Bản tin cải cách hành chính ngày 26/4/2021

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính

2. Bước đột phá từ Đề án 896

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

3. TPHCM: Thước đo từ dân và doanh nghiệp

4. Hà Nội: Nâng cao hiệu quả phục vụ nhân dân

5. Tiêu chí Thủ tục hành chính công và Quản trị điện tử của Đồng Nai tăng điểm nhẹ

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

6. Thiết lập Cổng tham vấn điện tử để gỡ bỏ rào cản kinh doanh

7. Ngành thuế với mục tiêu quản lý thuế, phí và lệ phí thống nhất

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

8. Thắt chặt chi tiêu, triệt để tiết kiệm trong năm 2021

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

9. Cải cách dễ hái đã hết

10. Cải cách môi trường kinh doanh Việt Nam: Động lực từ những việc chưa làm được

 

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình vừa có chỉ đạo về việc thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính, đổi mới thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính và xây dựng Chính phủ điện tử phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Theo đó, yêu cầu các đồng chí bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố tập trung chỉ đạo thực hiện nghiêm, có hiệu quả việc cắt giảm, đơn giản hóa các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh theo Nghị quyết số 68/NQ-CP. Bên cạnh đó, xây dựng phương án cắt giảm, đơn giản hóa các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh và tổ chức tham vấn các tổ chức, hiệp hội, doanh nghiệp để hoàn thiện, trình Thủ tướng Chính phủ theo yêu cầu của Nghị quyết số 68/NQ-CP (đợt 1 trước ngày 30-5 và đợt 2 trước ngày 30-9).

Yêu cầu đặt ra cần phải lượng hóa được lợi ích, chi phí mang lại đối với từng phương án do bộ, cơ quan đề xuất. Đồng thời, xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để tổ chức thực thi ngay các phương án cắt giảm, đơn giản hóa sau khi được Thủ tướng Chính phủ thông qua. (Nhandan.com.vn 26/4)Về đầu trang

Bước đột phá từ Đề án 896

Tại hội nghị tổng kết Đề án 896 về đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC), giấy tờ công dân và các cơ sở dữ liệu có liên quan đến quản lý dân cư giai đoạn 2013-2020, Phó Thủ tướng Chính phủ Trương Hòa Bình nhấn mạnh: Sự ra đời của Đề án 896 đã tạo sự đổi mới căn bản về tổ chức, hoạt động quản lý nhà nước về dân cư theo hướng hiện đại, phù hợp với điều kiện của Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa…

Báo cáo về Đề án 896 giai đoạn 2013-2020 cho thấy, 57/57 (100%) nhiệm vụ của Đề án 896 đã hoàn thành. Quá trình triển khai thực hiện đề án đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, để lại dấu ấn nổi bật, nhất là nhiệm vụ xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và nhiệm vụ rà soát, đơn giản hóa các TTHC liên quan đến giấy tờ công dân. Đến nay, về cơ bản nhiệm vụ xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và sản xuất, cấp căn cước công dân đã được thực hiện theo đúng tiến độ.

Đáng chú ý, lực lượng công an đang đồng loạt cấp thẻ căn cước công dân mới cho công dân trên toàn quốc với nhiều ưu điểm nổi bật (thẻ có gắn chip điện tử với phương án bảo mật cao; bảo đảm các tiêu chuẩn quốc tế). Đặc biệt, nhờ có sự lồng ghép 2 dự án, Bộ Công an đã chỉ đạo cải cách tối đa thủ tục cấp căn cước cho công dân, theo đó người dân không phải kê khai bất cứ loại giấy tờ gì khi làm thủ tục, góp phần tiết kiệm thời gian, công sức rất lớn.

Đối với nhiệm vụ rà soát TTHC, giấy tờ công dân và các Cơ sở dữ liệu liên quan đến quản lý dân cư, Ban Chỉ đạo 896 đã chỉ đạo, đôn đốc quyết liệt việc rà soát các TTHC, giấy tờ công dân và các cơ sở dữ liệu liên quan đến quản lý dân cư. Các bộ, ngành, địa phương đã tích cực triển khai thực hiện.

Đến nay, trong tổng số 1.934 TTHC có yêu cầu thông tin công dân để giải quyết, các bộ, ngành đề xuất đơn giản hóa đối với 1.126 TTHC, chiếm tỷ lệ 58,2%. Trong đó, đề xuất bãi bỏ, hủy bỏ 34 TTHC, đơn giản hóa trình tự thực hiện đối với 28 TTHC, cắt giảm thành phần hồ sơ của 1.042 TTHC, sửa nội dung 812 mẫu đơn, 201 tờ khai và đơn giản hóa 22 giấy tờ công dân.

Với chức năng, nhiệm vụ được giao, Văn phòng Ban Chỉ đạo 896 đã thực hiện rà soát độc lập và đã có công văn gửi từng bộ, ngành nhận xét đối với kết quả rà soát. Theo đó, đã đề xuất rà soát bổ sung đối với 399 TTHC, đề xuất các phương án đơn giản hóa mạnh mẽ hơn đối với 406 TTHC, nâng tổng số thủ tục có phương án lên 1.525 TTHC.

Về nhiệm vụ trong thời gian tới, Ban Chỉ đạo cho rằng, mặc dù Đề án 896 đã hoàn thành các mục tiêu, yêu cầu đề ra trong giai đoạn 2013 -2020, nhưng những kết quả này mới mang tính chất nền tảng. Nhiều nhiệm vụ cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện trong thời gian tới, trọng tâm là 3 nhóm nhiệm vụ.

Một là, tổ chức thực hiện quyết liệt và hoàn thành việc đơn giản hóa TTHC, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư trên các lĩnh vực quản lý nhà nước (theo 19 nghị quyết Chính phủ đã ban hành).

Hai là, kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành; khai thác, sử dụng có hiệu quả Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư phục vụ xây dựng Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số.

Ba là, duy trì bảo đảm hoạt động thường xuyên của Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, nhất là việc bổ sung, cập nhật thông tin dân cư, bảo đảm thông tin "đúng, đủ, sạch, sống". (Congthuong.vn 26/4, Anh Việt)Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

TPHCM: Thước đo từ dân và doanh nghiệp

Để cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh ở TP HCM, vấn đề quan trọng nhất bây giờ là công tác cán bộ. Cán bộ phải xốc tay vào làm, dám chịu trách nhiệm, lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo.

TP HCM đã ban hành loạt chương trình hành động, có giải pháp cụ thể về cải thiện môi trường đầu tư. Tuy nhiên, cần phải làm rõ đang tắc ở khâu thực hiện? Đơn cử như việc cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), muốn tốt lên thì phải làm gì để cải thiện các điểm số PCI về tiếp cận đất đai; chi phí không chính thức; tiếp cận nguồn lực? Nhóm câu hỏi để hình thành nên các trụ cột đó, địa phương nào cũng biết và biết khó chỗ nào nhưng thúc đẩy để cải thiện là điều không dễ.

Mấu chốt để thúc đẩy môi trường kinh doanh là thực thi - khâu đang hạn chế hiện nay ở TP. Chừng nào TP chưa cải thiện hơn nữa về tuyển dụng, sử dụng con người, đội ngũ cán bộ công chức, viên chức thì các giải pháp mới chỉ dừng ở phần ngọn.

Để giải bài toán nguồn lực cán bộ công chức, viên chức của TP, có thể lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm tiêu chí phục vụ, làm sao thể chế hóa yêu cầu đó. Cụ thể, doanh nghiệp và người dân có quyền đánh giá sự hài lòng về phục vụ, đánh giá với môi trường kinh doanh. Việc đánh giá phải được cụ thể hóa xuống từng sở ngành, phòng ban, từng cán bộ công chức. Chẳng hạn như khi thực hiện bất cứ thủ tục hành chính nào về thuế, hải quan, môi trường kinh doanh, đầu tư,… doanh nghiệp sẽ đánh giá năng lực của cán bộ theo thang điểm từ 1-5. Mỗi năm từ 5%-10% cán bộ công chức bị đánh giá thấp nhất sẽ bị cảnh cáo, nếu yếu kém trong 2 năm liên tiếp sẽ bị loại và thay bằng thi tuyển đội ngũ công chức mới chất lượng hơn.

Với việc áp dụng hệ thống đánh giá năng lực tới từng công chức, cán bộ, họ sẽ có động lực phải cố gắng làm việc, học hỏi từ những địa phương khác có chỉ số PCI, chỉ số cải cách hành chính (PAR Index) tốt hơn… Đổi lại, cần cơ chế đặc thù để cán bộ, công chức có động lực làm việc, cống hiến bằng những chính sách về lương, thưởng, cơ hội thăng tiến.

Sự đòi hỏi ngày càng cao của doanh nghiệp về môi trường kinh doanh đang đặt ra yêu cầu về chuẩn mực cao hơn, chất lượng phục vụ tốt hơn của cơ quan quản lý nhà nước. Nếu chính quyền địa phương không đáp ứng được, doanh nghiệp sẽ chọn lựa địa phương khác nên việc cải thiện môi trường đầu tư là đòi hỏi cấp bách.

Thực tiễn cho thấy, TP HCM đã và đang có một vị thế rất tốt, xứng đáng trở thành trung tâm kinh tế tài chính thu hút nhà đầu tư trong và ngoài nước. Những nhà đầu tư, doanh nghiệp nước ngoài khi tới Việt Nam, địa phương đầu tiên họ nghĩ đến phải là TP, rồi khi đi vào từng dự án cụ thể, thấy có băn khoăn, trục trặc… mới chuyển đến các địa phương khác.

Sức hấp dẫn tiềm tàng của TP HCM là rất lớn, khó có địa phương nào có thể vượt được, quan trọng là những vấn đề, hạn chế của TP trong thời gian qua làm mờ đi lợi thế tiềm tàng. Vì thế, rất cần sự đột phá, thay đổi để TP trở lại vị thế vốn có của mình. (Nld.com.vn 26/4, Thái Phương)Về đầu trang

Hà Nội: Nâng cao hiệu quả phục vụ nhân dân

Hiện nay, chính quyền quận được tổ chức, thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn tương tự như chính quyền huyện. Do đó, dù đã có sự phân cấp nhưng nhiều vấn đề “nóng” từ cơ sở vẫn phải chờ xin ý kiến từ cấp trên nên mất nhiều thời gian. Đó là chưa kể, với biến động kinh tế - xã hội, dân cư tăng nhanh thì bộ máy chính quyền hiện tại bộc lộ nhiều hạn chế, đòi hỏi phải có cơ chế quản lý mới...

Đây là những yêu cầu đặt ra khi Hà Nội thí điểm quản lý theo mô hình chính quyền đô thị, hướng tới xây dựng chính quyền tự chủ, năng động, hiệu quả và có đủ thẩm quyền, trách nhiệm để giải quyết những vấn đề thực tế đô thị đặt ra.

Để đạt được mục đích đó, Nghị định số 32/2021/NĐ-CP ngày 29-3-2021 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Nghị quyết số 97/2019/QH14 của Quốc hội về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội đã đưa ra lời giải.

Theo quy định mới, từ ngày 1-7-2021, mô hình hoạt động của chính quyền cơ sở ở các quận, thị xã của Hà Nội sẽ tinh gọn hơn, phục vụ người dân tốt hơn, nhanh hơn và thông suốt hơn; từ đó hiệu lực quản lý, điều hành của chính quyền cũng thống nhất, chặt chẽ hơn, giảm bớt các tầng nấc trung gian. Ngoài ra, việc quy định rõ về chế độ làm việc, trách nhiệm, quyền hạn của UBND phường, cán bộ phường, sẽ là cơ sở để UBND phường cũng như các cấp chính quyền triển khai, vận hành mô hình hành chính mới sao cho đạt hiệu quả cao nhất, phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn.

Tuy nhiên, từ các quy định đến thực tiễn công việc sẽ còn nhiều phát sinh, đòi hỏi ngay từ bây giờ công việc chuẩn bị phải kỹ lưỡng, thận trọng trong tất cả các khâu.

Theo UBND thành phố Hà Nội, việc tổ chức thực hiện mô hình chính quyền đô thị phải bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng các cấp. Sau khi sắp xếp, các tổ chức trong hệ thống chính trị ở phường cần duy trì hoạt động ổn định, bình thường. Muốn vậy, cơ quan có thẩm quyền, các sở, ngành liên quan cần sớm có hướng dẫn cụ thể với những vấn đề còn vướng mắc, đồng thời đề xuất với Trung ương những bất cập trong quá trình triển khai để có biện pháp tháo gỡ. Cùng với đó, có cơ chế, tạo điều kiện hơn nữa cho các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, nhất là khi không tổ chức HĐND phường trong nhiệm kỳ tới.

Về phía cán bộ, công chức đang công tác tại UBND quận, thị xã và các phường trực thuộc, ngoài việc không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn cũng cần phải lắng nghe tiếng nói của nhân dân để sớm đề xuất lên cấp trên những kinh nghiệm hay, những bất cập nhằm thực hiện tốt nhất việc thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị.

Trong quá trình thực hiện thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị rất cần sự hỗ trợ, hợp tác của người dân thông qua việc tìm hiểu những quy định mới liên quan, cũng như trong quá trình thực hiện các giao dịch hành chính. Trong đó, những bất cập rất cần được thông tin lại để chính quyền cơ sở tập hợp, phản ánh lên cấp trên nhằm có điều chỉnh kịp thời.

Mục đích của thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội chính là nâng cao hiệu lực, hiệu quả phục vụ tổ chức, cá nhân của chính quyền các cấp. Đó cũng là nhiệm vụ chính trị quan trọng trong năm 2021, góp phần đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XVII (nhiệm kỳ 2020-2025) Đảng bộ thành phố Hà Nội đi vào cuộc sống. (Hanoimoi.com.vn 26/4, Đỗ Quỳnh Chi)Về đầu trang

Tiêu chí Thủ tục hành chính công và Quản trị điện tử của Đồng Nai tăng điểm nhẹ

Theo báo cáo Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) năm 2020 vừa được công bố mới đây, tổng điểm chỉ số PAPI của tỉnh Đồng Nai đạt 42.51 điểm, thuộc nhóm trung bình thấp. So với năm 2019, chỉ số PAPI của tỉnh đã giảm điểm và giảm 1 nhóm hạng (43.95 điểm, nhóm trung bình cao). Trong đó, chỉ có tiêu chí Thủ tục hành chính công và Quản trị điện tử tăng điểm nhẹ, các lĩnh vực khác đều giảm điểm và giảm nhóm hạng.

Tại tiêu chí thủ tục hành chính công, đánh giá của người dân về chất lượng giải quyết các thủ tục hành chính về cấp giấy phép xây dựng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chứng thực và các thủ tục khác tại cấp xã đều cải thiện. Bên cạnh đó, tỉnh Đồng Nai cũng thuộc 5 địa phương dẫn đầu về mức độ "Tiếp cận dịch vụ tư pháp" theo đánh giá của người dân.

Tuy đánh giá chung về hiệu quả quản trị điện tử của tỉnh có cải thiện, song việc cải thiện chủ yếu tại mức độ sử dụng internet của người dân; mức độ sử dụng cổng thông tin điện tử và phúc đáp qua cổng thông tin điện tử vẫn ở mức thấp, cần nhiều cải thiện.

Chỉ số PAPI năm 2020 phản ánh, đánh giá về hiệu quả quản trị công và cung ứng dịch vụ công của các cấp chính quyền trên cơ sở khảo sát 14.732 người dân được chọn ngẫu nhiên trong dân cư về 8 lĩnh vực: Tham gia của người dân ở cấp cơ sở; công khai minh bạch; Trách nhiệm giải trình với người dân; Kiểm soát tham nhũng trong khu vực công; Thủ tục hành chính công; Cung ứng dịch vụ công; Quản trị môi trường và Quản trị điện tử.

Việc công bố chỉ số PAPI  đã đưa ra một số chỉ báo quan trọng giúp chính quyền các tỉnh, thành phố trên cả nước đưa ra các giải pháp góp phần cải thiện chất lượng hoạt động của bộ máy chính quyền các cấp, nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân, tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình của chính quyền, và cung ứng dịch vụ công căn bản chất lượng hơn. (Baodongnai.com.vn 25/4, Thảo Lâm)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Thiết lập Cổng tham vấn điện tử để gỡ bỏ rào cản kinh doanh

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình vừa có chỉ đạo về việc thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính, đổi mới thực hiện cơ chế "một cửa", "một cửa liên thông" trong giải quyết thủ tục hành chính và xây dựng chính phủ điện tử phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Theo đó, Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính  phủ và chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung chỉ đạo thực hiện nghiêm, có hiệu quả việc cắt giảm, đơn giản hóa các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh theo Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 12-5-2020 của Chính phủ.

Cụ thể, các bộ, cơ quan ngang bộ và Bảo hiểm xã hội Việt Nam chủ động thống kê, cập nhật toàn bộ các quy định, chi phí tuân thủ liên quan đến hoạt động kinh doanh thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của bộ, cơ quan, cập nhật đầy đủ, chính xác vào phần mềm thống kê, rà soát các quy định tại địa chỉ https://nq68.baocaochinhphu.gov.vn, bảo đảm tiến độ được giao.

Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan thiết lập Cổng tham vấn điện tử để hỗ trợ việc lấy ý kiến các tổ chức, hiệp hội doanh nghiệp về quy định không còn phù hợp, là rào cản, gây khó khăn đối với hoạt động kinh doanh và phương án cắt giảm, đơn giản hóa các quy định; kiên quyết trả lại các bộ, cơ quan nếu phương án cắt giảm, đơn giản hóa không đạt được chỉ tiêu được giao... (Hanoimoi.com.vn 26/4, Phương Nguyên)Về đầu trang

Ngành thuế với mục tiêu quản lý thuế, phí và lệ phí thống nhất

Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Cao Anh Tuấn cho biết, ngành thuế sẽ tập trung cùng Bộ Tài chính và cả nước tăng cường cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh... phấn đấu đến năm 2030 môi trường kinh doanh của Việt Nam được xếp vào nhóm 30 quốc gia hàng đầu (theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới).

Theo lãnh đạo Tổng cục Thuế, Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2021-2030 hướng đến 2 mục tiêu đổi mới đồng bộ hệ thống chính sách thuế để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng ngành thuế hiện đại, tập trung, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Để đạt được 2 mục tiêu này, việc cải cách phải đảm bảo tính ổn định, bền vững về quy mô nguồn lực, có mức động viên hợp lý các nguồn lực cho ngân sách nhà nước, góp phần thiết lập môi trường kinh tế cạnh tranh phù hợp với quá trình hội nhập, phát triển của nền kinh tế. Cụ thể, tập trung triển khai thành 2 giai đoạn gồm giai đoạn 2021-2025 và giai đoạn 2026-2030, đảm bảo thực hiện đúng các mục tiêu đề ra, tạo tiền đề để ngành thuế triển khai thắng lợi toàn bộ Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2021-2030.

Theo đó, đổi mới đồng bộ hệ thống chính sách thuế để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; trong đó, đảm bảo tính ổn định, bền vững của quy mô nguồn lực; có mức động viên hợp lý các nguồn lực cho ngân sách Nhà nước góp phần thiết lập môi trường kinh tế cạnh tranh phù hợp với quá trình hội nhập, phát triển của nền kinh tế.

Ngoài ra, xây dựng ngành thuế hiện đại, tập trung, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; quản lý thuế, phí và lệ phí thống nhất, minh bạch, chuyên sâu, chuyên nghiệp theo phương pháp quản lý rủi ro, đồng thời dựa trên nền tảng thuế điện tử. Bên cạnh đó, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng chính phủ điện tử, tiến tới chính phủ số, phấn đấu đến năm 2030, hoàn thành xây dựng chính phủ số, đứng trong nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới và xếp thứ ba trong khu vực ASEAN về chính phủ điện tử, kinh tế số.

"Ngành thuế sẽ tiếp tục tăng cường cải cách hành chính, qua đó góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, xây dựng nhanh nền hành chính hiện đại, dựa trên đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có tính chuyên nghiệp cao, có năng lực sáng tạo, phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh chính trị, phục vụ người dân, doanh nghiệp", Tổng cục trưởng Cao Anh Tuấn nhấn mạnh.

Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 đã xây dựng ngành thuế Việt Nam hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; quản lý thuế, phí và lệ phí thống nhất, minh bạch, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện dựa trên ba nền tảng cơ bản thể chế chính sách thuế minh bạch, quy trình thủ tục hành chính thuế đơn giản, khoa học phù hợp với thông lệ quốc tế; nguồn nhân lực có chất lượng, liêm chính; ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, có tính liên kết, tích hợp, tự động hóa cao. (TTXVN/VietnamPlus.vn 25/4)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Thắt chặt chi tiêu, triệt để tiết kiệm trong năm 2021

Thực hành tiết kiệm chống lãng phí luôn là vấn đề được Bộ Tài chính coi trọng. Đây được cho là cách làm hiệu quả, thiết thực nhất để giảm tỷ trọng chi thường xuyên trong năm 2021 này.

“Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”, phải “thắt lưng buộc bụng”, hay “ngân sách co kéo trong tấm chăn hẹp”, là những cụm từ hay được nhắc đến thời gian qua khi cơ cấu lại thu – chi ngân sách nhà nước (NSNN). Trong bối cảnh nhu cầu đầu tư của nước ta còn rất lớn, phải vay nợ cho đầu tư phát triển thì nhu cầu chi sẽ lớn hơn số thu. Nhưng nhiều năm qua, kinh nghiệm trong điều hành NSNN của Bộ Tài chính cho thấy, thực hành tiết kiệm chống lãng phí sẽ giảm chi thường xuyên, từ đó có thêm nguồn chi cho đầu tư phát triển, chi cho an sinh xã hội và nhiều nhiệm vụ cấp bách phát sinh.

Hàng năm, thực hiện chương trình của Chính phủ, Bộ Tài chính ban hành Chương trình thực hành tiết kiệm, chống lãng phí với những chỉ tiêu cụ thể. Cũng như các năm trước, ngay từ đầu năm Bộ Tài chính đề ra một loạt giải pháp trọng tâm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong năm 2021. Trong đó, ưu tiên hàng đầu là siết chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính, ngân sách, kiểm soát chặt chẽ bội chi NSNN. Đồng thời, tiếp tục cơ cấu lại chi NSNN theo hướng hiệu quả, bền vững; giữ cơ cấu hợp lý giữa tích lũy và tiêu dùng, tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển, giảm tỷ trọng chi thường xuyên, đảm bảo chi cho con người, an sinh xã hội.

Bộ Tài chính cũng đặt mục tiêu tiếp tục quán triệt nguyên tắc công khai, minh bạch và yêu cầu thực hiện triệt để tiết kiệm, chống lãng phí ngay từ khâu xác định nhiệm vụ. Chủ động rà soát các chính sách, nhiệm vụ trùng lắp, kém hiệu quả, sắp xếp thứ tự ưu tiên các khoản chi thực hiện theo mức độ cấp thiết, quan trọng và khả năng triển khai thực hiện trong năm 2021 để hoàn thành các nhiệm vụ, chương trình, dự án, đề án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cũng phải thực hiện trên nhiều lĩnh vực, trong đó có quản lý nợ công. Theo đó, việc huy động, quản lý và sử dụng vốn vay phải gắn với việc cơ cấu lại đầu tư công và định hướng huy động, sử dụng nguồn vốn này trong từng thời kỳ. Đồng thời, thực hiện rà soát chặt chẽ kế hoạch sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài; kiên quyết loại bỏ các dự án không thật sự cần thiết, kém hiệu quả…

Báo cáo kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2020 đang được Bộ Tài chính tổng hợp để báo cáo Chính phủ. Nhìn lại 2 năm trước, năm 2019, theo báo cáo của Chính phủ, kết quả tiết kiệm NSNN, vốn nhà nước tại doanh nghiệp trên cả nước năm này đã đạt con số hơn 61 nghìn tỷ đồng, tăng 20,4% so với năm 2018. Về cải cách hành chính, trong những năm gần đây, các bộ, ngành, địa phương đã tiết kiệm hàng triệu công lao động với hàng nghìn tỷ đồng.

Nhiều năm nay, thực hiện chủ trương tiết kiệm, các bộ, ngành, địa phương phải tiết kiệm 10% chi thường xuyên; cắt giảm 100% việc tổ chức lễ động thổ, lễ khởi công, khánh thành các công trình xây dựng cơ bản... Bên cạnh đó, phải sử dụng hiệu quả kinh phí NSNN thực hiện nhiệm vụ giáo dục và đào tạo; đầu tư cho các cơ sở giáo dục công lập cần có trọng điểm, tập trung ưu tiên cho giáo dục phổ cập... Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động; mục tiêu đến năm 2021 giảm tối thiểu 10% đơn vị sự nghiệp công lập so với năm 2015.

Nhờ thực hiện đồng bộ các giải pháp, dự toán chi thường xuyên đã giảm dần những năm gần đây. 5 năm (2016 - 2020) chi NSNN giảm khoảng 28 nghìn tỷ đồng. Việc siết giảm chi tiêu ngân sách ngay từ khâu dự toán được cho là những động thái quyết liệt, cụ thể của Bộ Tài chính trước tình trạng thất thoát, lãng phí trong chi tiêu ngân sách nói chung.

Hướng dẫn xây dựng dự toán NSNN năm 2021, Bộ Tài chính đề nghị các bộ, cơ quan trung ương và địa phương xây dựng dự toán chi thường xuyên năm 2021 cho từng lĩnh vực chi, phải triệt để tiết kiệm, đảm bảo đúng tính chất nguồn kinh phí, đáp ứng các nhiệm vụ chính trị quan trọng.

Đồng thời, phải thực hiện đầy đủ các chính sách, chế độ nhà nước đã ban hành, nhất là các chính sách chi cho con người, chi an sinh xã hội trong bối cảnh còn nhiều khó khăn do thiên tai, dịch bệnh. Theo đó, dự toán chi mua sắm, bảo dưỡng, sửa chữa tài sản phải căn cứ quy định về tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng tài sản công hiện hành. Ngoài ra, hạn chế mua sắm xe ô tô công và trang thiết bị đắt tiền, tiếp tục thực hiện khoán kinh phí sử dụng xe ô tô công theo quy định... (Thoibaotaichinhvietnam.vn 26/4, Minh Anh)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Cải cách dễ hái đã hết

Thủ tướng đã ký văn bản yêu cầu toàn hệ thống rà soát các quy định của pháp luật đang cản trở đầu tư, kinh doanh trong nỗ lực khơi thông dòng chảy vốn và thúc đẩy lòng tin đang bị hao mòn bởi tác động của đại dịch.

Một trong những văn bản điều hành đầu tiên được Thủ tướng Phạm Minh Chính ban hành là yêu cầu các bộ, ngành, địa phương rà soát, kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật gây vướng mắc, ách tắc, cản trở hoạt động đầu tư, kinh doanh và đời sống xã hội.

Trong công văn số 514 ngày 22/4, ông yêu cầu trên cơ sở thực tiễn quản lý, điều hành, các bộ, ngành và địa phương phải khẩn trương tổ chức rà soát, thống kê các quy định gây mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ, không còn phù hợp với thực tiễn trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành (luật, nghị định, thông tư) đang gây khó khăn, vướng mắc, cản trở các hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân, làm giảm hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Động thái đó cho thấy, quan tâm của Thủ tướng là khơi thông những rào cản kinh doanh đang kìm hãm, cản trở sự phát triển của khu vực doanh nghiệp trong bối cảnh nền kinh tế đang rất khó khăn dưới tác động của đại dịch Covid-19.

Cải thiện môi trường kinh doanh và phát triển doanh nghiệp là một trong những trọng tâm chính sách của Chính phủ trong thời gian qua. Liên tục trong bảy năm qua, mỗi năm Chính phủ đã ban hành một Nghị quyết về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia (Nghị quyết 19/NQ-CP trong các năm 2014 - 2018 và nghị quyết 02/NQ-CP năm 2019 và 2020).

Chính phủ cũng đã ban hành nghị quyết 35/NQ-CP năm 2016 với mục tiêu có 1 triêu doanh nghiệp vào năm 2020. Tuy nhiên, mục tiêu đó đã không hoàn thành vì chỉ có 811.538 doanh nghiệp đang hoạt động tại thời điểm cuối năm 2020.

Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Vũ Tiến Lộc cho rằng cải cách môi trường đầu tư kinh doanh trong 5 năm qua là điểm sáng của Chính phủ. Năm 2016, cuộc cách mạng đầu tiên bãi bỏ chuyển đổi hàng ngàn điều kiện kinh doanh từ thông tư sang nghị định, xoá bỏ giấy phép con. Đến năm 2018, tiếp tục cắt giảm được 50-60% điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính và kiểm tra chuyên ngành. Năm 2020, ban hành nghị quyết 68 yêu cầu tiếp tục cắt giảm tiếp 20% các quy định hành chính liên quan đến kinh doanh.

Tỷ lệ doanh nghiệp phải xin giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh giảm từ mức 58% năm 2017 xuống 48% năm 2018, tỷ lệ gặp khó khăn khi thực hiện thủ tục giảm từ 42% xuống còn 34%. Tỷ lệ doanh nghiệp xin giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh có xu hướng tăng lên 52% năm 2019 và 59% năm 2020.

Bà Trần Thị Hồng Minh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), Giám đốc Chương trình Australia hỗ trợ cải cách kinh tế Việt Nam – Aus4Reform cho rằng, chương trình cải cách môi trường kinh doanh trong thời gian qua được ghi nhận bằng thứ hạng của Việt Nam trên các bảng xếp hạng quốc tế, đặc biệt qua hai trụ cột là cải cách về điều kiện kinh doanh và quản lý, kiểm tra chuyên ngành.

Tuy nhiên, bà Minh cho rằng môi trường kinh doanh vẫn còn nhiều trở ngại với doanh nghiệp như: các điều kiện kinh doanh bất cập ở cấp luật; điều kiện kinh doanh chồng chéo, không cần thiết, không minh bạch hoặc can thiệp sâu vào quyền tự quyết của doanh nghiệp; hoạt động kiểm tra chuyên ngành chuyển biến chậm; cơ chế một cửa chưa thực sự hiệu quả khi doanh nghiệp vẫn phải nộp kèm bản giấy, thiếu kết nối giữa các bộ ngành, hệ thống công nghệ thông tin bị nghẽn.

Ông Lộc đồng tình nhận xét này: “Điều đáng nói là, dường như các vấn đề dễ làm thì chúng ta đều đã làm, những việc còn lại cần phải làm thì khó khăn hơn rất nhiều”, ông nói.

Báo cáo “Chương trình cải cách môi trường kinh doanh Việt Nam: Góc nhìn từ doanh nghiệp” (thuộc Chương trình Australia hỗ trợ cải cách kinh tế Việt Nam - Aus4Reform), cho biết, tốc độ cải thiện môi trường kinh doanh dường như chậm lại so với các năm trước, và xu hướng thay đổi của các lĩnh vực tương đối trái ngược: các lĩnh vực có điểm số thấp (phá sản, bảo vệ nhà đầu tư và xuất nhập khẩu) tăng điểm, trong khi các lĩnh vực có điểm cao (thành lập doanh nghiệp, tiếp cận điện năng) lại giảm điểm. Tiếp cận tín dụng năm 2020 được doanh nghiệp cảm nhận khó khăn hơn sơ với năm 2019.

Các thủ tục hành chính liên quan đến xây dựng vẫn chưa thực sự dễ dàng với doanh nghiệp. Các thủ tục khó khăn nhất gồm đất đai, giải phóng mặt bằng, quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, quyết định chủ trương đầu tư… 

Ông Lộc nói: “Ngày càng nhiều doanh nghiệp phản ánh tình trạng các thông tin được công bố rất chung chung, chỉ là các con số tổng, không có ý nghĩa để doanh nghiệp sử dụng. Để bước từ thể chế kém lên thể chế trung bình dễ, nhưng bước từ thể chế trung bình lên thể chế tốt khó khăn hơn rất nhiều”.

Phó Viện trưởng CIEM Phan Đức Hiếu cho biết, các quốc gia ASEAN đều đang dốc sức trong cuộc đua tăng hạng toàn cầu.

Trong 5 năm qua, tốc độ cải cách môi trường kinh doanh của Indonesia tăng 40 bậc, trong khi Việt Nam chỉ tăng 8 bậc. Các quốc gia như Thái Lan và Malaysia đang ở thứ hạng lần lượt là top 10 hoặc top 20 nhưng đều tăng 5 bậc.

Ông nhận định, các “đối thủ” này vẫn tiếp tục tiến xa trên con đường cải cách, dù đã đứng ở top đầu. Điều này chứng tỏ Việt Nam ở vị trí trung bình trong bảng xếp hạng cần phải tăng tới 40 bậc nếu muốn đuổi kịp các quốc gia này. Đây là áp lực cải cách rất lớn với Việt Nam.

“Việt Nam đã vào top 4 các nước trong khu vực, nhưng chất lượng giữa chúng ta với nhóm đứng đầu quá xa. Chúng ta đang ở vị trí 70 vươn lên top 10 là những nước chúng ta đang muốn bắt kịp thì khoảng cách là quá xa nên rất khó. Nỗ lực để chúng ta được lọt vào top đã khó, nỗ lực tiếp để ngang bằng với họ còn khó khăn vô vàn. Đây là thách thức rất lớn”.

Ông Hiếu nói, đòi hỏi cải cách ở Việt Nam lúc này rất lớn theo tinh thần nghị quyết Đại hội 13 doanh nghiệp tư nhân phải trở thành động lực quan trọng của phát triển kinh tế và nhu cầu phục hồi kinh tế xã hội vì Covid là rất lớn. Ông cũng đề nghị thành lập cơ quan giám sát cải cách. (Vietnamnet.vn 26/4, Lan Anh)Về đầu trang

Cải cách môi trường kinh doanh Việt Nam: Động lực từ những việc chưa làm được

Chuyên tâm mổ xẻ, phân tích những điểm tồn tại, nút thắt để tìm giải pháp cải thiện đang là đề xuất của giới chuyên gia, doanh nghiệp cho cách thức cải cách môi trường kinh doanh.

Không ít công chức, lãnh đạo một số cơ quan của Bắc Giang có thể đang lo lắng. Dù Bắc Giang đã tăng tới 13 bậc trên Bảng xếp hạng Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), từ 40/63 năm 2019 lên 27/63 năm 2020 - vượt 3 bậc so với kế hoạch, nhưng có tới 5 chỉ số giảm điểm (tiếp cận đất đai, tính minh bạch, tính năng động của chính quyền, đào tạo lao động và thiết chế pháp lý).

“Những đầu mối được giao phụ trách cải thiện các chỉ số thành phần này sẽ phải chịu trách nhiệm trước lãnh đạo tỉnh vì không hoàn thành nhiệm vụ”, ông Đồng Anh Quân, Phó giám đốc Trung tâm Xúc tiến đầu tư Bắc Giang cho biết tại buổi công bố Báo cáo Chương trình cải cách môi trường kinh doanh Việt Nam: Góc nhìn từ doanh nghiệp vào tuần trước.

Sau khi PCI 2019 được công bố với thứ hạng của Bắc Giang giảm 2 năm liền, UBND tỉnh đã có cuộc làm việc trực tuyến với 209 xã, phường trong toàn tỉnh để quán triệt nhận thức của từng công chức về cải thiện môi trường kinh doanh, xây dựng môi trường đầu tư thân thiện. Tiếp ngay sau, kế hoạch nâng hạng các chỉ số thành phần của PCI được UBND tỉnh phê duyệt, giao đầu mối cho từng đơn vị. Yêu cầu đặt rõ là, nếu không hoàn thành, đơn vị đầu mối, người đứng đầu đơn vị đó sẽ phải chịu trách nhiệm.

“Đó là hội nghị trực tuyến lớn nhất, ấn tượng nhất về PCI mà tôi từng dự. Phải đến 5.000 công chức tham gia bàn về cách hỗ trợ doanh nghiệp, nhà đầu tư, cắt giảm các thủ tục hành chính. Tôi tin là các đầu mối chưa hoàn thành nhiệm vụ sẽ có thêm nhiều giải pháp mới để làm tốt hơn”, ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI), chuyên  gia Dự án PCI chia sẻ.

Nhìn vào 5 chỉ số thăng hạng khá cao của Bắc Giang trong PCI 2020, gồm chi phí gia nhập thị trường, chi phí thời gian, chi phí không chính thức, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp và cạnh tranh bình đẳng, có tới 4 chỉ số giảm điểm trong PCI 2019 so với PCI 2018 (chỉ trừ cạnh tranh bình bẳng). Đây chính là các chỉ số được UBND tỉnh đề ra giải pháp, phân công nhiệm vụ cụ thể tới từng cơ quan, đơn vị, địa phương. Các thủ tục hành chính liên quan đến thành lập doanh nghiệp, đầu tư kinh doanh... được sơ đồ hóa từng bước để doanh nghiệp tiên liệu được sẽ phải làm gì, mất bao thời gian. Sơ đồ này được phát hành miễn phí tại Trung tâm hành chính công của tỉnh, trên trang thông tin của tỉnh. Các tổ nhận phản ánh khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp được thiết lập. Với các dự án phức tạp, quy mô lớn, tỉnh thành lập riêng tổ công tác để trực tiếp xử lý...

Doanh nghiệp đã cảm nhận được những chuyển biến tích cực trong thực tế và PCI Bắc Giang tăng hạng.

Ông Phan Đức Hiếu, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cũng có mặt tại buổi công bố Báo cáo trong vai một bên thực hiện. Vì đây là báo cáo khảo sát tình hình thực hiện Nghị quyết 02 và Nghị quyết 35 về cải thiện môi trường kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp, do VCCI và CIEM thực hiện.

Tuy nhiên, ông Hiếu cảm thấy băn khoăn, không biết nên chia sẻ điều gì từ báo cáo này. “Khảo sát doanh nghiệp đang cho thấy có nơi cải cách, có nơi chậm, có nơi tụt lùi. Cải cách không đều thì doanh nghiệp sẽ không cảm nhận được, vì làm một thủ tục tốt, sang việc khác lại mắc. Rồi nhiều tồn tại, vướng mắc mà Nghị quyết 02 chưa đề cập”, ông Hiếu lý giải.

Có thể nhắc đến tỷ lệ 60% doanh nghiệp nói “phải cần tới quan hệ để có được các thông tin của địa phương”. Có tới 68% doanh nghiệp phải hủy bỏ kế hoạch kinh doanh vì không thực hiện được thủ tục đúng hạn. Và nhiều khó khăn, rào cản bất thành văn, nhưng là rủi ro vô cùng cho doanh nghiệp. “Tôi không phủ nhận những cải cách đã làm được những năm qua, nhưng nói đến những điểm còn tồn tại, chưa làm được, để thấy công việc trước mắt còn nặng nề”, ông Hiếu nói.

Thực ra, ông Hiếu và các chuyên gia kinh tế đang rất sốt ruột về tốc độ cải thiện môi trường kinh doanh của Việt Nam khi so với tốc độ cải thiện của Malaysia, Thái Lan và cả Singapore. Đây là các nền kinh tế đứng ở top 20 trong Bảng xếp hạng Môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới, nhưng tham vọng thăng hạng vẫn rất lớn. Câu chuyện về đại biểu Singapore dành cả bài phát biểu trong một hội nghị về môi trường kinh doanh giữa các nước ASEAN chỉ để nói về những việc làm chưa tốt, phải làm tốt hơn... được kể lại.

“Môi trường kinh doanh của Singpore đang được xếp đầu ASEAN mà họ còn nói vậy, thì thách thức cải cách của chúng ta vô cùng lớn”, ông Hiếu nói.

Bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế đồng tình với cách nhìn này khi nhắc tới điểm thấp của thủ tục về xuất nhập khẩu, cấp phép xây dựng, bảo vệ nhà đầu tư... “Một nền kinh tế mở như Việt Nam mà tại sao thủ tục xuất nhập khẩu bị gây khó? Chúng ta hăng hái tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu mà thủ tục đầu tư, xây dựng, đất đai, điều kiện kinh doanh... khó thế, chi phí cao thế, thì doanh nghiệp nào dám làm”, bà Lan đặt câu hỏi.

Luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI vừa mất vài tháng để hoàn tất thủ tục thành lập công ty của mình. “Mấy chục năm làm tư vấn cho doanh nghiệp, giờ tự mình khởi nghiệp mà vẫn thấy quá nhiêu khê. Thủ tục có thể nhanh nhờ ứng dụng công nghệ, nhưng tư duy con người thì cải cách không đều, nên mới có cảnh cứ 3 bước tiến lại 1 bước lùi”, ông Đức trăn trở. (Baodautu.vn 26/4, Khánh An)Về đầu trang./. 

 

Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.015.978 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này