Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin cải cách hành chính ngày 10/3/2021
1. Hồ sơ cư trú phải được quản lý tập trung, thống nhất
2. Xây dựng chính sách vay nợ nước ngoài cần lộ trình dài hơi, thận trọng
3. Kho bạc Bến Tre đẩy mạnh cải cách thu, chi ngân sách
4. ATM quận 6: “Cây” hành chính văn minh
5. Cục Thuế Khánh Hòa: Kịp thời hỗ trợ doanh nghiệp giúp ổn định nguồn thu ngân sách
6. Hòa Bình giao chỉ tiêu hồ sơ giải quyết trực tuyến mức 3, 4 cho các đơn vị
7. Quyết toán thuế trực tuyến: Tiết kiệm thời gian, giảm chi phí
8. Sử dụng mạng xã hội để giải quyết thủ tục hành chính: Bước đi hiệu quả
9. Hải quan sử dụng Zalo hỗ trợ DN vùng dịch xuất khẩu
10. TP.HCM: Đề xuất đầu tư 1.400 tỷ đồng nâng cấp cơ sở vật chất, dữ liệu quản lý đất đai
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
11. “Chiếc áo” bằng cấp, chứng chỉ không làm nên một viên chức giỏi
12. Ai Cập lên kế hoạch khánh thành thủ đô hành chính mới
CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH
Hồ sơ cư trú phải được quản lý tập trung, thống nhất
Bộ Công an đang dự thảo Thông tư quy định về công tác tàng thư hồ sơ cư trú; trong đó quy định cụ thể về nguyên tắc, phương pháp lập, sắp xếp, cập nhật, điều chỉnh, chuyển giao, quản lý, khai thác, sử dụng và bảo quản tàng thư hồ sơ cư trú, ứng dụng khoa học kỹ thuật trong công tác tàng thư hồ sơ cư trú.
Dự thảo quy định, tàng thư hồ sơ cư trú là nơi lưu trữ hồ sơ cư trú được quản lý theo quy định của pháp luật về lưu trữ, Thông tư này và các quy định khác của Bộ Công an.
Hồ sơ cư trú là tập hợp những giấy tờ, tài liệu phản ánh thông tin về từng cá nhân, từng hộ gia đình được thu thập, cập nhật thông qua công tác đăng ký, quản lý cư trú (đăng ký thường trú, xoá đăng ký thường trú, tách hộ, điều chỉnh thông tin về cư trú trong Cơ sở dữ liệu về cư trú, hủy bỏ đăng ký thường trú) và các công tác nghiệp vụ của lực lượng Công an nhân dân.
Hồ sơ cư trú được lưu trữ, bảo quản theo thời hạn quy định tại Thông tư số 60/2020/TT-BCA ngày 16/6/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chế độ hồ sơ nghiệp vụ trong lực lượng Công an nhân dân.
Tàng thư hồ sơ cư trú do Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương lập, quản lý và bảo quản theo quy định.
Mỗi hộ gia đình, cá nhân đã đăng ký thường trú thì lập một hồ sơ cư trú. Thông tin của từng cá nhân, hộ gia đình phải được cập nhật kịp thời, đầy đủ, chính xác vào hồ sơ cư trú, bảo đảm phản ánh được sự thay đổi, biến động về cư trú của từng cá nhân, hộ gia đình.
Dự thảo yêu cầu hồ sơ cư trú phải được quản lý tập trung, thống nhất trong tàng thư hồ sơ cư trú và phải được bảo đảm an toàn về phòng cháy, chữa cháy.
Việc sắp xếp hồ sơ trong tàng thư hồ sơ cư trú phải gọn gàng, khoa học, thuận tiện cho việc tra cứu, khai thác.
Hồ sơ cư trú phải được cập nhật thông tin kịp thời, chính xác, đầy đủ và được bảo vệ tuyệt đối an toàn; duy trì khai thác, sử dụng hiệu quả.
Việc quản lý, sử dụng và khai thác tàng thư hồ sơ cư trú phải đúng mục đích. Thông tin, tài liệu trong hồ sơ cư trú chỉ được khai thác, sử dụng phục vụ cho công tác đăng ký, quản lý cư trú, công tác nghiệp vụ của ngành Công an, yêu cầu hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật và của Bộ Công an.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tàng thư hồ sơ cư trú phải đảm bảo đúng quy định của pháp luật về lưu trữ, bảo đảm tính công khai, minh bạch, an ninh, an toàn, tiết kiệm và có hiệu quả; việc cung cấp, trao đổi thông tin phải phù hợp với quy định pháp luật về cư trú, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú và yêu cầu cải cách hành chính. (Baochinhphu.vn 09/3) Về đầu trang
Xây dựng chính sách vay nợ nước ngoài cần lộ trình dài hơi, thận trọng
Việt Nam quản lý hiệu quả nguồn vốn vay nước ngoài. Tuy nhiên trong bối cảnh mới, các cơ quan quản lý cần tiếp tục nghiên cứu, cập nhật kiến thức, kinh nghiệm quốc tế để xây dựng chính sách, công cụ quản lý nợ nước ngoài của quốc gia cho phù hợp.
Theo ông Võ Hữu Hiển - Phó Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính), việc quản lý hiệu quả vay nợ nước ngoài đã đưa Việt Nam từ một nước nghèo và mắc nợ trầm trọng trở thành một nước được các tổ chức quốc tế đánh giá là có mức nợ nước ngoài trong tầm kiểm soát và không nằm trong nhóm các nước có gánh nặng về nợ. Các nguồn vốn nước ngoài đã tạo điều kiện khai thông quan hệ tài chính - tín dụng với các tổ chức quốc tế và chính phủ nước ngoài.
Theo đánh giá của Bộ Tài chính, chỉ tiêu trần nợ quốc gia so với GDP cuối năm 2020 được duy trì trong giới hạn an toàn được Quốc hội phê chuẩn, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia. Tỷ trọng nợ nước ngoài của khu vực công (nợ chính phủ và nợ chính phủ bảo lãnh) có xu hướng giảm nhanh trong cơ cấu nợ nước ngoài quốc gia, từ 73,6% năm 2010 xuống còn 63,4% năm 2015 và 43,7% năm 2020. Tốc độ tăng dư nợ nước ngoài của khu vực công cũng được kiểm soát chặt chẽ, từ mức trung bình 13%/năm giai đoạn 2011 - 2015 giảm xuống còn khoảng 3%/năm giai đoạn 2016 – 2020, góp phần bồi đắp dư địa chính sách, kiềm chế nghĩa vụ nợ trực tiếp và dự phòng của ngân sách nhà nước.
Bên cạnh đó, vay nước ngoài của Chính phủ vẫn chủ yếu là các khoản ODA, vay ưu đãi (chiếm 98% nợ nước ngoài của Chính phủ). Đến nay Việt Nam đã ký kết trên 85 tỷ USD vốn ODA, vốn vay ưu đãi; điều kiện vay tương đối thuận lợi, thời gian đáo hạn bình quân 13,8 năm, lãi suất bình quân gia quyền 1,35%/năm.
Đến hết năm 2020, Chính phủ đã cấp bảo lãnh vay nước ngoài với tổng trị giá 23,6 tỷ USD cho trên 120 dự án.
Theo bà Nguyễn Thị Hải An – Vụ Quản lý ngoại hối, Ngân hàng Nhà nước, hoạt động vay nước ngoài của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng trong nước theo phương thức tự vay, tự trả. Với phương thức này đã góp phần thu hút nguồn lực nước ngoài để đáp ứng nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, tạo động lực cho hoạt động đầu tư, kinh doanh của các thành phần kinh tế, đóng góp quan trọng trong phục vụ mục tiêu tăng trưởng và xuất nhập khẩu.
Trong giai đoạn 2016 - 2020, mức vay nợ nước ngoài tự vay, tự trả của Việt Nam vẫn trong khuôn khổ an toàn nợ nước ngoài của quốc gia và có đóng góp quan trọng đối với việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao của Việt Nam.
Cũng theo bà An, khối doanh nghiệp FDI luôn chiếm ưu thế trong hoạt động vay nợ nước ngoài tự vay, tự trả. Khối doanh nghiệp tư nhân khác của Việt Nam cũng ngày một năng động và cải thiện độ tín nhiệm, mở rộng khả năng huy động vốn trên thị trường quốc tế. Hệ thống tổ chức tín dụng có mức vay nước ngoài tương đối thấp và ổn định, một mặt vẫn duy trì các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng, mặt khác bổ sung nguồn vốn ngoại tệ đảm bảo thanh khoản và nguồn vốn hỗ trợ tăng trưởng tín dụng…
Đại diện Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết, so với nhóm các nước trong khu vực, tình hình nợ nước ngoài tự vay, tự trả của Việt Nam vẫn ở mức trung bình, một phần phản ánh cơ cấu nguồn vốn trong nền kinh tế, trong đó vốn vay nước ngoài vẫn đóng vai trò quan trọng.
Theo các chuyên gia của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đã trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp, các thành phần kinh tế, bao gồm cả Chính phủ lẫn khu vực tư nhân, đã có khả năng tiếp cận vay nước ngoài theo điều kiện thị trường. Tuy nhiên, các cơ quan quản lý cần tiếp tục nghiên cứu, cập nhật kiến thức, kinh nghiệm quốc tế để xây dựng chính sách, công cụ quản lý nợ nước ngoài của quốc gia cho phù hợp hơn với tính năng động của công tác vay nợ trong tình hình mới.
Các khuyến nghị của các tổ chức quốc tế như IMF, ADB, WB,… đều theo hướng việc xây dựng chính sách về vay nợ nước ngoài cần có một lộ trình dài hơi, một khung chính sách thận trọng đối với việc tự do hóa dòng vốn vay nước ngoài.
Theo khuyến nghị của ông Gurmain Kaur Pasricha - chuyên gia IMF, việc cải cách cơ chế nợ nước ngoài cần soạn thảo và công bố kế hoạch tự do hóa dòng vốn. Cải cách cơ chế quản lý nợ nước ngoài cần chú ý các nội dung chính như: Loại bỏ khu vực tư nhân ra khỏi mức trần trung hạn; ban hành các công cụ thay thế để quản lý vay nước ngoài; đơn giản hóa thủ tục hành chính, đảm bảo tính đồng bộ trong các quy định về vay vốn và phát hành chứng khoán ở nước ngoài, phân tích dữ liệu định kỳ để xác định ra những xu hướng bất lợi nhằm điều chỉnh chính sách...
Còn theo bà Nguyễn Thị Hải An, việc đánh giá rủi ro các khoản vay nước ngoài tự vay, tự trả cần dựa trên phân loại đặc thù của khoản vay, đặc điểm của bên đi vay, thời hạn khoản vay...
Nêu quan điểm về vấn đề này, ông Nguyễn Minh Cường – Chuyên gia kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam khuyến nghị, không áp dụng mức trần cứng đối với chỉ tiêu dư nợ và trả nợ nước ngoài của quốc gia, chỉ đề ra mức trần nợ nước ngoài trong tổng dư nợ công; có thể ưu tiên đối với trung hạn và dài hạn, siết lại quản lý dòng vốn ngắn hạn. (Thoibaotaichinhvietnam.vn 10/3) Về đầu trang
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Kho bạc Bến Tre đẩy mạnh cải cách thu, chi ngân sách
Nhờ chú trọng đẩy mạnh công tác cải cách hành chính trong thu, chi ngân sách nhà nước, Kho bạc Nhà nước Bến Tre vừa giảm được áp lực công việc cho công chức, vừa tạo thuận lợi cho các đơn vị sử dụng ngân sách.
Ông Cao Cự Nhâm - Giám đốc Kho bạc Nhà nước (KBNN) Bến Tre cho biết, do đặc thù điều kiện tự nhiên và xã hội, Bến Tre là địa phương có địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi dày đặc, tốc độ đô thị hóa chậm. Do đó, KBNN Bến Tre luôn chú trọng tới công tác cải cách hành chính để mang lại nhiều thuận lợi nhất cho các đơn vị giao dịch vốn đi lại khó khăn.
Đơn cử như việc triển khai dịch vụ công trực tuyến (DVCTT). Theo kế hoạch của KBNN, chậm nhất đến ngày 31/10/2020, các địa phương phải hoàn thành triển khai DVCTT đối với 100% đơn vị sử dụng ngân sách (SDNS) thuộc diện bắt buộc trên địa bàn. Tuy nhiên, trong năm 2020, dịch bệnh Covid-19 có nhiều diễn biến phức tạp, tỉnh Bến Tre thực hiện cách ly 1 xã và thực hiện giãn cách xã hội toàn tỉnh, do đó việc triển khai này đã bị chậm lại.
Khắc phục khó khăn này, KBNN Bến Tre đã có cách làm riêng. Theo đó, thay vì chỉ tiến hành triển khai, hướng dẫn trực tiếp tại từng đơn vị SDNS, KBNN Bến Tre đã chủ động phối hợp với các đơn vị liên quan thực hiện cài đặt, hướng dẫn, hỗ trợ sử dụng DVCTT qua điện thoại; video chat và các mạng xã hội… để kịp thời ghi nhận, hướng dẫn giải quyết các khó khăn vướng mắc của các đơn vị KBNN huyện.
“Với cách làm sáng tạo, tận dụng triệt để các kênh thông tin liên lạc và mạng xã hội để khắc phục những trở ngại do dịch bệnh, đến hết thàng 10/2020, KBNN Bến Tre đã triển khai DVCTT tới tất cả các đơn vị SDNS thuộc đối tượng bắt buộc phải triển khai. Tỷ lệ giao dịch qua DVCTT đạt 100% và trở thành 1 trong 4 KBNN tỉnh, thành phố hoàn thành kế hoạch triển khai DVCTT trước 2 tháng so với kế hoạch” - ông Nhâm chia sẻ.
Ngoài ra, để tạo thuận lợi trong công tác thu nộp ngân sách nhà nước (NSNN), KBNN Bến Tre đa dạng hóa các phương thức thu, nộp. Trong năm 2020, đơn vị chủ động tăng cường kết nối, trao đổi dữ liệu thu NSNN điện tử giữa các cơ quan KBNN – ngân hàng thương mại (NHTM) - cơ quan thu, áp dụng nhiều hình thức thu nộp NSNN hiện đại giúp giảm thời gian đi lại, chi phí cho người nộp thuế, nộp phạt, đồng thời tập trung nhanh được nguồn thu cho NSNN. Đặc biệt, việc phối hợp thu còn giúp cho KBNN Bến Tre đẩy mạnh được việc thanh toán không dùng tiền mặt, giúp cho lượng tiền mặt giao dịch tại đơn vị chỉ còn chiếm tỷ lệ rất nhỏ.
Kết quả cải cách hành chính, nâng cao chất lượng quản lý thu - chi NSNN mà điểm nhấn là triển khai, duy trì hoạt động giao dịch qua hệ thống DVCTT tại KBNN Bến Tre có tác động lan tỏa tích cực đến các cấp, các ngành giúp nâng cao uy tín, vị thế của đơn vị tại địa phương.
Qua khảo sát, đánh giá, mức độ hài lòng của khách hàng đối với hoạt động giao dịch tại đơn vị đã tăng lên rõ rệt, tỷ lệ hài lòng cao, đạt trên 80% và chưa có phản ánh về sự không hài lòng của khách hàng đối với việc thực thi công vụ của công chức KBNN Bến Tre. Theo Giám đốc KBNN Bến Tre, đây là tín hiệu đáng mừng góp phần cải thiện chỉ số cải cách hành chính (PAR index) của địa phương, tạo sức hút đầu tư vào tỉnh Bến Tre, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Để tiếp tục tạo mọi thuận lợi cho đơn vị SDNS và giảm áp lực công việc trong toàn đơn vị, ngoài thực hiện những cải cách của KBNN, KBNN Bến Tre đang tích cực thực hiện các nhiệm vụ cải cách do UBND tỉnh đưa ra. Theo đó, trong năm 2021, KBNN Bến Tre mở rộng phạm vi phối hợp thu qua các NHTM, mở bổ sung tài khoản chuyên thu để kịp thời tập trung các khoản thu vào NSNN giúp giảm thu tiền mặt qua KBNN; tăng cường thanh toán không dùng tiền mặt, thực hiện giảm giao dịch chi tiền mặt tại KBNN tỉnh, huyện xuống mức không quá 20 triệu đồng/giao dịch; triển khai thí điểm hình thức thanh toán chi ngân sách qua thẻ chi tiêu công đối với các đơn vị SDNS trên địa bàn đang giao dịch với KBNN tỉnh; triển khai quy trình thanh toán tự động tiền điện thoại, Internet, tiền điện theo văn bản ủy quyền của đơn vị SDNS...
KBNN Bến Tre đang nỗ lực thực hiện tốt các bước cải cách đã đề ra. Theo ông Cao Cự Nhâm, với các cải cách này, KBNN Bến Tre đang cùng với cả hệ thống các cơ quan tài chính trên địa bàn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tạo sức hút đầu tư vào tỉnh. Cũng với những bước cải cách cụ thể, tỉnh Bến Tre đang kỳ vọng đến năm 2025, chỉ số cải cách hành chính (PAR index) của tỉnh sẽ xếp thứ 20/63 so với các tỉnh, thành phố trên cả nước như mục tiêu Đảng bộ, chính quyền địa phương đã đề ra. (Thoibaotaichinhvietnam.vn 10/3) Về đầu trang
ATM quận 6: “Cây” hành chính văn minh
Tại UBND quận 6, TPHCM, mới hôm qua 8/3/2021 đã xuất hiện một cây “ATM” mới toanh, có điều nó không nhả ra tiền mà nhả ra các loại hồ sơ hành chính, liên tục phục vụ 24/7.
Hệ thống tự động hiện cung cấp 5 thủ tục hành chính gồm: Đăng ký thành lập hộ kinh doanh; Cấp lại giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Tạm dừng hoạt động hộ kinh doanh; Cấp lại giấy phép xây dựng; Cung cấp thông tin quy hoạch xây dựng.
Công suất hệ thống hoàn thành khoảng 2.000 hồ sơ/năm, trả 8 thủ tục hành chính dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, có công suất khoảng 400 hồ sơ/năm. Giao diện thiết kế trụ hồ sơ tự động cũng đơn giản và thân thiện: Ngăn để bìa hồ sơ; Cửa thu phí; Ngăn nộp hồ sơ; Ngăn trả hồ sơ; Cửa trả giấy biên nhận; Màn hình cảm ứng tương tác cùng các tờ Hướng dẫn thao tác được dán ngay trên trụ.
Tôi đã theo dõi những khách hàng đầu tiên sử dụng dịch vụ qua màn hình, thấy quá dễ dàng và nhanh chóng. Nhớ lại ngày từ mặt trận về Hà Nội, đến các nơi làm thủ tục hành chính để làm chế độ chuyển ngành, tôi đã vấp phải một rào cản vô hình với đủ các đòi hỏi nhiêu khê, chỗ nọ đổ cho chỗ kia mà không biết hỏi ai. Đi đi lại lại, thiếu nọ thiếu kia, khổ còn hơn đi điều nghiên trinh sát địch, làm lắm khi tôi nổi nóng, mất bình tĩnh.
Không chỉ riêng cá nhân tôi, mà nhiều, rất nhiều những người khác đều kêu ca công tác hành chính quan liêu cửa quyền, lạc hậu trì trệ ngày đó, đến mức dân tình định nghĩa vui: Hành chính – nghĩa là hành là chính. Cũng từ đây các câu thành ngữ dân gian mô tả thực trạng xã hội khi phải đi làm thủ tục, xin xỏ các giấy phép sinh nhai được lưu truyền rộng rãi: “Sông Cầu là đầu câu chuyện”, “Du Lịch thì xích lại đây”, “Ba số năm vừa nằm vừa ký”…
Đầu tiên chỉ là các điếu, các bao thuốc lá, sau dần là các phong bao phong bì lót tay như một sự hiển nhiên. Không có phong bao thì một số cán bộ nhân viên hành chính nại ra các lý do gây phiền nhiễu khó khăn, nhằm thu lợi lộc bù cho khoản lương còm, hay đơn giản hơn, là để chứng tỏ cho cái “quyền uy”, sự “gia ân” của mình khi được ủy thác “giải quyết hộ” công ăn việc làm của những người khác.
“Đi làm gì cũng phải phong bao phong bì, lót tay, gợi ý. Tham nhũng vặt như ghẻ ruồi, rất ngứa ngáy, khó chịu”, như ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã từng phàn nàn. Có thể tiền bạc mất mát chi phí không nhiều nhưng nó gây một hậu quả lớn là sự mất lòng tin về lớp cán bộ công quyền trong hệ thống.
Cùng với sự kêu gọi chuyển đổi Chính phủ điện tử 4.0, cây “Hồ sơ tự động” tiên phong của Quận 6, TP.HCM đã xuất hiện như một sự đáp ứng kịp thời, dù vẫn đang trong giai đoạn chạy thử nghiệm. Khách giao dịch cùng người thụ lý hồ sơ giao tiếp gián tiếp. Túi hồ sơ như một bài thi đã rọc phách, màu vàng cam và bình đẳng với các túi hồ sơ khác. Chẳng ai có thể dúi phong bao cho một cái trụ xanh tuy bắt mắt nhưng lại lạnh lùng. Cũng chẳng cán bộ thụ lý hồ sơ nào nhìn thấy khách giao dịch để “họa người dưng nhớ khuôn mặt bắt hình dong” (Ca khúc Sắc Màu - Trần Tiến).
Thêm một ưu điểm của cây trụ hồ sơ tự động, là sẽ hoạt động 24/7 không cần ngơi nghỉ. Từ nay khỏi cảnh chen chúc xếp hàng nơi công cộng. Khi mùa dịch Covid -19 đang hoành hành khắp nơi trên thế giới, việc này có ý nghĩa rất lớn. Nó giúp giãn cách xã hội được đảm bảo, từ đó giảm thiểu khả năng lây lan bệnh dịch. Trên bệ giao dịch cây hồ sơ tự động nên đặt một hộp cồn sát khuẩn, một hộp khăn giấy nữa sẽ là hoàn chỉnh hơn.
Cuối cùng, tôi muốn gọi nó là cây “APM” (Automatic Profile Machine) chứ không phải là cây “ATM” như một số tờ báo đang gọi, muốn nó như một hệ thống VAR khách quan chính hiệu, không phải cho các trọng tài bóng đá mà cho một hệ thống hành chính Việt Nam đang cố gắng bắt kịp thế giới, chuyển đổi văn minh. (Vietnamnet.vn 09/3) Về đầu trang
Cục Thuế Khánh Hòa: Kịp thời hỗ trợ doanh nghiệp giúp ổn định nguồn thu ngân sách
Trong bối cảnh doanh nghiệp còn khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh, Cục Thuế Khánh Hòa đã và đang tập trung hỗ trợ, tiếp sức cho doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh, ổn định nguồn thu ngân sách.
Báo cáo của Cục Thuế Khánh Hòa cho biết, lũy kế 2 tháng đầu năm 2021, toàn đơn vị thu được 2.359 tỷ đồng, bằng 20,5% dự toán pháp lệnh giao. Có 9/16 khu vực, sắc thuế có số nộp ngân sách đạt trên 16,7% đảm bảo tiến độ dự toán.
Ông Lương Văn Ngà – Cục trưởng Cục Thuế Khánh Hòa cho biết, trước diễn biến khó lường của dịch Covid-19, ngoài các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) vượt qua khó khăn từ Chính phủ, Bộ Tài chính; UBND tỉnh Khánh Hòa đã đề ra một số nhiệm vụ, công tác trọng tâm nhằm tạo điều kiện cho DN phát triển. Trong đó, chú trọng cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, cắt giảm một số thủ tục hành chính, tháo gỡ nút thắt trong sản xuất kinh doanh, tạo động lực cho DN phát triển tốt nhất, tạo nguồn thu ổn định cho ngân sách.
Cùng với đó, tỉnh Khánh Hòa cũng chuẩn bị các điều kiện về đất đai, cơ sở hạ tầng, nhân lực..., để thu hút đầu tư; thực hiện đồng bộ, hiệu quả các cơ chế, chính sách theo quy định để hỗ trợ DN vượt qua khó khăn của đại dịch Covid-19; tiếp tục thực hiện thủ tục cơ cấu lại nợ, khoanh nợ, giãn nợ, miễn giảm lãi vay, cho vay ưu đãi hỗ trợ đối với các ngành, lĩnh vực chịu thiệt hại nặng nề vì dịch. Đồng thời, tỉnh tập trung đẩy mạnh cơ cấu lại các ngành kinh tế theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và sức cạnh tranh, hướng tới mục tiêu hỗ trợ DN phát triển.
Thực hiện mục tiêu vừa phòng chống dịch bệnh, vừa đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội được UBND tỉnh đề ra, Cục Thuế Khánh Hòa đã tập trung rà soát DN, người nộp thuế (NNT) thuộc khu vực, lĩnh vực bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh, đề ra các giải pháp hỗ trợ kịp thời hỗ trợ DN. Nhờ được động viên hỗ trợ kịp thời, cộng đồng DN đã ổn định sản xuất kinh doanh nỗ lực vượt qua khó khăn, giữ ổn định nguồn thu cho ngân sách nhà nước (NSNN).
Ông Lương Văn Ngà chia sẻ, lũy kế 2 tháng đầu năm 2021, số thu nội địa do cơ quan thuế thu đạt 2.359 tỷ đồng, bằng 20,5% so với dự toán pháp lệnh. Số thu nội địa không kể tiền sử dụng đất, xổ số ước đạt 2.197 tỷ đồng, bằng 20,7% so với dự toán. Báo cáo của Cục Thuế Khánh Hòa cũng cho thấy, trong 2 tháng đầu năm, trên địa bàn có 9/16 khu vực, sắc thuế có số nộp ngân sách đạt trên 16,7% dự toán pháp lệnh. Tuy nhiên, vẫn còn 7/16 khu vực, sắc thuế có số nộp ngân sách đạt dưới 16,7% dự toán pháp lệnh.
Chia sẻ về những giải pháp công tác thuế trong thời gian tới, ông Lương Văn Ngà cho biết, quý I/2021, cục thuế được Tổng cục Thuế giao dự toán thu ngân sách nội địa đạt 3.052 tỷ đồng; 2 tháng đầu năm cục thuế đã thực hiện đạt 77,3% dự toán quý I được giao.
Để hoàn thành nhiệm vụ Tổng cục Thuế giao, cục thuế đã chỉ đạo bộ phận kê khai thực hiện tốt công tác quản lý kê khai, theo dõi giám sát số liệu NNT chặt chẽ để kịp thời phát hiện các trường hợp kê khai sai quy định, bảo đảm ghi nhận đúng nghĩa vụ NNT kê khai; điều chỉnh tiền chậm nộp phát sinh không chính xác trên hệ thống TMS của NNT theo đề nghị của các phòng.
Cùng với đó, cục thuế cũng tăng cường đôn đốc các DN nộp hồ sơ khai thuế và quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thuế thu nhập cá nhân (TNCN) năm 2020 và các loại thuế khác đúng thời hạn và xử phạt kịp thời đối với các hồ sơ khai thuế nộp chậm; giao bộ phận đăng ký thuế giải quyết các hồ sơ đăng ký thuế điện tử kịp thời, không để xảy ra trường hợp giải quyết trễ hạn hồ sơ. Đồng thời, cục thuế cũng giao bộ phận kế toán thuế thực hiện rà soát, điều chỉnh thông tin hạch toán hoàn nộp thừa NSNN năm 2020; hoàn thành quyết toán năm 2020 đúng thời hạn quy định; báo cáo cung cấp thông tin tài chính năm 2020 (triển khai từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2021).
Ngoài ra, Cục Thuế Khánh Hòa chỉ đạo các chi cục thuế kiểm soát tình hình thực hiện các nội dung thường xuyên về kê khai, kế toán thuế, đăng ký thuế; kiểm tra giám sát việc thực hiện của các chi cục thuế đối với các nội dung về xác nhận nộp thuế điện tử, đăng ký thuế điện tử, đối chiếu, rà soát số liệu lập báo cáo quyết toán thu nội địa 2020 của chi cục thuế; thống kê, chuyển danh sách các DN có khai thác và khai thuế tài nguyên nhưng chưa có giấy phép khai thác (do Sở Tài nguyên và Môi trường cung cấp) đến các phòng thanh tra kiểm tra và chi cục thuế để rà soát xử lý theo quy định.
Ông Lương Xuân Thu – Trưởng Phòng Tuyên truyền hỗ trợ NNT (Cục Thuế Khánh Hòa) cho biết, ngoài việc thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý thuế nêu trên, trong tháng 3/2021, toàn đơn vị tập trung nguồn lực tổ chức “Tháng cao điểm đồng hành cùng NNT” và làm việc cả ngày thứ bảy để hỗ trợ quyết toán thuế TNDN, thuế TNCN năm 2020.
Ngay trong tháng 2/2021, Cục Thuế Khánh Hòa đã tổ chức “Hội nghị trực tuyến tập huấn chính sách thuế và đối thoại với DN đợt I năm 2021” cho 150 tổ chức, DN do văn phòng cục thuế quản lý. Tại hội nghị tập huấn, cục thuế đã phổ biến, giới thiệu, cập nhật các điểm mới về chính sách thuế mới năm 2021; hướng dẫn những điểm cần lưu ý trong việc quyết toán thuế TNDN và thuế TNCN năm 2020 đến cộng đồng DN và NNT. (Thoibaotaichinhvietnam.vn 10/3) Về đầu trang
Hòa Bình giao chỉ tiêu hồ sơ giải quyết trực tuyến mức 3, 4 cho các đơn vị
UBND tỉnh Hòa Bình vừa giao cụ thể chỉ tiêu hồ sơ giải quyết trực tuyến mức độ 3, 4 cho các Sở, ban, ngành và UBND các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh năm 2021.
Theo Quyết định giao chỉ tiêu, tỷ lệ hồ sơ giải quyết trực tuyến phát sinh trên tổng số hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính mà UBND tỉnh Hòa Bình yêu cầu 17 sở, ban, ngành và 10 UBND các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh cần đạt được là 51%.
Trong đó, tỷ lệ % được xác định theo số lượng hồ sơ trực tuyến thuộc danh mục thủ tục hành chính được công bố thực hiện trực tuyến mức 3, 4 phát sinh trên tổng số hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính của các cơ quan, đơn vị.
Theo thống kê, tổng số thủ tục hành chính công bố đủ điều kiện thực hiện trực tuyến mức 3, 4 của 17 sở, ban, ngành thuộc tỉnh Hòa Bình là 841 thủ tục. Với 10 UBND huyện, thành phố, mỗi cơ quan đều có 69 thủ tục hành chính đủ điều kiện cung cấp trực tuyến mức 3, 4.
UBND tỉnh Hòa Bình chỉ đạo các Sở, ban, ngành và UBND các huyện, thành phố căn cứ vào chỉ tiêu được giao, chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm đảm bảo đạt chỉ tiêu.
Căn cứ tình hình tiếp nhận, giải quyết hồ sơ, trình độ tiếp cận Internet của khách hàng tại địa phương, UBND các huyện, thành phố tổ chức giao chỉ tiêu cụ thể cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn thuộc phạm vi quản lý nhằm đảm bảo chỉ tiêu được giao theo quy định, báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh theo quy định.
UBND tỉnh Hòa Bình giao Sở TT&TT chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra các đơn vị, địa phương trong việc thực hiện quyết định này; kịp thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc để tổng hợp, báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh xem xét, giải quyết theo quy định.
Bên cạnh đó, Sở TT&TT Hòa Bình còn có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Sở Nội vụ và các cơ quan liên quan tổng hợp, thống kê số liệu kết quả thực hiện chỉ tiêu hồ sơ được tiếp nhận, giải quyết trực tuyến mức 3, 4 cho các Sở, ban, ngành và UBND các huyện, thành phố để phục vụ đánh giá, xếp hạng mức độ ứng dụng CNTT và đánh giá, xếp hạng kết quả thực hiện công tác cải cách hành chính của các Sở, ban, ngành, địa phương;
Văn phòng UBND tỉnh Hòa Bình là cơ quan được giao phối hợp với Sở TT&TT và các cơ quan liên quan theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện quyết định; kịp thời phát hiện những khó khăn báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh xem xét, giải quyết theo quy định. (Vietnamnet.vn 10/3) Về đầu trang
LĨNH VỰC CẢI CÁCH
Quyết toán thuế trực tuyến: Tiết kiệm thời gian, giảm chi phí
Do tình hình dịch bệnh phức tạp, cùng với quá trình nâng cấp về công nghệ, cũng như cải cách hành chính trong ngành Thuế, kỳ quyết toán thuế (QTT) năm 2020 được ngành thuế áp dụng triệt để hình thức hỗ trợ QTT trực tuyến.
Theo đó, việc hỗ trợ trực tuyến không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế (NNT) tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại không cần thiết, mà còn giúp hạn chế việc tập trung đông người, tránh lây lan dịch bệnh trong bối cảnh dịch COVID-19.
Trao đổi với báo chí, bà Nguyễn Thị Thu Hà, Vụ trưởng Vụ Tuyên truyền và Hỗ trợ người nộp thuế cho biết, việc QTTkỳ tính thuế năm 2020 có 6 điểm mới, trong đó đáng chú ý là về mức giảm trừ gia cảnh. Theo Nghị quyết số 954/2020/NQ-UBTVQH, mức giảm trừ cho bản thân NNT tăng từ 9 triệu đồng/tháng lên mức 11 triệu đồng/tháng; mức giảm trừ cho người phụ thuộc tăng từ 3,6 triệu đồng/người/tháng lên mức 4,4 triệu đồng/người/tháng.
Cùng với đó, thời điểm tính giảm trừ gia cảnh mức mới từ ngày 1/1/2020, chứ không phải tính theo thời điểm có hiệu lực của Luật Quản lý thuế số 38 (ngày 1/7/2020). Ngoài ra, về thời hạn nộp hồ sơ QTT thu nhập cá nhân (TNCN).
Luật Quản lý thuế số 38 cho phép nộp hồ sơ QTT chậm nhất là ngày 30/4 đối với hồ sơ QTTTNCN của cá nhân trực tiếp quyết toán thuế, thay vì ngày 31/3 (Luật Quản lý thuế 2006), tức kéo dài thêm 1 tháng cho cá nhân quyết toán thuế. Riêng đối với tổ chức chi trả thu nhập thì thời điểm cuối vẫn là ngày 31/3.
Bên cạnh đó, NNT được giảm 30% số thuế TNDN phải nộp của kỳ tính thuế TNDN năm 2020 đối với trường hợp NNT có tổng doanh thu năm 2020 không quá 200 tỷ đồng...
Ngoài những điểm mới tạo nhiều thuận lợi cho NNT nói trên, năm nay, trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 còn diễn biến phức tạp, Tổng cục Thuế sẽ tổ chức chương trình hỗ trợ trực tuyến QTT năm 2020 trên Cổng thông tin điện tử Tổng cục Thuế (địa chỉ:www.gdt.gov.vn).
Dự kiến thời gian tổ chức các buổi hỗ trợ trực tuyến về QTT TTCN sẽ từ 13h30” đến 17h vào các ngày 9/3/2021 và ngày 16/3/2021. Còn thời gian tổ chức các buổi hỗ trợ trực tuyến về QTT thu nhập doanh nghiệp sẽ từ 13 giờ 30 đến 17 giờ các ngày 11/3/2021 và ngày 18/3/2021.
Cũng theo bà Hà, về triển khai dịch vụ thuế điện tử đối với đối tượng NNT là cá nhân, ngay từ năm 2017, Tổng cục Thuế đã ban hành nhiều công văn hướng dẫn triển khai. Tuy nhiên, hiện chỉ có 205.459 số tài khoản đăng ký giao dịch điện tử, chiếm rất ít so với tổng số NNT là cá nhân có mã số thuế đang hoạt động hiện nay.
Để mở rộng triển khai dịch vụ khai nộp thuế điện tử đối với đối tượng cá nhân phạm vi toàn quốc, tạo thuận lợi cho NNT khi thực hiện giao dịch điện tử với cơ quan Thuế cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho NNT trong việc thực hiện QTT TTCN năm 2020, Tổng cục Thuế vừa có công văn đề nghị các Cục Thuế địa phương tập trung thực hiện, tổ chức cấp tài khoản giao dịch điện tử cho cá nhân theo quy định.
“Khi các cá nhân có tài khoản giao dịch điện tử có thể kê khai nộp hồ sơ QTT TTCN trên dịch vụ thuế điện tử mà không phải đem hồ sơ đến nộp trực tiếp tại cơ quan Thuế như những năm trước đây, từ đó làm giảm ách tắc khi nộp hồ sơ giấy tại các cơ quan Thuế”, bà Hà thông tin. (Cand.com.vn 10/3) Về đầu trang
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
Sử dụng mạng xã hội để giải quyết thủ tục hành chính: Bước đi hiệu quả
Tại các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, chính quyền đã bước đầu sử dụng mạng xã hội giải quyết thủ tục hành chính, đem lại tiện ích cho người dân.
Tại Cà Mau đã hoàn thiện hệ thống thông tin một cửa điện tử triển khai đến cấp xã (gồm 19 sở, ban, ngành tỉnh; 09 huyện, thành phố Cà Mau; 101 xã, phường, thị trấn).
Hệ thống có khả năng hỗ trợ xử lý giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính ở các hình thức như trực tiếp, trực tuyến và qua dịch vụ bưu chính. 100% thủ tục hành chính cơ quan cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã được tổ chức tiếp nhận, xử lý liên thông trên Hệ thống thông tin một cửa điện tử.
Từ hệ thống này, người tiếp nhận hồ sơ kết nối Zalo với người dân để người dân tiện theo dõi công việc của mình tiến triển đến đâu.
Ông Nguyễn Văn Dũng, ngụ ấp Phú Thạnh, xã Phú Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau cho biết: “Bây giờ đi làm hồ sơ đỡ tốn thời gian công sức nhiều. Nếu mình không rành gởi hồ sơ trực tuyến thì nhờ cán bộ hướng dẫn, làm thử rồi riết cũng quen. Như tôi, thường sử dụng mạng xã hội để cập nhật thông tin về các thủ tục hành chính, vừa nhanh tiện lợi đỡ tốn công sức”.
Ông Trần Thiện Đức, công chức làm việc tại Văn phòng Huyện ủy Ngọc Hiển cho biết: “Tại cơ quan tùy theo nhiệm vụ công việc sẽ thành lập các nhóm Zalo, trao đổi tương tác với nhau. Có thông tin gì chỉ cần nhắn lên nhóm để trao đổi, mọi người đều có thể nắm rõ ý kiến chỉ đạo triển khai thực hiện ngay mà không cần phải tốn nhiều thời gian công sức”.
Tại tỉnh Bạc Liêu, Công an tỉnh sử dụng mạng xã hội để thông tin cảnh giác thủ đoạn của tội phạm, như lừa đảo chuyển tiền qua website giả mạo, hay lừa đảo, chiếm đoạt tiền qua điện thoại... Đồng thời tuyên truyền pháp luật về xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi và các quy định khác. Đây cũng là kênh tiếp nhận thông tin tố giác tội phạm từ người dân, đảm bảo bí mật, an toàn cho người cung cấp theo Luật Tố cáo 2018 và quy định của ngành Công an nhân dân.
Thượng tá Hoàng Ngọc Đạo, Phó trưởng Công an huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu cho biết: “Tháng 9.2020, Công an huyện Đông Hải cho ra đời trang thông tin Công an huyện Đông Hải trên mạng xã hội Zalo. Vì tính bổ ích, thiết thực, kế hoạch thành lập trang này được Công an tỉnh Bạc Liêu chấp thuận ngay với chủ đề: Kết nối Zalo - Vì bình yên cuộc sống”.
Cũng thông qua mạng xã hội Zalo cung cấp thông tin chính thống định hướng dư luận trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, đấu tranh phản bác các thông tin, quan điểm sai trái…
Thượng tá Hoàng Ngọc Đạo, Phó trưởng Công an huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu chia sẻ: “Hiện, đa phần người dân có điện thoại thông minh nên việc khai thác mạng xã hội để tuyên truyền phòng, chống tội phạm diễn ra rất thuận lợi. Về phương pháp, các đội nghiệp vụ công an huyện, công an các xã, thị trấn có trách nhiệm giới thiệu trang Zalo này đến toàn thể cán bộ, người dân trên địa bàn cũng như cung cấp đường dẫn và hướng dẫn cách sử dụng cho người dân”.
Người đứng đầu tỉnh Cà Mau thống nhất việc triển khai lấy ý kiến của người dân, doanh nghiệp đối với việc giải quyết thủ tục hành chính qua điện thoại. Thống nhất với đề xuất của Trung tâm Giải quyết thủ tục hành chính tỉnh về việc vận hành thử nghiệm việc lấy ý kiến đánh giá của người dân, doanh nghiệp qua Zalo để đánh giá mức độ tác động, các yếu tố an toàn, bảo mật thông tin khách hàng... trước khi triển khai áp dụng (thời gian vận hành thử nghiệm trong tháng 3.2021).
Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau cũng đề nghị thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố Cà Mau chỉ đạo bộ phận một cửa của cơ quan, đơn vị (cả đơn vị trực thuộc) thực hiện nghiêm việc xử lý, cập nhật thông tin về giải quyết thủ tục hành chính lên hệ thống thông tin một cửa điện tử của tỉnh. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên tuyền, phổ biến để người dân, doanh nghiệp biết, thực hiện. (Laodong.vn 10/3) Về đầu trang
Hải quan sử dụng Zalo hỗ trợ DN vùng dịch xuất khẩu
Trong bối cảnh tình hình dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, Tổng cục Hải quan và các đơn vị hải quan địa phương đã triển khai các giải pháp đồng bộ thực hiện tốt mục tiêu kép của Chính phủ, Bộ Tài chính yêu cầu, phòng dịch nghiêm ngặt nhưng vẫn bảo đảm giải quyết thủ tục hải quan thuận lợi cho doanh nghiệp (DN).
Ông Âu Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Quản lý giám sát về hải quan (Tổng cục Hải quan) cho biết, tại các tỉnh, thành phố như Hà Nội, TPHCM, Hải Phòng, Quảng Ninh, Gia Lai, Điện Biên, Hải Dương, Hưng Yên… nơi phát sinh dịch bệnh bùng phát và lây lan trong cộng đồng vào dịp trước và sau Tết nguyên đán, các đơn vị đã kích hoạt các biện pháp phòng, chống dịch nhưng vẫn bảo đảm giải quyết thủ tục hải quan thuận lợi cho DN.
Tại Hải Dương, trước thông tin COVID-19 trong cộng đồng, Chi cục Hải quan Hải Dương (Cục Hải quan Hải Phòng) lập tức kích hoạt phương án phòng chống dịch COVID-19 khẩn cấp.
Đối với việc tiếp nhận hồ sơ xuất nhập khẩu (XNK), Chi cục đã bố trí người nhận hồ sơ (nếu phải nộp hồ sơ giấy), đo thân nhiệt của nhân viên xuất nhập khẩu, ghi nhận lịch sử vào/ra Chi cục. Nếu cần trao đổi với cán bộ công chức hải quan thì sử dụng nhóm trên ứng dụng trực tuyến qua điện thoại di động…
Cụ thể, trên nhóm Zalo “Hội XNK Hải Dương” có gần 400 thành viên là nhân viên hoạt động xuất nhập khẩu của các DN trên địa bàn và cả cán bộ công chức của Chi cục đã hoạt động trao đổi thông tin rất tích cực. Các thông tin liên quan trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan đã được chia sẻ kịp thời, vướng mắc phát sinh cũng được công chức hải quan hướng dẫn tận tình để bảo đảm việc thông quan hàng hóa diễn ra thông suốt.
Hải quan thường xuyên cập nhật thông tin về dịch bệnh, hỗ trợ người dân gặp khó khăn trên địa bàn để tạo niềm tin cho cán bộ công chức hải quan và cộng đồng DN trên địa bàn yên tâm thực hiện tốt công việc trong đại dịch COVID-19.
Với các biện pháp chủ động, tích cực nên việc thông quan hàng hóa tại Chi cục Hải quan Hải Dương diễn ra thông suốt với bình quân khoảng 1.000 tờ khai/ngày làm việc và được cộng đồng DN ghi nhận. Tờ khai của đơn vị chủ yếu liên quan đến loại hình gia công, sản xuất xuất khẩu. Tại Chi cục Hải quan Hưng Yên việc thông quan hàng hóa cũng diễn ra thuận lợi, bình quân giải quyết thủ tục cho trên 600 tờ khai/ngày làm việc và thường xuyên có trên 300 DN làm thủ tục.
Còn tại Quảng Ninh, cơ quan hải quan cũng kích hoạt các phương án, biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 cấp độ cao nhất, dừng các sự kiện, hoạt động tập trung đông người.
Phòng Công nghệ thông tin sẵn sàng để trở lại phương án làm việc trực tuyến qua môi trường mạng trong toàn Cục, tăng cường tối đa các hoạt động trực tuyến để giảm thiểu tiếp xúc tại công sở, cơ quan, đơn vị (khi có yêu cầu của cấp có thẩm quyền).
Tại Lạng Sơn, trước thực tế lượng xe hàng, lái xe, chủ hàng, người đến từ các vùng đang có dịch COVID-19 và từ các địa phương rất nhiều, các đơn vị đã chủ động phối hợp với lực lượng bộ đội biên phòng, đội kiểm dịch y tế quốc tế, đơn vị kinh doanh bến bãi…, thực hiện phân luồng phương tiện chở hàng hóa XNK, phân loại và tách các nhóm lái xe, chủ hàng đến từ các địa phương đã xuất hiện dịch COVID-19 để dễ kiểm soát. Bên cạnh đó, lực lượng tại các cửa khẩu cũng thường xuyên kiểm tra, tuyên truyền đến các lái xe, chủ hàng không tập trung thành nhóm đông người ở trong khu vực cửa khẩu, thực hiện nghiêm việc đeo khẩu trang, thực hiện nghiêm về khai báo và xét nghiệm, cách ly y tế và bố trí lực lượng trực 24/24 giờ tại các chốt trên tuyến biên giới, kiểm soát chặt các đường mòn, lối mở, chống xuất nhập cảnh trái phép.
Đại diện cơ quan hải quan cho biết, dù dịch bệnh, tình hình các hoạt động gian lận thương mại vẫn diễn biến phức tạp dưới các hình thức như khai báo sai về tên hàng, số lượng, thuế suất, mã số hàng hóa, xuất xứ, năm sản xuất của máy móc thiết bị... đặc biệt, một số đối tượng vẫn lợi dụng hình thức khai báo hòng gian lận, buôn lậu các mặt hàng giả mạo xuất xứ “Made in Viet Nam”, hàng cấm như ma túy, pháo nổ và các sản phẩm gia súc gia cầm.
Cục Hải quan Lạng Sơn đã chỉ đạo các chi cục hải quan cửa khẩu triển khai quyết liệt các giải pháp ngăn ngừa, phát hiện và xử lý, tập trung vào nhóm mặt hàng có nguy cơ cao, cập nhật thông tin kịp thời trên hệ thống thông tin nghiệp vụ…
Các đơn vị cửa khẩu chủ động triển khai thực hiện có hiệu quả các biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan, tích cực điều tra, phối hợp với các đơn vị khác nắm tình hình về các đối tượng, phương thức, thủ đoạn buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.
Hải quan vẫn là một trong những ngành tiên phong triển khai ứng dụng hiện đại hoá, áp dụng công nghệ thông tin. Đặc biệt, trong bối cảnh dịch COVID-19, cơ quan hải quan yêu cầu toàn bộ các chứng từ hộ sơ hải quan nộp qua hệ thống hải quan điện tử, hạn chế tối đa việc tiếp xúc trực tiếp.
Thông tư số 47/2020 quy định về thời điểm nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ và chính thức xuất xứ đối với hàng hoá nhập khẩu áp trong giai đoạn dịch COVID-19 cho phép cấp chứng nhận xuất xứ CO điện tử, không phải nộp bản chính, cũng tạo điều kiện rất tốt cho DN, giảm thiểu tối đa việc tiếp xúc trực tiếp với hải quan.
“Cơ chế này ngoài việc giảm tiếp xúc còn giúp giảm hồ sơ giấy tờ tạo thuận lợi tối đa cho DN theo đúng tinh thần chỉ đạo của Chính phủ”, ông Âu Anh Tuấn đánh giá.
Trong bối cảnh dịch bệnh, khi nhập các trang thiết bị, hay vaccine chống dịch, hải quan đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Y tế thực hiện các biện pháp thông quan nhanh, đơn giản hoá thủ tục nhập khẩu.
Đối với lô hàng vaccine COVID- 19 đầu tiên về đến cửa khẩu Việt Nam, Tổng cục Hải quan đã thiết lập tiêu chí luồng vàng (miễn kiểm tra thực tế hàng hóa), chỉ đạo Cục Hải quan TPHCM giải quyết thủ tục thông quan nhanh chóng để DN đưa hàng về bảo quản ở điều kiện phù hợp bảo đảm chất lượng hàng hóa trước khi đưa vào sử dụng..
Bên cạnh đó, Tổng cục Hải quan cũng chỉ đạo hải quan các địa phương tạo thuận lợi tối đa cho việc nhập khẩu các mặt hàng chống dịch cũng như thực hiện xuất khẩu hàng hoá chống dịch (như khẩu trang…) của Việt Nam đi các nước khác.
Đại diện Tổng cục Hải quan cho biết, hiện nay các DN có xu hướng chuyển đổi hoạt động kinh doanh trực tiếp sang thương mại điện tử, trong đó bao gồm cả các DN làm ăn chân chính cũng như các hoạt động gian lận tinh vi.
Chính phủ đã sớm quan tâm, chỉ đạo việc tạo dựng môi trường thương mại điện tử công bằng, lành mạnh. Trong bối cảnh dịch COVID-19, vừa phải chống dịch nhưng cũng không được lơ là đấu tranh với các hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại.
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, năm 2021, cơ quan hải quan, Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo Nghị định quản lý hải quan với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu được giao dịch qua thương mại điện tử, dự kiến trình trong quý IV/2021.
“Nghị định này được ban hành sẽ quản lý tốt hơn hẳn các hoạt động thương mại điện tử, kiểm soát tốt hơn các hoạt động trong đó đấu tranh với các hành vi lợi dụng để buôn lậu, gian lận thương mại, buôn hàng cấm qua biên giới…”, ông Âu Anh Tuấn chia sẻ. (Baochinhphu.vn 09/3) Về đầu trang
TP.HCM: Đề xuất đầu tư 1.400 tỷ đồng nâng cấp cơ sở vật chất, dữ liệu quản lý đất đai
Sở TNMT đã lập báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư cho 3 dự án đã được UBND TP chấp thuận chủ trương đầu tư với tổng giá trị 1.393 tỷ đồng giai đoạn thực hiện 2021-2024.
Báo SGGP online thông tin cho biết vào ngày 9-3, tại buổi làm việc với Phó Chủ tịch UBND TPHCM Lê Hòa Bình cùng với các sở ngành TP, Sở TNMT TP cho biết, hiện nay sở đang lập thủ tục đấu giá quyền sử dụng đất đối với 22 khu đất (3,49ha) sắp xếp theo nghị định 167/NĐ-CP; 18 lô đất (17,8ha) tại khu đô thị mới Thủ Thiêm; 22 nền đất tại TP Thủ Đức và Bình Thạnh. Dự kiến sẽ đấu giá 16 khu đất (42,59ha).
Sở cũng đã công bố quyết định thu hồi và chủ trương thu hồi đối với các khu đất được UBND TP giao cho trung tâm quỹ đất – đơn vị trực thuộc sở tiếp nhận quản lý đề xuất phương án sử dụng. Dự kiến tiếp nhận 14 mặt bằng, lập thủ tục đo 27 khu đất (47,9ha).
Theo báo Người Lao Động thông tin từ Giám đốc Sở TN-MT TP HCM Nguyễn Toàn Thắng, lĩnh vực tài nguyên môi trường có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng, tác động trực tiếp và có ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống xã hội. Để trở thành đô thị văn minh, hiện đại và thông minh, TP phải giải quyết tốt các nhiệm vụ về: quản lý, quy hoạch và sử dụng đất đai; quản lý, xử lý ô nhiễm môi trường; quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên… các nhiệm vụ này chỉ có thể thực hiện tốt khi ứng dụng các giải pháp công nghệ tiên tiến, ứng dụng công nghệ thông tin một cách đồng bộ.
"Sở TN-MT đã ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chuyên môn nhưng mức độ chỉ dừng lại ở các hoạt động hành chính thông thường và một số nghiệp vụ chuyên sâu khác nhưng ở phạm vi hạn hẹp. Với thực tế đó, Sở TN-MT chưa thể đáp ứng được những yêu cầu đối với tình đặc thù của TP HCM và yêu cầu xây dựng TP trở thành đô thị thông minh. Vì vậy, việc đầu tư hạ tầng kỹ thuật cho Sở là rất cần thiết và cấp bách" – ông Thắng nói.
Kiến nghị nâng cấp cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhằm đáp ứng số hóa, liên thông trong công tác quản lý đất đai… Cụ thể, Sở TNMT đã lập báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư cho 3 dự án đã được UBND TP chấp thuận chủ trương đầu tư với tổng giá trị 1.393 tỷ đồng giai đoạn thực hiện 2021-2024. Đó là Dự án xây dựng trung tâm điều hành thông minh và chuyển đổi số kho lưu trữ cho Văn phòng đăng ký Đất đai TP; Dự án Trung tâm điều hành thông minh Sở TNMT; Dự án xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thông minh phục vụ thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Các dự án xây dựng cụ thể là: Trung tâm điều hành thông minh và chuyển đổi số kho lưu trữ cho Văn phòng Đăng ký đất đai TP (591 tỉ đồng); Trung tâm điều hành thông minh Sở TN-MT (483,4 tì đồng); Hệ thống cơ sở dữ liệu thông minh phục vụ xử lý thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai (hơn 319 tỉ đồng). (Doanhnhanvn.vn 10/3) Về đầu trang
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
“Chiếc áo” bằng cấp, chứng chỉ không làm nên một viên chức giỏi
“Chiếc áo không làm nên thầy tu", bằng cấp, chứng chỉ không hoàn toàn phản ánh năng lực thực chất của mỗi người và bản thân các chứng chỉ không có tội tình gì cả.
VietNamNet trao đổi với ông Nguyễn Tư Long, Phó Vụ trưởng Vụ Công chức - Viên chức (Bộ Nội vụ) về câu chuyện bổ sung bằng cấp, chứng chỉ của hàng triệu công chức, viên chức đã và đang thực hiện trong thời gian gần đây.
Không chỉ câu chuyện yêu cầu về chứng chỉ chức danh nghề nghiệp trong việc xếp hạng giáo viên đang được dư luận quan tâm mà vừa qua còn xuất hiện câu chuyện hàng triệu viên chức của nhiều ngành nghề khác cũng ồ ạt đi thi, đi học để bổ sung các loại chứng chỉ vào hồ sơ của mình theo yêu cầu của các bộ chuyên ngành. Việc này, được hiểu như thế nào, thưa ông?
Tôi khẳng định luôn trong Luật Viên chức không quy định chứng chỉ là tiêu chuẩn mà chỉ yêu cầu phải có văn bằng, chứng chỉ phù hợp khi tuyển dụng. Như vậy không có vấn đề gì vướng mắc ở luật với câu chuyện quy định yêu cầu hay không yêu cầu chứng chỉ của các bộ ngành.
Nhưng ở đâu cũng thế, làm bất kể việc gì cũng phải có những tiêu chí, tiêu chuẩn. Muốn vào công tác ở một vị trí nào thì phải có một tiêu chuẩn nhất định.
Ví dụ như công chức nhà nước thì bắt buộc ngạch chuyên viên phải là đại học trở lên. Đối với một số ngành nghề thì người ta yêu cầu còn cao hơn như giảng viên đại học thì đương nhiên phải là tiến sĩ, thạc sĩ, không thể nào lấy người có bằng cử nhân đi dạy cử nhân được. Đấy là những tiêu chuẩn rất cụ thể của từng ngành nghề cụ thể.
Còn hồ sơ của viên chức, ngay từ đầu khi tuyển dụng, viên chức đã phải đáp ứng những tiêu chuẩn, điều kiện cần thiết. Việc này Luật Viên chức quy định phải “có văn bằng, chứng chỉ đào tạo, chứng chỉ hành nghề hoặc có năng khiếu kỹ năng phù hợp với vị trí việc làm”.
Khi các bộ chuyên ngành yêu cầu tuyển viên chức và từng vị trí một có những yêu cầu khác nhau và phải có những bằng cấp, chứng chỉ gì kèm theo.
Chẳng hạn như cùng bác sĩ nhưng bác sĩ nhưng chuyên ngành khác nhau thì yêu cầu bằng cấp, chứng chỉ khác nhau. Còn câu hỏi cụ thể vì sao có việc giáo viên ồ ạt đi thi, đi học để bổ sung các loại chứng chỉ thì tôi khẳng định không phải là quy định vướng trong Luật Viên chức. Cái này chắc chắn có nguyên nhân và nên chờ giải thích của bộ quản lý chuyên ngành.
Qua thực tiễn làm công tác tham mưu cho bộ về quản lý viên chức, ông thấy các văn bằng, chứng chỉ mà ngành này ngành kia yêu cầu hiện nay có đáp ứng được các tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp như Luật Viên chức đặt ra?
Để trả lời câu hỏi này thì phải nắm rất chắc về chương trình đào tạo, về nhu cầu của từng vị trí việc làm, nhu cầu của từng ngạch... Có những chứng chỉ chính là thể hiện đã đạt tiêu chuẩn, có những chứng chỉ nếu không gắn với tiêu chuẩn của ngành nghề đó thì không thể hiện đúng bản chất.
Ví dụ một bác sĩ không phải cứ ra trường là được mổ ngay, mà phải qua bao nhiêu giờ phụ mổ, bao nhiêu giờ làm công tác chuyên môn liên quan trực tiếp đến hoạt động nghề nghiệp của mình. Và chứng chỉ hành nghề y là chứng chỉ xác nhận cho một con người cụ thể đã hoàn thành yêu cầu đó. Khi đó, chứng chỉ đó chính là chứng chỉ đã đáp ứng tiêu chuẩn, và quy định tiêu chuẩn phải bắt buộc phải có chứng chỉ trong trường hợp này là hợp lý.
Bản thân các tiêu chí, tiêu chuẩn chắc chắn là cần thiết, các chứng chỉ không có tội gì cả nhưng cần chứng chỉ gì, nhu cầu đến đâu và mối liên hệ giữa chứng chỉ với tiêu chuẩn như thế nào thì tùy vào trường hợp cụ thể.
Vừa rồi, Luật Viên chức sửa đổi đã có một bước tiến là bỏ chế độ “viên chức suốt đời” chuyển sang chế độ hợp đồng. Vì vậy có ý kiến cho rằng, chỉ nên quy định yêu cầu những văn bằng, chứng chỉ cơ bản còn lại hãy trao quyền tự chủ cho người đứng đầu trực tiếp sử dụng lao động thỏa thuận với viên chức về câu chuyện bằng cấp, chứng chỉ?
Đấy cũng là một ý kiến cần nghiên cứu. Hoạt động của viên chức là hoạt động nghề nghiệp, quan trọng nhất là làm sao họ có đủ năng lực, trình độ để thực hiện công việc nghề nghiệp của mình. Bằng cấp hay chứng chỉ cũng đều phải gắn với việc thực hiện sao cho thật tốt nhất hoạt động nghề nghiệp của họ.
Tuy nhiên, nói gì thì cũng phải có yêu cầu đảm bảo được một mặt bằng chung. Chẳng hạn như cùng là cấp phổ thông thì không thể nói, yêu cầu giáo viên chỗ này thì khác chỗ kia theo quy định của hiệu trưởng từng trường được.
Nhưng việc chứng chỉ có phản ánh đúng thực trạng năng lực hay không thì lại là một câu chuyện khác. Quan trọng nhất là xây dựng những bộ tiêu chuẩn, chuẩn mực và làm sao cứ ai đạt được tiêu chuẩn này thì được vào dạy, bao nhiêu năm thì được thăng hạng, mỗi hạng có yêu cầu khắt khe hơn.
Như luật sư, công chứng viên hay một số ngành nghề khác họ đưa ra yêu cầu phải có chứng chỉ hành nghề có bị phản ứng đâu, vì cái chứng chỉ đó đúng là cần thiết và là điều kiện bắt buộc để họ được hành nghề, nó gắn với hoạt động nghề nghiệp của họ.
Để câu chuyện văn bằng, chứng chỉ đi vào thực chất, tránh tình trạng “làm đẹp hồ sơ” viên chức, theo ông cần phải có giải pháp gì?
Theo tôi, từng bộ ngành phải rà lại tiêu chuẩn đối với từng chức danh nghề nghiệp và trong từng chức danh nghề nghiệp phải rà lại tiêu chuẩn tương xứng với từng hạng chức danh nghề nghiệp. Căn cứ vào đó cần rà soát lại toàn bộ chương trình đào tạo, bồi dưỡng để tránh trùng lắp.
Nếu chứng chỉ bồi dưỡng, chương trình bồi dưỡng đúng với nhu cầu của viên chức, không được bồi dưỡng thì không đạt được trình độ, tiêu chuẩn của hạng chức danh và không được thực hiện một số nhiệm vụ ở mức độ yêu cầu cao hơn thì tôi nghĩ sẽ đi vào thực chất.
Hiện các bộ ngành đều có hệ thống về vị trí việc làm và các chức danh nghề nghiệp. Vì vậy, việc rà soát rồi hệ thống lại là hoàn toàn có thể làm được để đưa ra những yêu cầu về văn bằng, chứng chỉ phù hợp với tiêu chuẩn của từng ngành, nghề.
Ngoài ra, phải xem bản thân viên chức ngành đó cần những gì để có kế hoạch bồi dưỡng, nâng cao tay nghề, trình độ cho họ đáp ứng công việc đặt ra.
Chứng chỉ bản thân nó không có tội tình gì cả, quan trọng là nội dung bên trong chương trình bồi dưỡng cái gì, có đáp ứng được cho đúng hoạt động nghề nghiệp hay không và phải xuất phát từ nhu cầu của viên chức đó không.
Sắp bỏ chứng chỉ ngoại ngữ, tin học
Bộ trưởng Nội vụ Lê Vĩnh Tân nhiều lần cam kết trước Quốc hội kiên quyết loại bỏ những văn bằng, chứng chỉ không phù hợp như chứng chỉ ngoại ngữ, tin học... Vậy đến nay, Bộ Nội vụ đã hiện thực cam kết của Bộ trưởng như thế nào?
Theo chức năng quản lý nhà nước, Bộ Nội vụ quản lý về ngạch công chức hành chính nhà nước liên quan đến các tiêu chuẩn của các ngạch chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp.
Trước đây quy định ở các thông tư 05, 13 về tiêu chí bắt buộc ngạch chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp phải có chứng chỉ ngoại ngữ, tin học. Khi quy định này đi vào thực tế khá rườm rà cho đội ngũ công chức, vì không phải mọi vị trí đều cần một chứng chỉ như nhau.
Vì vậy, Bộ đang sửa thông tư theo hướng bỏ yêu cầu về chứng chỉ ngoại ngữ, tin học. Tuy nhiên, đặt ngược lại vấn đề, không phải không quy định về chứng chỉ thì hạ thấp yêu cầu về nâng cao trình độ ngoại ngữ và tin học.
Trong dự thảo thông tư sửa đổi mà Bộ Nội vụ sắp ban hành vẫn quy định, phải có trình độ ngoại ngữ, tin học đáp ứng vị trí việc làm. Quan trọng nhất là tới đây các bộ, ngành, các địa phương sẽ xây dựng vị trí việc làm cần phải đáp ứng yêu cầu về ngoại ngữ, tin học như thế nào.
Việc nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học là một yêu cầu và quan trọng nhất là xuất phát từ yêu cầu tự thân của mỗi người. Nếu không tự nâng cao thì họ sẽ không thực hiện được công việc và sẽ bị bỏ lại một khoảng cách rất xa. Vì vậy, không nên đưa ra một tiêu chí chung để áp dụng cho tất cả.
Tóm lại, bằng cấp, chứng chỉ là một nền tảng để đào tạo nhưng bằng cấp, chứng chỉ cũng không hoàn toàn phản ánh năng lực thực chất của mỗi người. “Chiếc áo không làm nên thầy tu” là vì thế, quan trọng nhất vẫn là năng lực thực chất của mỗi người ở mỗi ngành nghề. (Vietnamnet.vn 10/3) Về đầu trang
TIN THẾ GIỚI
Ai Cập lên kế hoạch khánh thành thủ đô hành chính mới
Thủ tướng Ai Cập Mostafa Madbouly ngày 9/3 thông báo quốc gia này sẽ chính thức khánh thành Thủ đô hành chính mới (NAC) vào cuối năm nay, trong khi các dịch vụ của chính phủ dự kiến bắt đầu hoạt động thử nghiệm kể từ tháng 8 tới.
Phát biểu tại cuộc họp Nội các, ông Madbouly cho hay hoạt động thử nghiệm sẽ diễn ra sau khi các nhân viên chính phủ chuyển đến NAC. Quá trình này nhằm đảm bảo tất cả cơ sở vật chất tại các tòa nhà của NAC đều trong tình trạng sẵn sàng trước lễ khánh thành thủ đô hành chính mới.
Trên cơ sở đó, Thủ tướng Madbouly yêu cầu các cơ quan liên quan phối hợp tổ chức lễ khánh thành phù hợp với dự án khổng lồ này, đồng thời triển khai kế hoạch di dời nhân viên đến NAC. Bên cạnh đó, ông Madbouly kêu gọi thực hiện các dự án đường sắt tốc độ cao và tàu điện, nhằm tạo thuận lợi cho việc đi lại tới NAC từ các khu vực trên toàn quốc.
Trong khuôn khổ cuộc họp, Thủ tướng Ai Cập đã được thông báo tóm tắt về các chi tiết liên quan đến lễ khánh thành NAC, cũng như dự kiến sự kiện và các phái đoàn tham dự. Trong thời gian tới, chính phủ Ai Cập sẽ cân nhắc địa điểm phù hợp nhất để tổ chức lễ khánh thành, trước khi trình đề xuất này lên Tổng thống.
Được xây dựng trên diện tích 1,5 triệu m2, NAC sẽ bao gồm một khu vực chính phủ trong đó có 10 tổ hợp dành cho các bộ, bên cạnh trụ sở Nội các và Hạ viện Ai Cập. Hồi giữa năm 2020, chính phủ Ai Cập đã lên kế hoạch di dời các bộ và 52.300 nhân viên nhà nước đến NAC, song đại dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19 khiến công tác di dời phải hoãn lại sang năm 2021.
NAC cách thủ đô Cairo khoảng 60km, là một “đại dự án” do Tổng thống Ai Cập Abdel-Fattah El-Sisi triển khai năm 2015 và dự kiến sẽ là nơi sinh sống của khoảng 6,5 triệu người dân. (Baotintuc.vn 10/3) Về đầu trang./.