Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin cải cách hành chính ngày 28/4/2020
1. TPHCM phát động thi đua cao điểm cải cách hành chính
2. Cà Mau: Rà soát, đánh giá chất lượng dữ liệu thủ tục hành chính năm 2020
3. Tạo đột phá trong cải cách hành chính và tinh gọn bộ máy - Bài 1: Những cách làm hiệu quả
4. Công tác kết nối Cơ chế một cửa quốc gia chuyển động tích cực
6. Hà Nội: Các thủ tục cấp phép xây dựng đã giảm từ 5 - 29 ngày
7. VASEP “tố” thủ tục về mã số mã vạch "đánh đố" doanh nghiệp
8. Thiếu tiêu chuẩn vẫn được bổ nhiệm
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
9. Lựa chọn cán bộ có bản lĩnh chính trị, có trí tuệ, tầm nhìn
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
TPHCM phát động thi đua cao điểm cải cách hành chính
Ngày 27-4, UBND TPHCM phát động đợt thi đua cao điểm về cải cách hành chính năm 2020, tập trung thực hiện chủ đề “Năm đẩy mạnh hoạt động văn hóa và xây dựng nếp sống văn minh đô thị”.
Trong đó, thực hiện nhiệm vụ trọng tâm là “Nâng cao văn hóa công sở, văn hóa công vụ, nâng cao ý thức thái độ phục vụ người dân, doanh nghiệp”.
Mục tiêu đợt thi đua này là phấn đấu đến cuối năm 2020 hoàn thành các mục tiêu của Chương trình cải cách hành chính, xây dựng hình ảnh chính quyền thành phố phục vụ, thân thiện, nhanh chóng, hiện đại. Cụ thể là mục tiêu cải thiện chỉ số hài lòng của người dân và tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính, nhất là trong lĩnh vực giáo dục, y tế; gia tăng tỷ lệ giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính đúng hạn; nâng cao tỷ lệ người dân và tổ chức tham gia sử dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 tại cơ quan, đơn vị.
Đối tượng tham gia thi đua là các sở ban ngành, UBND quận huyện, UBND phường xã thị trấn; các cán bộ công chức, viên chức trên địa bàn TP; các cá nhân, tập thể thuộc các đơn vị báo, đài trên địa bàn TP; người dân, doanh nhân, doanh nghiệp.
Đợt thi đua kéo dài đến hết tháng 11-2020. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân cũng sẽ đăng ký các mô hình sáng kiến, giải pháp, cách làm hay, hiệu quả trong thực hiện cải cách hành chính; đặc biệt là các giải pháp về thay đổi phương thức làm việc của các cơ quan, đơn vị nhà nước cho phù hợp đợt cao điểm phòng chống dịch Covid-19 trên địa bàn TP. (Sggp.org.vn 28/4, Mai Hoa) Về đầu trang
Cà Mau: Rà soát, đánh giá chất lượng dữ liệu thủ tục hành chính năm 2020
Xác định tầm quan trọng của công tác cải cách hành chính (CCHC), tỉnh Cà Mau đã ban hành nhiều chủ trương, giải pháp để triển khai thực hiện nhiệm vụ và đạt được những kết quả tích cực tạo điều kiện tối đa cho người dân và doanh nghiệp.
Mới đây, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau vừa ký quyết định phê duyệt phương án rà soát, đánh giá chất lượng dữ liệu thủ tục hành chính (TTHC) năm 2020 và làm cơ sở triển khai cho những năm tiếp theo trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, các sở, ban, ngành tỉnh chủ trì, phối hợp Văn phòng UBND tỉnh, UBND các huyện, thành phố Cà Mau và các cơ quan, đơn vị liên quan tiến hành rà soát tính đầy đủ, tính chính xác về số lượng, nội dung dữ liệu TTHC…
Phạm vi rà soát gồm tất cả TTHC cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã đã được Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành quyết định công bố thuộc phạm vi chức năng quản lý của sở, ban, ngành tỉnh; thẩm quyền giải quyết của UBND cấp huyện và cấp xã trên địa bàn tỉnh.
Tất cả mã hồ sơ TTHC cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã thuộc diện công khai, không công khai kèm theo quyết định công bố của Chủ tịch UBND tỉnh phải được kết nối, tích hợp với mã hồ sơ, dữ liệu TTHC của Bộ, cơ quan ngang bộ trên Cổng DVC quốc gia (không bao gồm TTHC đặc thù của tỉnh) và đồng bộ (nội dung và trạng thái giải quyết hồ sơ của TTHC) trên Cổng DVC trực tuyến của tỉnh.
Việc rà soát, đánh giá chất lượng dữ liệu TTHC nhằm chuẩn hóa thông tin, dữ liệu TTHC trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC, mã hồ sơ trên hệ thống một cửa điện tử bảo đảm công khai, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong tiếp cận, thực hiện, giám sát việc giải quyết TTHC.
Thời gian vừa qua, tỉnh cũng đã ban hành nhiều chủ trương, giải pháp để triển khai thực hiện nhiệm vụ cải cách TTHC. Tỉnh đã thực hiện sửa đổi, thay thế nhiều văn bản, thủ tục trong các lĩnh vực như xuất bản, in và phát hành, đường thủy nội địa, xúc tiến thương mại và giám định thương mại nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp…
Theo đó, trong tháng 4, Chủ tịch UBND tỉnh vừa ký quyết định ban hành mới 01 TTHC và sửa đổi bổ sung 08 TTHC trong lĩnh vực xuất bản, in và phát hành thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Cà Mau.
01 TTHC mới ban hành là cấp lại giấy xác nhận đăng ký hoạt động phát hành xuất bản phẩm.
08 TTHC được sửa đổi, bổ sung gồm: Cấp đổi giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm (cấp địa phương); cấp giấy phép in gia công xuất bản phẩm cho nước ngoài (cấp địa phương); cấp giấy phép tổ chức triển lãm, hội chợ xuất bản phẩm (cấp địa phương); cấp giấy xác nhận đăng ký hoạt động phát hành xuất bản phẩm (cấp địa phương); cấp lại giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm (cấp địa phương); cấp giấy phép nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh (cấp Trung ương); cấp giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh (địa phương); cấp giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm (cấp Trung ương).
03 TTHC được sửa đổi trong lĩnh vực xúc tiến thương mại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở Công thương tỉnh Cà Mau cũng mới được công bố bao gồm: Thông báo hoạt động khuyến mại; Đăng ký hoạt động khuyến mại đối với chương trình khuyến mại mang tính may rủi thực hiện trên địa bàn 1 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Đăng ký tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại tại Việt Nam.
Sửa đổi 02 TTHC trong lĩnh vực giám định thương mại cũng thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở Công thương tỉnh Cà Mau bao gồm: Đăng ký dấu nghiệp vụ giám định thương mại; Đăng ký thay đổi dấu nghiệp vụ giám định thương mại. Quyết định mới ban hành có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/4/2020.
Trong lĩnh vực đường thủy nội địa tỉnh cũng vừa công bố danh mục 09 TTHC thay thế cho 27 TTHC cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở Giao thông Vận tải tỉnh Cà Mau.
Ngoài ra, tỉnh cũng đã sửa đổi bổ sung và thay thế nhiều TTHC trong các lĩnh vực nông nghiệp, y tế dự phòng, lưu thông hàng hóa trong nước và du lịch… (Ictvietnam.vn 27/4, Ánh Dương) Về đầu trang
LĨNH VỰC CẢI CÁCH
Tạo đột phá trong cải cách hành chính và tinh gọn bộ máy - Bài 1: Những cách làm hiệu quả
Sức hút mạnh mẽ từ sự năng động trong phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng giao thương của các tỉnh, thành phố thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía nam và một số tỉnh lân cận đã kéo theo sự chuyển dịch dân cư làm gia tăng nhanh dân số, tạo áp lực lớn đến công tác quản lý, điều hành của các cấp chính quyền. Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước, nhiều địa phương đã có cách làm phù hợp thực tế, tạo đột phá trong cải cách hành chính (CCHC) gắn với tinh gọn bộ máy nhằm phục vụ người dân, doanh nghiệp (DN) ngày càng tốt hơn.
Để thích ứng, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực tế, nhiều địa phương khu vực phía nam chủ động đề ra các chương trình, kế hoạch gắn kết chặt chẽ giữa công tác CCHC với tinh gọn bộ máy. Những cách làm hay, mô hình mới hiệu quả xuất hiện ngày càng nhiều…
Những ngày này, Trung tâm Hành chính công TP Thủ Dầu Một (Bình Dương) đặt ra mục tiêu thực hiện tốt cả hai nhiệm vụ: triển khai hiệu quả các chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh về phòng, chống dịch Covid-19, đồng thời bảo đảm giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) thông suốt cho người dân, DN. Theo Trưởng phòng Nội vụ TP Thủ Dầu Một Lê Thị Minh Tâm, địa phương giảm đến mức thấp nhất số người làm việc tại Trung tâm Hành chính công (HCC) nhưng vẫn bố trí luân phiên từ bốn đến năm quầy, có đủ cán bộ, công chức để tiếp nhận hồ sơ, phối hợp cùng cán bộ, công chức làm việc tại nhà giải quyết ổn thỏa, đúng hạn các TTHC cho người dân, DN. Khuyến khích người dân, DN sử dụng dịch vụ HCC trực tuyến, đường bưu điện để nhận và trả kết quả; cán bộ, công chức linh động hướng dẫn, tư vấn, kiểm tra TTHC qua điện thoại, thư điện tử (email) trước khi người dân, DN đến giao dịch tại Trung tâm phục vụ HCC.
Tại tòa nhà Trung tâm Hành chính công của tỉnh, tất cả các TTHC đều thực hiện theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông và kết nối với cấp huyện, cấp xã để giải quyết nhanh, gọn những vấn đề liên quan. Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Bình Dương Mai Hùng Dũng cho biết: “Chúng tôi có phần mềm riêng biệt để kiểm tra, kiểm soát việc giải quyết TTHC của các sở, ngành, huyện, thị xã từ “đầu vào” cho đến kết quả thực hiện một cách công khai, minh bạch. Nhờ đó, kết quả giải quyết TTHC cho người dân, DN của các đơn vị, địa phương như thế nào đều được mọi người biết rõ; nếu chưa tốt, sẽ được chấn chỉnh, xử lý ngay”.
Ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết các TTHC cũng được TP Hồ Chí Minh chú trọng trong nhiều năm qua. Theo Sở Nội vụ thành phố, tính đến cuối tháng 3-2020, tổng số dịch vụ công trực tuyến trên địa bàn đạt 668 trong tổng số 1.786 TTHC, trong đó mức độ 3 hơn 430 thủ tục, mức độ 4 khoảng 230 thủ tục. Nhờ nền tảng này, các đơn vị, địa phương vừa thực hiện nghiêm việc cách ly xã hội để phòng, chống dịch Covid-19, vừa không ách tắc trong việc giải quyết hồ sơ TTHC cho người dân, DN.
Hiện, bình quân mỗi ngày, Sở Kế hoạch và Đầu tư TP Hồ Chí Minh nhận khoảng 1.500 hồ sơ đăng ký kinh doanh và đăng ký đầu tư qua mạng nhờ triển khai dịch vụ đăng ký kinh doanh tại nhà, trả kết quả qua bưu điện. Bình thường, để thực hiện ba thủ tục: Đăng ký thành lập DN, thông báo mẫu con dấu, đăng ký thông tin thuế cần ít nhất 12 ngày làm việc và sáu lần đi lại để hoàn thành, nhưng khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến thì thời gian hoàn tất các thủ tục trên giảm đến 88% so với quy định và nhận kết quả tại nhà qua bưu điện.
Tại quận Thủ Ðức (TP Hồ Chí Minh), các phường lập tổ phản ứng nhanh để tiếp nhận thông tin qua điện thoại, mail, ứng dụng zalo, cổng thông tin dịch vụ công trực tuyến rồi hướng dẫn người dân chuẩn bị hồ sơ cần thiết, sau đó đến tận nhà dân lấy hồ sơ và chuyển đến những bộ phận liên quan để xử lý một cách nhanh chóng nhất; kết quả được trả tận nhà cho người dân.
TP Biên Hòa (Đồng Nai) là đơn vị cấp huyện có quy mô dân số lớn nhất cả nước hiện nay với khoảng 1,2 triệu người nên lượng giải quyết TTHC hằng ngày rất lớn. Trong năm 2019, toàn thành phố tiếp nhận gần 73 nghìn hồ sơ, trong đó tỷ lệ giải quyết đúng hạn đạt hơn 93%. Hiện, TP Biên Hòa đã triển khai tiếp nhận và giải quyết TTHC thuộc thẩm quyền theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông với 49 lĩnh vực, 320 TTHC. Chủ tịch UBND thành phố Phạm Anh Dũng cho biết, chính quyền thành phố và các phường, xã thường xuyên tuyên truyền, khuyến khích người dân sử dụng dịch vụ bưu chính công ích trong tiếp nhận, trả kết quả giải quyết hồ sơ; đồng thời nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính của đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là tại bộ phận một cửa của thành phố và 30 phường, xã, nhằm bảo đảm tăng tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn và trước hạn.
Đời sống xã hội vận động, phát triển không ngừng, trong đó có không ít vấn đề bức xúc của người dân cần được giải quyết kịp thời, phù hợp. Thực tế ấy đòi hỏi từng cán bộ, công chức phải luôn gần dân, hiểu dân để phục vụ người dân ngày càng tốt hơn. Đó cũng là vấn đề mà lãnh đạo nhiều địa phương thường xuyên quan tâm chỉ đạo và kiểm tra, đôn đốc thực hiện.
Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Trương Thanh Phong cho biết, để kịp thời tiếp nhận và xử lý kiến nghị của người dân, DN ở mọi lĩnh vực, từ năm 2017, tỉnh đã hình thành, vận hành đường dây nóng “Lãnh đạo tỉnh”. Các kiến nghị của người dân được tiếp nhận sẽ chuyển đến các cơ quan, đơn vị liên quan giải quyết. Năm 2019, đường dây nóng “Lãnh đạo tỉnh” đã tiếp nhận 2.524 lượt thông tin và đã chuyển đến các cơ quan, đơn vị giải quyết kịp thời. Tỉnh còn thiết lập đường dây nóng CCHC tiếp nhận những kiến nghị của người dân, DN về những vướng mắc trong giải quyết TTHC. Năm 2019, đường dây nóng CCHC đã tiếp nhận và giải quyết 56 kiến nghị của người dân, DN. Các sở, ngành, địa phương của tỉnh đều công bố số điện thoại đường dây nóng của đơn vị để kịp thời tiếp nhận, giải quyết các kiến nghị thuộc thẩm quyền giải quyết.
Từ khi đi vào hoạt động, Trung tâm HCC tỉnh Bình Thuận tiếp nhận và giải quyết các TTHC thuộc lĩnh vực thủy sản từ Chi cục Thủy sản tỉnh. Trong quá trình thực hiện đã phát sinh khó khăn, trở ngại, tốn nhiều thời gian cho ngư dân. Trước thực tế này, tháng 8-2018, UBND tỉnh Bình Thuận chỉ đạo triển khai tiếp nhận hồ sơ của ngư dân trực tiếp tại các địa phương và giao bưu điện chuyển đến Trung tâm HCC tỉnh. Theo đó, ngư dân được quyền chọn nộp hồ sơ, nhận kết quả tại các địa bàn cơ sở, hoặc tại bưu điện địa phương. Trung tâm HCC tỉnh chuyển thủ tục cấp Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật tàu cá cho Trung tâm Đăng kiểm tàu cá (thuộc Chi cục Thủy sản) trực tiếp tiếp nhận, giải quyết hồ sơ và trả kết quả. Nhờ đó, việc hoàn tất giải quyết thủ tục này chỉ trong nửa buổi, chậm nhất là dưới ba ngày. Từ tháng 8-2018 đến nay, Trung tâm Đăng kiểm tàu cá đã thực hiện đăng kiểm, cấp Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật cho gần 6.000 tàu cá trong tỉnh.
Ông Nguyễn Tấn Nguyên, chủ tàu cá BTh 98289TS, công suất 827 CV ở thị xã La Gi (Bình Thuận) cho biết, việc nộp hồ sơ đăng kiểm trực tiếp cho Trung tâm Đăng kiểm tàu cá rất thuận lợi cho ngư dân; thời gian cấp Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật được rút ngắn nhiều, kinh phí giảm đáng kể, quan trọng hơn là giúp ngư dân chủ động được thời gian, ra khơi đánh bắt hải sản đạt hiệu quả cao... (Nhandan.com.vn 28/4, Lâm Bình Tuấn – Châu Vương Phong) Về đầu trang
Công tác kết nối Cơ chế một cửa quốc gia chuyển động tích cực
Công tác kết nối thủ tục hành chính (TTHC) tham gia Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) đã có chuyển biến tích cực. Trong tháng 4 đã có thêm 10 TTHC được kết nối, nâng tổng số TTHC của 13 bộ, ngành kết nối NSW lên con số 198.
“Công tác kết nối thủ tục hành chính (TTHC) tham gia Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) đã có chuyển biến tích cực sau khi Ủy ban Chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa ASEAN (ASW), NSW và tạo thuận lợi thương mại (Ủy ban 1899) có chỉ đạo các bộ, ngành tích cực vào cuộc (tại Thông báo 94/TB-VPCP), vào đầu tháng 3/2020. Trong tháng 4 đã có thêm 10 TTHC được kết nối, nâng tổng số TTHC của 13 bộ, ngành kết nối NSW lên con số 198…” - ông Vũ Văn Thành - Phó Trưởng phòng Vận hành NSW, ASW, Cục Công nghệ thông tin và thống kê, Tổng cục Hải quan cho biết.
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, tính đến 20/4, NSW đã có 198 TTHC của 13 bộ, ngành kết nối tham gia, với hơn 2,9 triệu hồ sơ của khoảng hơn 37.000 doanh nghiệp (DN) được tiếp nhận, giải quyết. Kết quả này đã tăng đáng kể so với thống kê tại thời điểm ngày 31/1/2020 là 188 TTHC của 13 bộ, ngành kết nối NSW, với hơn 2,8 triệu hồ sơ của hơn 35.000 DN.
Ông Vũ Văn Thành cho biết, số lượng 11 TTHC tăng thêm trong tháng 3 và 4 chủ yếu là của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) với 10 TTHC đang được chính thức triển khai.
Hiện nay, Tổng cục Hải quan chỉ đạo các cục hải quan tỉnh, thành phố hỗ trợ việc kết nối 9 TTHC của Bộ NN&PTNT, đã phân quyền cho cán bộ công chức hải quan (CBCC) sử dụng chức năng tra cứu kết quả xử lý của Bộ NN&PTNT đối với 9 TTHC mới trên Hệ thống E-Customs.
Lộ trình cụ thể, ngày 18/4 thực hiện kết nối 5 thủ tục, ngày 20/4, kết nối 2 thủ tục, ngày 25/4, triển khai 2 thủ tục. Các thủ tục này đều thuộc lĩnh vực thú y.
Tổng cục Hải quan cũng chỉ đạo CBCC các chi cục truy cập Hệ thống E-Customs để tra cứu, khai thác kết quả xử lý của Bộ NN&PTNT đối với các thủ tục và không yêu cầu DN nộp bản giấy với chứng từ đã được cấp thông qua NSW.
Ông Vũ Văn Thành cho biết thêm, trong quá trình triển khai, Bộ Tài chính, trực tiếp là Tổng cục Hải quan luôn phối hợp với các bộ, ngành, đơn vị liên quan tổ chức: 12 đợt tập huấn triển khai các thủ tục mới về công tác triển khai NSW và kiểm tra chuyên ngành (KTCN) trên Cổng thông tin NSW; tích cực hỗ trợ, hướng dẫn DN trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính thông qua NSW thông qua Bộ phận hỗ trợ thường trực (Helpdesk) của Tổng cục Hải quan; phối hợp với các bộ, ngành trong công tác hỗ trợ DN; xây dựng kế hoạch triển khai các TTHC mới thông qua NSW.
Trong quý II/2020, Tổng cục Hải quan tiếp tục phát triển hệ thống công nghệ thông tin phục vụ kết nối xử lý thông tin với các bộ, ngành tham gia NSW; đảm bảo Cổng thông tin NSW được hoạt động thông suốt, an ninh, an toàn. Hiện nay, cơ quan hải quan tiến hành xây dựng mới và đang trong quá trình kiểm thử đối với 22 TTHC mới của Bộ Quốc phòng, 6 thủ tục của Bộ Công thương tham gia NSW.
Theo Tổng cục Hải quan, mặc dù trong thời gian qua đã có chuyển biến trong việc kết nối NSW, các bộ, ngành còn phải tích cực rất nhiều để đáp ứng chỉ đạo của Chính phủ. Theo thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ tại phiên họp lần thứ 5 của Ủy ban 1899 (Thông báo số 292/TB-VPCP), năm 2019, các bộ, ngành phải hoàn thành triển khai 61 TTHC mới. Sau khi các bộ, ngành rà soát, đề xuất điều chỉnh số lượng triển khai giảm 10 thủ tục, như vậy, tổng số thủ tục phải triển khai năm 2019 là 51 thủ tục.
Với sự nỗ lực trong năm 2019 và từ đầu năm 2020 đến nay, các bộ đã triển khai chính thức và thực hiện kết nối 47/51 thủ tục, bằng 92,1% kế hoạch (trong đó triển khai chính thức được 15/51 thủ tục, chiếm 29,5%; đang kết nối và kiểm thử 36/51 thủ tục, chiếm 70,5%).
Về mục tiêu thúc đẩy NSW, Tổng cục Hải quan cho biết, ngành Hải quan đang bám sát để thực hiện nội dung tại Quyết định số 1254/QĐ-TTg và thông báo 94/TB-VPCP về kết luận, chỉ đạo của Ủy ban 1899 tại phiên họp lần 6 (ngày 6/2/2020).
Cụ thể, tại thông báo 94/TB-VPCP, Bộ Tài chính được Ủy ban 1899 chỉ đạo thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng, trong đó: khẩn trương xây dựng và hoàn thành nhiều đề án có tính đột phá trong triển khai NSW và đơn giản thủ tục KTCN, tạo thuận lợi thương mại.
Theo Tổng cục Hải quan, tính đến ngày 17/4/2019, tổng số C/O (chứng nhận xuất xứ hàng hóa) Việt Nam nhận từ các nước ASEAN là: 192.385. Tổng số C/O Việt Nam gửi sang các nước là: 224.213.
Hiện nay, Bộ Tài chính đã chỉ đạo Tổng cục Hải quan chuẩn bị các điều kiện kỹ thuật để sẵn sàng trao đổi thông tin tờ khai hải quan ASEAN (thí điểm với Indonesia và Thái Lan) và phối hợp với Bộ NN&PTNT chứng nhận kiểm dịch thực vật (thí điểm với Indonesia). Hiện đang phối hợp chuẩn bị thông điệp thử nghiệm và kiểm tra kết nối.
Bộ Tài chính được giao nhiệm vụ chủ trì phối hợp với các bộ, ngành đẩy nhanh tiến độ xây dựng và triển khai Đề án tổng thể về xây dựng và phát triển hệ thống công nghệ thông tin phục vụ triển khai NSW, ASW theo định hướng xử lý tập trung; xây dựng nghị định của Chính phủ về việc kết nối và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan chính phủ với các bên liên quan thông qua NSW trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa.
Bộ Tài chính cũng được giao chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các đơn vị liên quan để xây dựng căn cứ pháp lý cho triển khai Đề án thí điểm bảo lãnh thông quan và Đề án cải cách KTCN.
Đồng thời, Bộ Tài chính cùng các bộ, ngành tập trung nguồn lực và đẩy nhanh tiến độ thực hiện rà soát quy trình thủ tục, chỉ tiêu thông tin, phát triển hệ thống công nghệ thông tin và các giải pháp liên quan khác nhằm đảm bảo hoàn thành tiếp 36 TTHC trên NSW của năm 2019; đồng thời hoàn thành các TTHC cần triển khai trong năm 2020.
Ủy ban 1899 cũng lưu ý các bộ, ngành, cần được tiếp tục cải cách, đổi mới theo hướng tạo thuận lợi cho DN. Trong quá trình xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý và KTCN, đặc biệt là các nội dung liên quan đến kiểm tra nhà nước về hải quan, các bộ, ngành cần phối hợp chặt chẽ với cơ quan thường trực (Tổng cục Hải quan) để các văn bản có tính khả thi và đi vào cuộc sống, tránh tình trạng các văn bản quy phạm pháp luật chồng chéo, gây khó khăn cho người dân, DN và các cơ quan quản lý nhà nước.
Ủy ban 1899 cũng yêu cầu các bộ, ngành chủ động nghiên cứu và phối hợp với Bộ Tài chính đề xuất giải pháp về nghiệp vụ, kỹ thuật trong việc trao đổi thông tin chứng từ điện tử với các đối tác thương mại của Việt Nam. Bộ Công an khẩn trương phối hợp với Bộ Tài chính và các đơn vị liên quan để triển khai kết nối Hệ thống chuyên ngành của Bộ Công an với cổng thông tin NSW phục vụ thực hiện NSW đường hàng không theo quy định tại Nghị định số 85/2019/NĐ-CP quy định thực hiện TTHC thông qua NSW, ASW và KTCN đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu./. (Thoibaotaichinhvietnam.vn 27/4) Về đầu trang
Kho bạc Nhà nước cung cấp 04 dịch vụ công thuộc lĩnh vực kho bạc nhà nước trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia
Kho bạc Nhà nước (KBNN) Việt Nam vừa triển khai thành công việc tích hợp, cung cấp dịch vụ công (DVC) khai báo phiếu giao nhận hồ sơ giao dịch kiểm soát chi qua mạng và giao dịch một cửa với Kho bạc trên Cổng DVC quốc gia, đáp ứng 04 thủ tục hành chính có tần suất giao dịch với khối lượng lớn. Với 04 thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực KBNN trên, trung bình mỗi ngày, hệ thống DVC trực tuyến của KBNN sẽ tiếp nhận và xử lý khoảng gần 100 ghìn chứng từ và 50-60 nghìn hồ sơ.
Thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 1/1/2020 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021; chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 24/3/2020 về phê duyệt Danh mục DVC tích hợp, cung cấp trên Cổng DVC Quốc gia năm 2020; Quyết định số 274/QĐ-TTg ngày 12/3/2020 về phê duyệt nhiệm vụ lập quy hoạch bảo vệ môi trường thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, KBNN Việt Nam đã triển khai thành công việc tích hợp, cung cấp DVC khai báo phiếu giao nhận hồ sơ giao dịch kiểm soát chi qua mạng và giao dịch một cửa với Kho bạc trên Cổng DVC Quốc gia, đáp ứng 04 thủ tục hành chính có tần suất giao dịch với khối lượng lớn. Cụ thể gồm:
(1) Thủ tục kiểm soát, thanh toán chi phí quản lý dự án đầu tư của các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước (NSNN) qua KBNN;
(2) Thủ tục kiểm soát chi vốn nước ngoài qua KBNN;
(3) Thủ tục kiểm soát thanh toán vốn đầu tư thuộc nguồn vốn NSNN;
(4) Thủ tục kiểm soát thanh toán các khoản chi thường xuyên, chi sự nghiệp có tính chất thường xuyên, chi chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình mục tiêu sử dụng kinh phí sự nghiệp.
Với 04 thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực KBNN trên, trung bình mỗi ngày, hệ thống DVC trực tuyến của KBNN tiếp nhận và xử lý khoảng gần 100 nghìn chứng từ và 50-60 nghìn hồ sơ.
Việc tích hợp và cung cấp DVC trực tuyến thuộc lĩnh vực KBNN trên Cổng DVC Quốc gia không chỉ góp phần tăng tính minh bạch, cung cấp các thông tin liên quan về thủ tục hành chính, dữ liệu, cũng như tiến độ giải quyết xử lý hồ sơ; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ... mà còn tăng khả năng giám sát, kiểm tra, đánh giá của cá nhân, tổ chức và trách nhiệm của KBNN trong thực hiện nhiệm vụ. Qua đó, tạo sự thuận lợi, tiết kiệm thời gian, chi phí cho khách hàng và các đơn vị sử dụng ngân sách… đáp ứng được các chủ trương, định hướng chiến lược, các hạng mục nghiệp vụ theo cấu trúc hệ thống Chính phủ điện tử. (Tapchitaichinh.vn 27/4) Về đầu trang
Hà Nội: Các thủ tục cấp phép xây dựng đã giảm từ 5 - 29 ngày
Sau 2 năm thực hiện cơ chế rút ngắn thời gian thực hiện các thủ tục cấp phép xây dựng, một số thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực này tại các sở, ngành của Hà Nội đã giảm đáng kể.
UBND TP Hà Nội vừa có Báo cáo số 108/BC-UBND về tình hình và kết quả thực hiện Chỉ thị 08/CT-TTg, ngày 13/3/2018, của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực hiện các biện pháp nhằm rút ngắn thời gian cấp giấy phép xây dựng và các thủ tục liên quan.
Sau 2 năm thực hiện cơ chế rút ngắn thời gian thực hiện các thủ tục cấp phép xây dựng, một số thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực này tại các sở, ngành đã giảm theo chỉ đạo tại Chỉ thị 08/CT-TTg.
Tại Sở Xây dựng, tổng thời gian thực hiện thẩm định thiết kế xây dựng liên quan đến cấp phép và cấp giấy phép xây dựng giảm 29 ngày (theo Chỉ thị 08/CT-TTg là giảm 19 ngày).
Với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thời gian thẩm định thiết kế cơ sở dự án nhóm B còn 15 ngày (giảm 5 ngày), nhóm C còn 10 ngày (giảm 5 ngày); thời gian thẩm định báo cáo kinh tế kỹ thuật xây dựng công trình còn 15 ngày (giảm 5 ngày).
Với Sở Công Thương, thời gian thẩm định thiết kế cơ sở công trình điện lực dự án nhóm B còn 12 ngày (giảm 8 ngày), nhóm C còn 8 ngày (giảm 7 ngày) và giảm 5 ngày thời gian thẩm định thiết kế xây dựng đối với các công trình điện lực.
Trong khi đó, thời gian giải quyết cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện còn 20 ngày (giảm 10 ngày).
Với Sở Quy hoạch - Kiến trúc, một số thủ tục hành chính giảm 5 ngày giải quyết như: Thời gian thẩm định đồ án quy hoạch chi tiết các dự án đầu tư xây dựng công trình (còn 25 ngày), thời gian chấp thuận bản vẽ tổng mặt bằng và phương án kiến trúc của dự án, công trình (còn 20 ngày)... (Kinhtedothi.vn 27/4, Thùy Anh) Về đầu trang
VASEP “tố” thủ tục về mã số mã vạch "đánh đố" doanh nghiệp
Nhiều khi doanh nghiệp phải mất 20-30 ngày mới xuất khẩu được hàng vì thủ tục giấy tờ về mã số mã vạch trong khi thời hạn xuất của nhiều đơn hàng chưa đến 1 tuần.
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) vừa gửi công văn tới Thủ tướng và các bộ kiến nghị giải quyết vướng mắc trong quy định đăng ký sử dụng mã số mã vạch đối với hàng xuất khẩu quy định tại Nghị định số 74/2018/NĐ-CP.
VASEP kỳ vọng Thủ tướng và các Bộ sớm xem xét tháo gỡ bất cập nói trên nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh doanh nghiệp đang gặp khó khănp/do dịch bệnh Covid-19.
VASEP kỳ vọng Thủ tướng và các Bộ sớm xem xét tháo gỡ bất cập nói trên nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh doanh nghiệp đang gặp khó khăn do dịch bệnh COVID-19.
Từ đầu năm tới nay, Hiệp hội đã nhận được phản ánh của nhiều doanh nghiệp về bất cập liên quan đến lãnh đạo Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng, đã có công văn gửi Bộ Khoa học và Công nghệ (KHCN) và Tổng cục Hải quan.
Hiệp hội báo cáo: Theo Nghị định số 74/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018, doanh nghiệp sử dụng mã nước ngoài theo chuẩn của tổ chức mã số, mã vạch quốc tế GS1: Phải được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp hoặc được chủ sở hữu của mã nước ngoài ủy quyền sử dụng; Trường hợp được chủ sở hữu mã nước ngoài ủy quyền sử dụng, tổ chức phải thông báo với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để được xác nhận việc sử dụng mã nước ngoài.
Nhưng, các tỉnh không được giao quyền cấp giấy chứng nhận này, chỉ có một nơi cấp là Trung tâm MSMV Quốc gia (GS1) thuộc Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng đóng tại Hà Nội.
Để đăng ký sử dụng MSMV nước ngoài, Trung tâm MSMV Quốc gia yêu cầu doanh nghiệp nộp: Bản gốc thư ủy quyền của khách hàng ghi rõ thời hạn ủy quyền và hồ sơ chứng minh MSMV của khách được cơ quan thẩm quyền của nước họ chứng nhận kèm theo bảng dịch thuật tiếng Việt và biên lai đóng phí sử dụng MSMV hàng năm.
Trên thực tế, nhiều nước không có quy định này, không kiểm soát vấn đề MSMV trên bao bì hàng nhập khẩu, họ chỉ kiểm soát các quy định về ghi nhãn theo quy định pháp luật của họ. Cho nên, doanh nghiệp rất khó xin được thư ủy quyền và hồ sơ chứng minh được cơ quan thẩm quyền nước ngoài xác nhận. Một số doanh nghiệp có được thư này nhờ sự hỗ trợ của khách hàng nhưng cũng mất nhiều thời gian.
VASEP cho biết, việc đưa vấn đề MSMV vào Nghị định 74/2018/ND-CP là không có cơ sở pháp lý. Việc cấp giấy “Xác nhận sử dụng MSMV nước ngoài” hoàn toàn không có ý nghĩa thực tế đối với công tác quản lý nhà nước.
Hơn nữa, việc chỉ có một cơ quan duy nhất ở Hà Nội cấp Giấy xác nhận này cho tất cả các doanh nghiệp trong cả nước và thủ tục cấp được thực hiện hoàn toàn còn thủ công là không phù hợp với chủ trương của Chính phủ và xu hướng hiện nay về phân cấp quản lý, điện tử hóa thủ tục hành chính, gây tốn kém chi phí và thời gian cho doanh nghiệp”, VASEP nêu ý kiến.
Một thực tế là, quy định nói trên đang làm phát sinh thêm thủ tục hành chính và làm gia tăng chi phí cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp đang phải trả phí 500.000 đồng/lần đăng ký đối với hồ sơ có ít hơn hoặc bằng 50 mã sản phẩm hoặc 10.000 đồng/sản phẩm đối với hồ sơ có trên 50 mã sản phẩm chưa kể đến các chi phí khác như chi phí cho việc lưu kho bãi, chi phí lãi vay ngân hàng,... Với số lượng lớn các sản phẩm xuất khẩu hiện nay của Việt Nam, tổng chi phí của các doanh nghiệp phải chi trả cho việc xin Giấy xác nhận đăng ký sử dụng MSMV nước ngoài trên nhãn cho các lô hàng xuất khẩu là một con số không nhỏ.
Từ thực tế trên, VASEP kiến nghị Chính phủ xem xét bãi bỏ Khoản 9 Điều 1 của Nghị định 74/2018/NĐ-CP về “bổ sung Mục 7 “Mã số mã vạch và quản lý mã số mã vạch” của Chương II “Quản lý nhà nước về mã số, mã vạch” và bổ sung Điều 19a, 19b, 19c, 19d trong Mục 7”.
Trong khi chờ Chính phủ xem xét, bãi bỏ Khoản 9 Điều 1 của Nghị định 74/2018/NĐ-CP, kính đề nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo tạm dừng thực hiện nội dung quy định về ”sử dụng mã nước ngoài” tại tiết 2 điều 19b) và điều 19d) - Mục 7) thuộc Khoản 9 Điều 1 Nghị định 74/2018/NĐ-CP.
Được biết, để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp thuỷ sản xuất khẩu hàng hoá, sau khi nhận được kiến nghị của VASEP, ngày 10/4/2020, Tổng cục Hải quan có văn bản chỉ đạo khi làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, công chức hải quan không yêu cầu người khai hải quan phải xuất trình văn bản xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc sử dụng mã số mã vạch nước ngoài. Người khai hải quan chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc sử dụng mã số mã vạch của nước ngoài in trên hàng hóa, bao bì sản phẩm xuất khẩu.
Tiếp đó, ngày 16/4/2020, Tổng cục Hải quan có văn bản chỉ đạo xử lý vi phạm về sử dụng MSMV đối với hàng hóa xuất khẩu, trong đó yêu cầu “trường hợp công chức hải quan phát hiện dấu hiệu vi phạm về sử dụng MSMV của nước ngoài theo chuẩn của tổ chức mã số mã vạch quốc tế GS1 thì kiểm tra thực tế hàng hóa và yêu cầu doanh nghiệp xuất trình ủy quyền sử dụng của chủ sở hữu mã số mã vạch nước ngoài hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp để kiểm tra.
Căn cứ kết quả kiểm tra nếu xác định doanh nghiệp vi phạm quy định về sử dụng mã số, mã vạch theo Khoản 2 Điều 19b Nghị dịnh 74/2018/NĐ-CP thì xử lý theo điểm a, khoản 3 Điều 32 Nghị định 119/2017/NĐ-CP. (Enternews.vn 27/4, Huyền Trang) Về đầu trang
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
Thiếu tiêu chuẩn vẫn được bổ nhiệm
Mặc dù thiếu đến 3 điều kiện, tiêu chuẩn chức danh theo quy định, nhưng ông Nguyễn Ngọc Tùng vẫn được bổ nhiệm giữ chức Phó Giám đốc Sở Y tế Lạng Sơn khiến cho dư luận địa phương rất bức xúc.
Theo tài liệu thanh tra của Thanh tra Bộ Nội vụ công bố gần đây, thời gian qua, tỉnh Lạng Sơn bổ nhiệm hàng loạt giám đốc, phó giám đốc các sở khi thiếu một, hoặc một số điều kiện, tiêu chuẩn chức danh. Trong đó, đáng chú ý nhất là trường hợp ông Nguyễn Ngọc Tùng, Phó Giám đốc Sở Y tế Lạng Sơn. Tại thời điểm bổ nhiệm làm Phó Giám đốc Sở Y tế, ông Nguyễn Ngọc Tùng còn thiếu Chứng chỉ ngoại ngữ và Chứng chỉ nghiệp vụ quản lý dành cho lãnh đạo sở. Ngoài ra, ông Tùng cũng giữ ngạch thấp hơn so với ngạch công chức theo quy định của bộ chuyên ngành.
Trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Ngọc Tùng cho biết, nội dung nêu trên là đúng. Ông Tùng cho biết, trước khi được bổ nhiệm, ông Tùng giữ chức vụ Chi cục trưởng Chi cục Vệ sinh an toàn Thực phẩm tỉnh Lạng Sơn.
Trước câu hỏi, thời điểm được bổ nhiệm ông có biết mình thiếu tiêu chuẩn, điều kiện để bổ nhiệm hay không thì ông Tùng cho rằng: “Tôi không nắm được. Công tác bổ nhiệm là do tổ chức của Sở thực hiện. Tôi chỉ cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến quá trình bổ nhiệm, cơ quan yêu cầu gì thì tôi cung cấp cái đấy. Lúc đó tôi cũng không xin được bổ nhiệm Phó Giám đốc Sở.”
Để làm rõ hơn vấn đề bổ nhiệm ông Nguyễn Ngọc Tùng làm Phó Giám đốc Sở Y tế Lạng Sơn khi thiếu nhiều tiêu chuẩn điều kiện, phóng viên đã đặt lịch làm việc qua Chánh Văn phòng Sở Y tế, tuy nhiên thời gian dài trôi qua, phóng viên không nhận được phản hồi gì từ Sở Y tế Lạng Sơn. Cũng theo tài liệu thanh tra, ngoài việc ông Nguyễn Ngọc Tùng được bổ nhiệm khi thiếu tiêu chuẩn, tại Sở Y tế Lạng Sơn còn có ông Nguyễn Thế Toàn (Giám đốc Sở Y tế), khi được bổ nhiệm làm Giám đốc Sở Y tế Lạng Sơn, ông Toàn cũng thiếu chứng chỉ nghiệp vụ quản lý dành cho lãnh đạo Sở.
Với một Sở chuyên ngành Y tế liên quan trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của nhân dân mà cả Giám đốc, Phó Giám đốc Sở được bổ nhiệm khi thiếu điều kiện, tiêu chuẩn càng khiến nhân dân băn khoăn. (Daidoanket.vn 28/4, Đức Sơn) Về đầu trang
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Lựa chọn cán bộ có bản lĩnh chính trị, có trí tuệ, tầm nhìn
Dư luận xã hội đặc biệt quan tâm và hoan nghênh bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị cán bộ toàn quốc, tập trung đề cập công tác nhân sự chuẩn bị cho Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, vừa được diễn ra tại Hà Nội ngày 23-4 vừa qua.
Thật ra, nhìn lại hệ thống và tổng quát, những vấn đề lớn về công tác nhân sự Đại hội toàn quốc lần thứ XIII, Ban Chấp hành T.Ư, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XII đã có nhiều Chỉ thị, Quy định, đặc biệt từ Nghị quyết T.Ư 4 khóa XI, đến Nghị quyết T.Ư 4 khóa XII đề cập công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã có những bài phát biểu quan trọng, phân tích cụ thể, sâu sắc những quan điểm chỉ đạo có tầm chiến lược trong các văn bản đó về công tác cán bộ - vấn đề “then chốt của then chốt”.
Từ thực tiễn 35 năm tiến hành công tác đổi mới và sau 20 năm thực hiện Nghị quyết T.Ư 3 (khóa VIII) về chiến lược cán bộ, nhất là từ tình hình triển khai công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng từ Hội nghị T.Ư 4 khóa XI đến nay; từ yêu cầu tình hình trong nước và quốc tế hiện tại, bài phát biểu lần này đã gợi mở sâu thêm cách nhìn nhận mới, cụ thể hóa thêm những nội hàm của những tiêu chí khi xây dựng một Ban Chấp hành T.Ư cũng như Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa mới này. Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nhấn mạnh: “Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII phải thật sự là những đồng chí tiêu biểu của Đảng về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực công tác… Nói tóm lại là phải vừa có Đức vừa có Tài, trong đó Đức là gốc (“chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài”). Kiên quyết không bỏ sót những người thật sự có đức có tài, đủ tiêu chuẩn”… Như vậy, một lần nữa, đồng chí Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh mối quan hệ đức - tài, nhưng trên cơ sở phải bảo đảm đủ các tiêu chuẩn cụ thể nhằm vừa không bỏ sót người có đức - tài, vừa không để lọt vào Ban Chấp hành T.Ư những người có sáu biểu hiện vi phạm những nguyên tắc cụ thể.
Đáng chú ý, có một điểm rất quan trọng trong bài phát biểu này là, có không dưới 10 lần, đồng chí Nguyễn Phú Trọng đề cập yếu tố bản lĩnh chính trị của cán bộ cả ở góc độ xây và chống trong công tác lựa chọn, quy hoạch, đề bạt, giới thiệu tham gia Ban Chấp hành T.Ư. Bản lĩnh chính trị, trước hết thể hiện ở sự kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; trung thành tuyệt đối với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước và lợi ích quốc gia - dân tộc. Đó là sự nắm bắt nhanh nhạy và phản ánh trung thực với Đảng về tâm tư, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân. Đó là việc dũng cảm bày tỏ chính kiến của mình khi bàn về đường lối hoặc các chủ trương cụ thể, kiên quyết bảo vệ cái đúng, phê phán cái sai. Đó là tinh thần tiên phong, dám chịu trách nhiệm khi chỉ đạo triển khai công tác ở lĩnh vực được Đảng phân công phụ trách. Đó là ý thức tôn trọng và cầu thị, lắng nghe ý kiến của cấp dưới (dù có ý kiến nói ngược hoặc phê phán mình), nhưng sau đó biết lựa chọn, cân nhắc, tiếp thu để hoàn thiện chủ trương và cách thức chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác… Tóm lại, những vấn đề nêu trên cũng là sự biểu hiện cụ thể của phẩm chất đạo đức, của đức - tài; và ở góc độ xem xét, đề cử cán bộ, cũng là căn cứ để đánh giá trí tuệ, tầm nhìn của người được lựa chọn, giới thiệu tham gia Ban Chấp hành T.Ư, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII này.
Thiết nghĩ, nếu thống nhất nhận thức đúng những vấn đề về công tác nhân sự nêu trên, mỗi tổ chức đảng ở ban, bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị… sẽ thực hiện tốt những ý kiến chỉ đạo toàn diện và sâu sắc của người đứng đầu Đảng, Nhà nước tại Hội nghị cán bộ toàn quốc vừa qua. (Nhandan.com.vn 28/4, Hồng Vinh) Về đầu trang./.