội ngũ cán bộ, công chức, phong cách lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, nâng cao chất lượng sinh hoạt của các chi bộ. Ðồng chí Hường bộc bạch, được luân chuyển là cơ hội tốt, có môi trường thực tế để rèn luyện, trau dồi thêm kiến thức, vốn sống, góp phần thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Hiện nay, các cấp ủy tiếp tục điều động, luân chuyển, bố trí cán bộ chủ chốt KLNÐP gắn với chuẩn bị phương án nhân sự đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Ðại hội XIII của Ðảng. Trong kế hoạch, tỉnh Thanh Hóa đặt mục tiêu đến năm 2025, cơ bản bố trí bí thư và chủ tịch UBND cấp huyện, xã KLNÐP. Trong quá trình chuẩn bị nhân sự, Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo các cấp ủy trực thuộc không nhất thiết bố trí địa phương, ban, ngành nào cũng có người tham gia cấp ủy; kết hợp hài hòa, chặt chẽ, hiệu quả việc chuẩn bị nhân sự tại chỗ với điều động, luân chuyển, bố trí cán bộ từ nơi khác đến. Còn Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tây Ninh thống nhất luân chuyển cán bộ KLNÐP các cấp, trên xuống, dưới lên và luân chuyển ngang, chủ yếu bố trí làm cấp trưởng. Tuy nhiên, thực tế việc thực hiện chủ trương này vẫn còn vướng mắc và có những vấn đề đặt ra cần được giải quyết dứt điểm.

Công tác điều động, LCCB gắn với bố trí cán bộ chủ chốt KLNÐP là chủ trương lớn của Ðảng, được thực hiện từ nhiều năm nay. Từ nhiệm kỳ 2000 - 2005 đến nay, T.Ư đã luân chuyển gần 200 cán bộ, gắn với bố trí nhiều bí thư tỉnh ủy, thành ủy KLNÐP. Trong nhiệm kỳ 2015 - 2020, tỉnh An Giang bố trí sáu bí thư huyện ủy và ba chủ tịch UBND KLNÐP trong số 11 huyện, thành phố. Tỉnh Thái Bình bố trí tất cả tám bí thư cấp ủy cấp huyện KLNÐP. Số cán bộ chủ chốt cấp huyện KLNÐP ở các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Vĩnh Phúc... đều chiếm tỷ lệ cao. Khảo sát thực tế ở cấp huyện cho thấy, tỷ lệ bí thư cấp ủy, chủ tịch UBND KLNÐP chiếm hơn 50%. Tuy nhiên, Nghị quyết T.Ư 7, khóa XII, ngày 19-5-2018 về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, đã đánh giá: Công tác điều động, LCCB gắn với bố trí cán bộ lãnh đạo KLNÐP, trong đó có bí thư cấp ủy các cấp còn bất cập, chưa đạt yêu cầu. Nghị quyết T.Ư 7cũng xác định cần đẩy mạnh bố trí bí thư cấp ủy tỉnh, huyện KLNÐP, mục tiêu đến năm 2025 phải cơ bản bố trí bí thư cấp ủy tỉnh KLNÐP và hoàn thành ở cấp huyện; đồng thời khuyến khích thực hiện với các chức danh khác.

Tìm hiểu nguyên nhân, trao đổi với nhiều lãnh đạo tỉnh, thành phố, chúng tôi nhận thấy, một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa chủ động xây dựng kế hoạch bố trí các chức danh cán bộ chủ chốt KLNÐP, chưa gắn công tác luân chuyển cán bộ với quy hoạch cán bộ. Cấp ủy, cán bộ một số nơi cho rằng, việc thực hiện luân chuyển cán bộ cấp tỉnh về huyện chưa thực hiện được nhiều vì liên quan số lượng ủy viên thường vụ của các huyện. Khi luân chuyển một cán bộ cấp tỉnh về huyện thì đồng thời phải tính toán, sắp xếp, luân chuyển một huyện ủy viên hoặc ủy viên thường vụ cấp huyện. Nếu luân chuyển ngang thì cũng phải xem có cấp ủy huyện nào còn thiếu (thí dụ có người nghỉ hưu). Nếu luân chuyển lên cấp tỉnh, thì phải xem xét cán bộ đó có bằng cấp, chuyên môn đào tạo có đáp ứng hay không, đồng thời phải xem nơi đó có nhu cầu bổ sung hay không. Tỉnh Ninh Bình với tám đơn vị hành chính, việc tăng số lượng cán bộ luân chuyển từ tỉnh về huyện trong một nhiệm kỳ cũng là việc khó.

Nhiều nơi, khâu đánh giá, lựa chọn, điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử để bố trí, sắp xếp các chức danh cán bộ chủ chốt KLNÐP còn nhiều bất hợp lý. Cứ dịp gần bầu cử đại biểu HÐND, đại hội đảng, lại có việc bố trí, sắp xếp cán bộ, trong đó có nhân sự mới KLNÐP. Thực tế cho thấy, phần lớn cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu biết về nhân sự mới ít hơn nhiều so với nhân sự đang công tác tại địa phương lâu nay, cho nên khi tiến hành bỏ phiếu tại đại hội, dẫu biết nhân sự phải đủ các tiêu chuẩn thì mới được cấp trên giới thiệu về, nhưng nhiều người vẫn băn khoăn. Cùng đó, một số cán bộ luân chuyển chưa được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các lĩnh vực quản lý kinh tế - xã hội, xây dựng Ðảng, thiếu kinh nghiệm thực tiễn, còn lúng túng trong công tác...

Những khó khăn về điều kiện sinh hoạt, chế độ công tác của cán bộ KLNÐP cũng là một trở ngại. Ðồng chí Mai Văn Tuất, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Ninh Bình đề xuất cần có cơ chế, chính sách rõ ràng, vừa bắt buộc, vừa khuyến khích, giúp cán bộ luân chuyển (trong đó có cán bộ chủ chốt KLNÐP) yên tâm công tác, khắc phục tâm lý ngại khó khăn, địa bàn xa. Tuy nhiên, việc hỗ trợ không phải địa phương nào cũng có. Việc điều động, LCCB gắn với bố trí, sắp xếp cán bộ KLNÐP cũng tác động không nhỏ đến tâm lý đội ngũ cán bộ tại chỗ. Vì vậy, nhiều cấp ủy địa phương cũng đề nghị T.Ư có cơ chế bảo đảm đội ngũ cán bộ tại chỗ yên tâm công tác, phấn đấu.

Có thể thấy, công tác điều động, luân chuyển gắn với bố trí cán bộ chủ chốt KLNÐP là chủ trương lớn cần tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế, chính sách, quy định phù hợp. Hiện nay, Ban Tổ chức T.Ư đang tích cực phối hợp các địa phương, đơn vị tổng kết thực tiễn, tìm giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Về nhiệm vụ trước mắt, đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Ðảng, Trưởng Ban Tổ chức T.Ư nhấn mạnh tại hội nghị giao ban trực tuyến ngành tổ chức xây dựng Ðảng (tháng 6-2019): Cần triển khai nhiều giải pháp, thực hiện tốt công tác luân chuyển, điều động, bố trí, sắp xếp cán bộ chuẩn bị nhân sự đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025 gắn với việc bố trí bí thư cấp ủy tỉnh, huyện KLNÐP. (Nhandan.com.vn 31/3, Ðức Huy - Hoàng Lâm) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Khiếu nại “hành vi im lặng” của cơ quan hành chính nhà nước

Cùng với quyết định hành chính, hành vi hành chính (HVHC) được pháp luật về khiếu nại quy định là đối tượng của khiếu nại hành chính (KNHC). Tuy nhiên, các vụ việc khiếu nại HVHC là khó khăn so với khiếu nại quyết định hành chính. Đặc biệt, thái độ “im lặng” của cơ quan hành chính nhà nước (CQHCNN) trước yêu cầu giải quyết công việc của người dân trong nhiều trường hợp gây ảnh hưởng tới quyền lợi hợp pháp của công dân, khiến người dân bức xúc và muốn được khiếu nại nhưng còn thiếu cơ chế để thực hiện.

Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 xác định HVHC là đối tượng của KNHC nhưng chỉ bao gồm “hành vi của CQHCNN, của người có thẩm quyền trong CQHCNN khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật”. Đến Luật Khiếu nại năm 2011, HVHC được xác định là “hành vi của CQHCNN, của người có thẩm quyền trong CQHCNN thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật”. Việc bổ sung biểu hiện “không thực hiện nhiệm vụ, công vụ” vào nội hàm của HVHC là bảo đảm thống nhất với các quy định của pháp luật về tố tụng hành chính, khi Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 cho đến Luật Tố tụng hành chính năm 2010, 2015 đều xác định HVHC bao gồm cả hành vi thực hiện và không thực hiện nhiệm vụ, công vụ.

Như vậy, Luật Khiếu nại năm 2011 đã mở rộng phạm vi đối tượng của KNHC, cho phép người dân có nhiều cơ hội hơn trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, không chỉ có thể phản ứng lại các hành vi làm không đúng hoặc làm trái quy định mà còn có thể phản ứng lại hành vi “im lặng” của CQHCNN. Chẳng hạn pháp luật quy định trong một thời hạn nhất định, CQHCNN phải cấp giấy phép xây dựng khi công dân có đủ điều kiện và đã làm đầy đủ thủ tục xin cấp giấy phép nhưng quá thời hạn đó mà cơ quan này không cấp giấy phép thì người xin cấp giấy phép có quyền khiếu nại về sự chậm trễ đó. Một số văn bản pháp luật trên các ngành, lĩnh vực cụ thể cũng từng có những quy định liên quan tới vấn đề này. Chẳng hạn như Điều 38, Nghị định số 88/2006/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký kinh doanh quy định: “Nếu sau năm ngày làm việc, kể từ ngày nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh mà không nhận được Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc không nhận được thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ đăng ký kinh doanh thì người đăng ký hộ kinh doanh có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo”. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 cũng quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính: Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong các trường hợp: “... Không áp dụng hoặc áp dụng không đúng quy định của Luật Tố cáo các biện pháp sau đây để bảo vệ người tố cáo khi người đó yêu cầu... Cấp, thu hồi, không cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh...”.

Trên thực tế, theo TS Nguyễn Hoàng Anh, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội: Số vụ kiện HVHC những năm qua không nhiều, nhất là trong tương quan với số vụ việc khiếu nại lên cơ quan hành chính. Trong số đó, số vụ chống lại sự im lặng - bất hành động của CQHCNN càng ít hơn. Điều này khiến cho quyền và lợi ích hợp pháp của người dân đôi khi chưa được bảo đảm, chưa tạo ra sức răn đe đối với cán bộ, công chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ, khiến họ còn có biểu hiện thờ ơ, quan liêu, chậm trễ giải quyết công việc cho người dân. Thực tế cũng còn những tranh cãi, khó khăn trong việc xác định đối tượng của KNHC xoay quanh hành vi này. Một thí dụ cụ thể: Ông Nguyễn Văn N và bà Võ Thị Thu H đã khiếu nại Sở Xây dựng tỉnh Khánh Hòa vì đã không trình UBND tỉnh để cơ quan này cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mình. Chung quanh vụ việc này có hai loại ý kiến: Một số người cho rằng, Sở Xây dựng có nghĩa vụ trình UBND tỉnh đơn của đương sự nhưng đã không thực hiện, nên đây chính là hành vi có thể bị khiếu nại theo quy định của pháp luật; ý kiến khác lại cho rằng, Sở Xây dựng chỉ là cơ quan chuyên môn của UBND và không có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận này, vì thế nó không thể là đối tượng của khiếu nại mà chỉ có thể bị kiểm tra, đôn đốc theo hệ thống thứ bậc trong nền hành chính. Rõ ràng hành vi không thực hiện của Sở Xây dựng đã làm ảnh hưởng đến quyền công dân, phải được coi là hành vi có thể bị khiếu nại.

Nguyên nhân của thực tế này là do căn cứ pháp lý cho việc khiếu nại hành vi “im lặng” của CQHCNN còn thiếu vững chắc, pháp luật về khiếu nại chưa có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này. Ngoài ra, để khiếu nại sự im lặng của CQHCNN, cần đợi đủ một thời hạn xác định. Thí dụ, như khi người dân xin cấp giấy phép, nếu quá thời hạn cấp theo luật định mà CQHCNN không trả lời, lúc này mới có thể coi đây là hành vi không thực hiện và người dân có thể khiếu nại. Như vậy, để quy kết được sự im lặng của CQHCNN, thời hạn giải quyết công việc phải được quy định một cách nhất quán.

Tuy nhiên, pháp luật hành chính nước ta vẫn thiếu các quy định về thủ tục, thời hiệu hoặc quy định thiếu thống nhất nên khó để xác định. Một thí dụ thực tế khi sự im lặng của CQHCNN được giải thích thiếu nhất quán: Trong cấp phép kinh doanh ngành nghề nhạy cảm, Sở Kế hoạch và Đầu tư TP Hồ Chí Minh đã giao cho các quận quy hoạch khu vực được phép kinh doanh. Vì thế trước khi cấp phép, Sở phải căn cứ vào quy hoạch của quận. Tuy nhiên, thành phố có hai văn bản “chọi” nhau: một công văn đề cập nếu hỏi quận mà sau năm ngày không trả lời thì sở vẫn cấp giấy chứng nhận; một công văn lại cho rằng: nếu hỏi quận mà sau năm ngày không trả lời thì không được cấp. Vì vậy, sở cũng không biết nghe ai, phải chờ quận trả lời rồi mới quyết định cấp hay không dẫn đến nhiều trường hợp bị trễ hạn.

Ngay cả khi thời hạn đã được quy định thì tác phong làm việc tắc trách ở các CQHCNN cũng khiến cho việc tính thời gian để xác định sự im lặng của CQHCNN trở nên khó khăn. Thí dụ, như khi tiếp nhận đơn thư hay yêu cầu trực tiếp của người dân, không biên nhận ngày nhận đơn, quên vào sổ hay để thất lạc trong quá trình chuyển hoặc nhân viên từ chối giải quyết vụ việc ngay lập tức nhưng không ra văn bản mà chỉ nói miệng trước người dân. Trong trường hợp này, khó tính thời hạn để khiếu nại sự im lặng của CQHCNN, bởi lẽ mốc thời gian đánh dấu thời điểm yêu cầu, kiến nghị của họ được gửi đến không xác định được.

Chính vì vậy, thời gian tới cần nghiên cứu quy định cụ thể hơn, bổ sung hướng dẫn để xác định HVHC bị khiếu nại là hành vi của chủ thể nào, các loại và “biểu hiện” của nó. Đặc biệt là, quy định cụ thể như thế nào là hành vi “im lặng” của CQHCNN có thẩm quyền, và hành vi đó khi nào sẽ trở thành đối tượng của KNHC để tạo căn cứ pháp lý rõ ràng cho người dân khi đưa ra yêu cầu giải quyết khiếu nại. Bên cạnh đó, pháp luật về hành chính cũng cần hoàn thiện các quy định về thời hạn, thời hiệu để người dân có căn cứ vững chắc trong việc xác định hành vi im lặng và thực hiện quyền khiếu nại. Điều này cũng giúp cán bộ, công chức nâng cao trách nhiệm trong việc giải quyết các yêu cầu cũng như khiếu nại của người dân. (Nhandan.com.vn 30/3, TS Nguyễn Thị Thu Nga) Về đầu trang./.

 

     Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.029.971 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này