Bản tin cải cách hành chính ngày 28/5/2021

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. Năm 2020, tinh giản biên chế được gần 23.900 người

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

2. “Cần thí điểm cải cách thể chế ở TP.HCM”

3. Chỉ số cải cách hành chính năm 2020 của Hà Nội: Kết quả từ nỗ lực và sáng tạo

4. Hà Nội thực hiện cải cách hành chính: Không có điểm dừng

5. Vì sao thứ hạng chỉ số PCI của Kiên Giang liên tục giảm?

6. Sở Văn hóa và Thể thao Khánh Hòa: Chuyển biến mạnh về cải cách hành chính

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

7. Công khai minh bạch trong đấu thầu, chỉ định thầu

8. Ứng dụng CNTT của ngành Thuế: Doanh nghiệp, người dân là trung tâm cải cách

9. Tra cứu thông tin qua Cơ sở dữ liệu quốc gia về Bảo hiểm từ ngày 01/6

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

10. Tinh giản, khó mấy cũng làm

 

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Năm 2020, tinh giản biên chế được gần 23.900 người

Chiều 27-5, tại phiên họp thứ 56 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã trình báo cáo kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong năm 2020. Theo đó, trong năm 2020, cả nước đã tinh giản biên chế được gần 23.896 người. Đây là kết quả tích cực trong công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Theo báo cáo, Chính phủ tiếp tục chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính nhà nước theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, tinh giản biên chế; các bộ, ngành, địa phương tích cực rà soát, kiện toàn hệ tổ chức bộ máy theo hướng giảm bớt những bất cập, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, gắn kết chặt chẽ với chính sách tinh giản biên chế. Đã hoàn thành việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã (giảm 06 đơn vị cấp huyện và 546 đơn vị cấp xã). Tinh giản biên chế tiếp tục đạt được những kết quả tích cực, năm 2020 đã thực hiện tinh giản biên chế 23.896 người.

Công tác cải cách thủ tục hành chính, xây dựng chính phủ điện tử tiếp tục đạt được nhiều kết quả tốt; tăng cường họp, làm việc trực tuyến, xử lý hồ sơ công việc trên môi trường điện tử, giúp tiết kiệm thời gian, chi phí (tiết kiệm được khoảng 18 triệu ngày công/năm, tương đương hơn 6.300 tỷ đồng/năm).

Cơ chế một cửa, một cửa liên thông, một cửa quốc gia, một cửa ASEAN tiếp tục được mở rộng, nâng cao chất lượng, hiệu quả, tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại qua biên giới; giúp cải thiện năng lực cạnh tranh, môi trường kinh doanh, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững của Việt Nam.

Tuy nhiên, tại báo cáo, Chính phủ cũng thừa nhận một số tồn tại, hạn chế như: Tổ chức bộ máy một số cơ quan vẫn còn cồng kềnh, nhiều cấp trung gian; kết quả thực hiện chính sách tinh giản biên chế chưa thực sự gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; cải cách hành chính ở một số lĩnh vực còn bất cập, hiệu quả chưa cao; tình trạng trễ hẹn trong giải quyết và trả kết quả giải quyết hồ sơ vẫn còn xảy ra ở một số lĩnh vực; vẫn còn hiện tượng một bộ phận công chức, viên chức có biểu hiện nhũng nhiễu, gây phiền hà trong xử lý công việc liên quan đến người dân, doanh nghiệp…

Tiếp tục triển khai hiệu quả những nhiệm vụ trong thời gian tới, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ sẽ tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hành tiết kiệm chống lãng phí tại các bộ, ngành, địa phương. Xây dựng kế hoạch cụ thể thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu tiết kiệm cho từng lĩnh vực, gắn với công tác thanh tra, kiểm tra thường xuyên; phân công rõ trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Đưa kết quả thực hành tiết kiệm chống lãng phí là tiêu chí đánh giá công tác thi đua, khen thưởng và bổ nhiệm cán bộ, công chức, viên chức.

Đồng thời, triển khai thực hiện có hiệu quả pháp luật về thực hành tiết kiệm chống lãng phí, gắn với công tác phòng chống tham nhũng. Nâng cao công tác phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương; giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể trong công tác thực hành tiết kiệm chống lãng phí. (Dangcongsan.vn 28/5, Bích Liên)Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

“Cần thí điểm cải cách thể chế ở TP.HCM”

TS Vũ Thành Tự Anh cho rằng ngoài tăng tỷ lệ điều tiết ngân sách cho TP.HCM thì còn một biện pháp giúp tăng nguồn lực, là biến nơi đây thành nơi thử nghiệm cải cách thể chế.

Theo TS Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc Trường Chính sách công và quản lý - Đại học Fulbright Việt Nam, có một yếu tố quan trọng có thể thực hiện được sẽ mở ra các cánh cửa khác, thậm chí là “vận hội” khác cho TP.HCMC phát triển. Đó là thực hiện một cách nhất quán chủ trương cho phép TP.HCM trở thành một “thí điểm cải cách thể chế” theo mô hình sandbox về đổi mới thể chế.

TP.HCM đóng góp 1/4 GDP và ngân sách cho cả nước, thậm chí trong một số lĩnh vực như tài chính, giá trị gia tăng thị trường tài chính của thành phố đóng góp tới 1/3.

Là đầu tàu kinh tế của cả nước nhưng so với các đô thị khác trong khu vực như Seoul, Tokyo, Singapore, thậm chí là Bangkok… TP.HCM đang dần tụt hậu. Điều này thể hiện rõ rệt qua các chỉ số đánh giá của các tổ chức quốc tế liên quan đến tiềm năng tăng trưởng, sự hấp dẫn với các nhà đầu tư, tính đổi mới sáng tạo của địa phương.

Nhìn trực quan, TP.HCM đang đối diện một loạt khó khăn: Cơ sở hạ tầng yếu kém, xuống cấp, tắc đường, kẹt xe, ô nhiễm môi trường, cung ứng dịch vụ công cũng hạn chế… không đáp ứng được nhu cầu của một siêu đô thị với dân số ngày càng tăng, mật độ dân số cao nhất cả nước. Đây là biểu hiện rõ rệt của tình trạng thiếu và khan hiếm nguồn lực.

Tuy nhiên, việc tăng tỷ lệ điều tiết từ 18% lên 23% chỉ là một trong những biện pháp để chúng ta có thể tăng nguồn lực cho TP.HCM.

Một yếu tố quan trọng có thể thực hiện được sẽ mở ra các cánh cửa khác, thậm chí là “vận hội” khác cho địa phương này phát triển. Đó là thực hiện một cách nhất quán chủ trương cho phép TP.HCM trở thành một thí điểm cải cách thể chế theo mô hình sandbox về đổi mới thể chế.

Ví dụ như để TP.HCM phát triển được cơ sở hạ tầng, có thể có sandbox liên quan đến việc tạo các cơ chế để thành phố có thể huy động được thêm các nguồn lực tư nhân, từ hệ thống tài chính để phát triển cơ sở hạ tầng.

TP.HCM cần xây dựng rất nhiều cơ sở hạ tầng, đường xá, khu đô thị mới… Khi các cơ sở hạ tầng này mọc lên thì giá đất ở các khu vực này tăng lên tương ứng nhưng hiện thành phố không được hưởng lợi bất kỳ điều gì từ giá đất tăng lên này. Giá trị đó đang được phân bổ cho những chủ sở hữu đất xung quanh đấy.

Vậy một trong cơ chế thí điểm, đó là cho thành phố cơ chế phát hành "trái phiếu công trình" để thực hiện các giao dịch tài chính để vay vốn.

Ví dụ khi xây một cây cầu, chúng ta xác định một quỹ đất công gắn liền và được hưởng lợi trực tiếp từ công trình đó. Dùng đất công đi huy động trái phiếu công trình. Lúc đó ngân sách Nhà nước sẽ được tiết kiệm bởi vì chúng ta huy động thông qua thị trường tài chính. Khi công trình đó gần hoàn thành thì giá trị đất theo giá thị trường nó sẽ đi lên. Chúng ta bán đấu giá đất công lấy tiền tài trợ cho chính cơ sở hạ tầng đó.

Đây là những cơ chế sandbox mà nếu Trung ương cho phép, thành phố có thể sẽ thực hiện được để tăng cường năng lực đáp ứng về cơ sở hạ tầng.

Bộ Chính trị có Nghị quyết 54 cho phép TP.HCM có những thí điểm về cải cách. Đây là điều quan trọng nhưng những nguyên tắc như vậy nó rất rộng và nhiều khi không đáp ứng được nhu cầu rất cụ thể, của các công việc cụ thể như phát triển thị trường tài chính, xây dựng cơ sở hạ tầng hay tạo ra một thành phố đô thị thông minh. Do vậy, các chính sách thí điểm nên gắn vào một hoạt động cụ thể nào đó.

Ví dụ TP.HCM muốn phát triển trung tâm tài chính ở quận 1 và Thủ Thiêm, cơ chế sandbox về chính sách nó áp dụng cho riêng cái đó. Nếu như TP.HCM muốn phát triển đô thị Thủ Đức thì cần một cơ chế thí điểm chính sách cho Thủ Đức…

Đừng có "gói" tất cả các thứ lại thành một nghị quyết vì như thế nó không bao trùm được hết và đến lúc khi thực hiện thì nó lại không đủ cụ thể. Nó vừa không đủ rộng, và vừa không đủ cụ thể thì rất khó đáp ứng được cái nhu cầu cụ thể của một dự án như trung tâm tài chính hay đô thị mới ở Thủ Đức.

Chúng ta cần phải tư duy câu chuyện cho thành phố ở 3 cấp độ:

Cấp độ đầu tiên là cấp độ trung ương. TP.HCM luôn nằm trong khuôn khổ điều tiết và khuôn khổ chiến lược quốc gia. Vì vậy, xuất phát điểm đầu tiên đó là vai trò và định vị của TP.HCM trong chiến lược phát triển của quốc gia, cạnh tranh với các quốc gia khác trong vùng và trên thế giới như thế nào?

Tôi nghĩ đây là điều rất then chốt, nếu như TP.HCM được coi như là một thành phố tiên phong của cả nước, được thực hiện các chính sách của quốc gia trên địa bàn thành phố thì lúc đấy địa phương này mới có cơ hội để phát triển.

TP.HCM phải được Trung ương coi như đây là một điểm đột phá. Đây là một điểm thử nghiệm các cải cách mới, đây là một điểm đưa Việt Nam đi đến vị trí tiên phong và cạnh tranh một cách ngang hàng bình đẳng với các đô thị khác trên thế giới.

Và trên cơ sở đó thì mới tạo ra cơ chế thử nghiệm về chính sách gọi là policy sandbox (thử nghiệm thể chế). Lúc đó thành phố mới có thêm không gian để mở ra các phương thức mới về quản trị địa phương và huy động nguồn lực.

Hai là cấp độ địa phương. Ngay cả khi mong muốn trung ương có sự nhìn nhận và quyết sách về vị trí của mình, định vị của mình thì đồng thời chính quyền TP.HCM phải tự chủ động.

Ví dụ như chính quyền TP phải tạo ra những điều kiện cần thiết như làm thế nào để tạo ra một môi trường kinh doanh thông thoáng hiệu quả? Làm thế nào để xây dựng một chính quyền đô thị gần dân và có trách nhiệm giải trình? Làm thế nào để giảm đi những tắc nghẽn, giảm ngập nước và cải thiện môi trường, biến thành phố thành nơi đáng sống...

Và tất cả những điều đó nó tất nhiên không phụ thuộc hoàn toàn vào trung ương, mà chủ yếu phụ thuộc vào các quyết tâm của chính quyền địa phương, và một phần nữa là phụ thuộc vào nguồn lực. Đây cũng là những điều kiện cần thiết để đưa thành phố nâng hạng so sánh với các đô thị khác.

Ba là cấp vùng. TP.HCM chắc chắn không thể nào tự phát triển một mình, mà để phát triển được và trở thành đầu tàu của cả nước, cũng như có một vị thế xứng đáng ở một khu vực thì thành phố không thể đi một mình. 

Anh muốn đi xa, đi một cách mạnh mẽ thì phải đi cùng những người khác. Điều đó có nghĩa là vai trò của TP.HCM như một trụ cột, người kết nối, người điều phối ở cả vùng kinh tế trọng điểm phía Nam phải được khẳng định.

Và điều đó phải được thể hiện qua các chính sách liên kết vùng, chẳng hạn như liên kết cơ sở hạ tầng giao thông, liên kết cơ chế và sự giao lưu giữa các luồng tài chính, luồng hàng hóa… với các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (gồm Đồng Nai, Bình Dương, Long An, Tây Ninh, Tiền Giang, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước). (Zingnews.vn 28/5, Quỳnh Như)Về đầu trang

Chỉ số cải cách hành chính năm 2020 của Hà Nội: Kết quả từ nỗ lực và sáng tạo

Chỉ số cải cách hành chính (PAR Index) năm 2020 của các cơ quan, đơn vị trên địa bàn thành phố Hà Nội khá khả quan khi có tới 18 quận, 3 sở đạt trên 90 trong tổng số 100 điểm. Đây là kết quả cao nhất từ trước đến nay, phản ánh sự nỗ lực, sáng tạo của các đơn vị trong quá trình thực hiện công việc.

Theo Quyết định số 2001/QĐ-UBND ngày 5-5-2021 của UBND thành phố Hà Nội “Về việc phê duyệt và công bố Chỉ số cải cách hành chính năm 2020 của các sở và cơ quan tương đương sở, UBND các quận, huyện, thị xã thuộc thành phố Hà Nội”, dẫn đầu khối sở, cơ quan tương đương sở là Sở Tài chính với tổng điểm đạt 92,76; dẫn đầu khối UBND quận, huyện, thị xã tiếp tục là quận Cầu Giấy với tổng điểm đạt 94,22 (năm 2019 quận Cầu Giấy cũng dẫn đầu với tổng điểm 95,61).

Chia sẻ về cách thức triển khai thực hiện công tác cải cách hành chính, Trưởng phòng Nội vụ quận Cầu Giấy Nguyễn Minh Hiển cho biết: “Năm 2020, chúng tôi tiếp tục quan tâm tới việc tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi thực hiện thủ tục hành chính cũng như tăng cường sự tương tác giữa nhân dân với chính quyền”.

Về việc này, bà Trần Thị Mai (phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy) xác thực: “Ngay trên Cổng thông tin điện tử quận Cầu Giấy có mục về “dịch vụ công trực tuyến”, “tra cứu kết quả hồ sơ”, “hỏi đáp - góp ý” nên rất tiện cho chúng tôi khi cần tra cứu thông tin hoặc gửi câu hỏi tới các cơ quan chức năng”. 

Là năm đầu tiên tăng tới 6 thứ hạng và vươn lên vị trí dẫn đầu khối sở, Sở Tài chính đã khẳng định được sự nỗ lực của mình trong việc đơn giản hóa thủ tục hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin. Về sự tiến bộ này, Phó Chánh Văn phòng Sở Tài chính Nguyễn Trung Dũng thông tin: “Năm 2020, Sở đã rà soát và đơn giản hóa 12/16 thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền. Toàn bộ 16 thủ tục đều được thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 và kết quả đều được trả đúng hoặc trước hạn, không có hồ sơ chậm, muộn”.

Đáng chú ý, ở khối quận, huyện, thị xã, có 3 quận liên tiếp duy trì thứ hạng trong năm 2019 và 2020, đó là: Cầu Giấy (đứng đầu), Long Biên (thứ hai), Đống Đa (thứ ba). Một số đơn vị có bước tiến vượt bậc như huyện Thanh Trì (từ vị trí thứ 23 năm 2019 lên thứ 6 năm 2020 với 91,68 điểm), huyện Mỹ Đức (từ vị trí thứ 15 năm 2019 lên thứ 7 năm 2020 với 91,65 điểm), quận Thanh Xuân (từ vị trí thứ 17 lên thứ 9 với 91,03 điểm), huyện Thanh Oai (từ thứ 28 lên thứ 17 với 90,02 điểm), huyện Chương Mỹ (từ vị trí thứ 27 lên thứ 20 với 88,48 điểm); Sở Tư pháp (từ thứ 16 lên thứ 3); Sở Thông tin và Truyền thông (thứ 17 lên thứ 12)…  

Chia sẻ về cách nâng thứ hạng chỉ số PAR Index, chuyên viên Phòng Nội vụ (UBND huyện Chương Mỹ) Ngô Thị Vân Anh cho biết, huyện Chương Mỹ đã có 2 năm liên tiếp phát động phong trào thi đua cải cách hành chính và đã khen thưởng, biểu dương các tập thể, cá nhân có thành tích cao để động viên các đơn vị chủ động, sáng tạo trong từng nội dung thực hiện, hướng đến sự hài lòng của người dân.

Theo Trưởng phòng Cải cách hành chính (Sở Nội vụ Hà Nội) Phạm Tuấn Anh, chỉ số PAR Index là công cụ để theo dõi, đánh giá một cách khoa học, khách quan, toàn diện kết quả công tác cải cách hành chính của các cơ quan hành chính. Từ đó, đánh giá được mặt mạnh, mặt yếu theo từng năm, giúp các cơ quan, đơn vị có sự điều chỉnh về mục tiêu, nội dung và các giải pháp trong cải cách hành chính.

Chỉ số PAR Index năm 2020 đối với các sở, cơ quan tương đương sở gồm 9 nội dung, 46 tiêu chí và 103 tiêu chí thành phần. Chỉ số này đối với UBND quận, huyện, thị xã gồm 9 nội dung, 50 tiêu chí và 118 tiêu chí thành phần. Tổng số điểm tối đa là 100 điểm. “Nét mới là năm 2020, điểm điều tra xã hội học đã được tích hợp thêm nội dung đánh giá, đo lường sự hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của các cơ quan hành chính (với khối sở điểm tối đa là 10 điểm; với khối quận, huyện, thị xã, điểm tối đa là 13)”, ông Phạm Tuấn Anh thông tin.

Theo Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước năm 2021 của thành phố Hà Nội, thành phố phấn đấu mức độ hài lòng của người dân, tổ chức và doanh nghiệp về giải quyết thủ tục hành chính của thành phố đạt tối thiểu 85%; tối thiểu 99% số hồ sơ được trả kết quả giải quyết đúng hạn, trước hạn; 100% cán bộ cấp xã được bồi dưỡng, nâng cao năng lực, nhận thức đầy đủ về chỉ số PAR Index… Điều đó cho thấy, các đơn vị cần nỗ lực hơn nữa mới đạt được mục tiêu.

Phó Chánh Văn phòng Sở Tài chính Nguyễn Trung Dũng nhấn mạnh thêm, hướng duy trì kết quả đạt được của Sở là tiếp tục thực hiện đúng quy định của Trung ương và thành phố, đồng thời chú trọng vận hành hệ thống văn phòng điện tử để trao đổi, xử lý công việc trên hệ thống mạng internet nhằm hỗ trợ đắc lực cho việc giải quyết thủ tục hành chính nhanh gọn, chính xác. Đồng thời, Sở Tài chính siết chặt kỷ cương, tăng cường kiểm tra công vụ, nâng cao ý thức trách nhiệm của từng cá nhân trong giải quyết công việc. (Hanoimoi.com.vn 28/5, Hiền Thu)Về đầu trang

Hà Nội thực hiện cải cách hành chính: Không có điểm dừng

Công tác cải cách hành chính luôn được Thành ủy, HĐND, UBND thành phố Hà Nội xác định là nhiệm vụ không có điểm dừng, là một trong ba khâu đột phá của nhiều năm trở lại đây. Trong đó, toàn bộ 6 nội dung: Cải cách thể chế; cải cách tổ chức bộ máy; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; cải cách thủ tục hành chính; cải cách tài chính công; hiện đại hóa hành chính đều được thực hiện đồng bộ và đạt nhiều kết quả rõ nét.

Điển hình là thành phố tiếp tục thực hiện tốt khâu chuẩn hóa thủ tục hành chính. 100% thủ tục hành chính của Hà Nội đều được thực hiện tại bộ phận “một cửa”. Thành phố cũng lấy quan điểm chỉ đạo: Các mục tiêu, chỉ tiêu, yêu cầu của Thủ đô phải bằng hoặc cao hơn mục tiêu, chỉ tiêu, yêu cầu của Chính phủ đề ra; xây dựng lộ trình và giải pháp bảo đảm thực hiện trong từng năm, từng giai đoạn và phấn đấu có nhiều chỉ tiêu về đích trước thời hạn.

Chính nỗ lực đó nên những năm gần đây, khi xếp hạng Chỉ số cải cách hành chính (PAR Index), Hà Nội luôn trong nhóm địa phương dẫn đầu cả nước. Thành quả này có sự đóng góp tích cực từ việc thực hiện công tác cải cách hành chính của các sở, ngành, quận, huyện, thị xã. Đặc biệt, thông qua kết quả PAR Index được UBND thành phố công bố hằng năm, mỗi đơn vị đều có sự nhìn nhận, phân tích kỹ lưỡng và đề ra hướng duy trì, cải thiện cho riêng mình.

Tuy nhiên, đánh giá tổng thể, vẫn chưa thể hài lòng về công tác cải cách hành chính ở cấp sở, cấp huyện nói riêng và nền hành chính của thành phố Hà Nội nói chung. Cụ thể, những tham chiếu liên quan như Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) và Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính (SIPAS) còn thấp so với yêu cầu đặt ra. Do đó, để công tác cải cách hành chính thật sự đạt yêu cầu thì điều đầu tiên vẫn là tiếp tục nâng chất lượng các chỉ số thành phần trong chỉ số PAR Index, SIPAS, PAPI. Trong đó, Đoàn kiểm tra công vụ thành phố cần chú trọng kiểm tra đột xuất các lĩnh vực người dân quan tâm như: Tài nguyên và môi trường; xây dựng; quy hoạch - kiến trúc; tài chính; thông tin và truyền thông; giáo dục và đào tạo; y tế…

Các ngành, địa phương cần tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu trong công tác cải cách hành chính. Cùng với đó, đẩy mạnh thanh tra, giám sát, công bố kết quả giải quyết thủ tục hành chính nội bộ; đôn đốc, nhắc nhở, xử lý nghiêm mọi trường hợp vi phạm đạo đức công vụ, không chấp hành hoặc chấp hành chưa nghiêm kỷ luật, kỷ cương ở cơ quan, đơn vị...

Mỗi đơn vị cũng cần nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4; thực hiện tốt cơ chế "một cửa", "một cửa" liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính, đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian giải quyết cho người dân, doanh nghiệp. Mặt khác, rà soát thường xuyên các trang thiết bị tại bộ phận “một cửa” các cấp và triển khai cơ sở dữ liệu trong tổng hợp, báo cáo, lưu trữ số liệu cải cách hành chính, trong thực hiện cơ chế "một cửa", "một cửa" liên thông. Cùng với đó là thường xuyên nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thông qua việc đào tạo, bồi dưỡng phù hợp.

Cũng cần lưu ý thêm là từ ngày 1-7 tới, khi 12 quận và thị xã Sơn Tây thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị, càng cần sự làm việc chuyên nghiệp hơn của đội ngũ cán bộ, công chức để tiếp tục giảm phiền hà, tăng sự hài lòng của tổ chức, cá nhân. Và, nhiệm vụ không có điểm dừng này sẽ tiếp tục tạo thông thoáng, thuận lợi cho sự phát triển của Thủ đô. (Hanoimoi.com.vn 28/5, Đỗ Quỳnh Chi)Về đầu trang

Vì sao thứ hạng chỉ số PCI của Kiên Giang liên tục giảm?

Ngày 27-5, UBND tỉnh Kiên Giang tổ chức Hội nghị phân tích Chỉ số năng lực cạnh trạnh (PCI) và chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công (PAPI) năm 2020. Đây là năm thứ 6 chỉ số PCI của Kiên Giang bị tụt thứ hạng và năm 2020 đứng thứ 62/63 tỉnh, thành phố trong cả nước.

Theo đó, điểm tổng hợp chỉ số PCI năm 2020 của Kiên Giang đạt 60,01 điểm, giảm 4,98 điểm so với năm 2019, tụt đến 27 hạng, đứng thứ 12/13 khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Trong các chỉ số được đánh giá, Kiên Giang chỉ có hai chỉ số tăng điểm, tăng hạng là chỉ số gia nhập thị trường và chỉ số dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp. Trong khi có đến tám chỉ số giảm điểm và giảm hạng gồm: chỉ số tiếp cận đất đai ổn định trong sử dụng đất, chỉ số tính minh bạch và tiếp cận thông tin, chỉ số chi phí thời gian thực hiện các quy định của nhà nước, chỉ số chi phí không chính thức, chỉ số cạnh tranh bình đẳng, chỉ số tính năng động và tiên phong của chính quyền tỉnh, chỉ số đào tạo lao động và chỉ số thiết chế pháp lý an ninh trật tự.

Bà Nguyễn Duy Linh Thảo, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Đầu tư - Thương mại và Du lịch Kiên Giang cho rằng, nguyên nhân của sự sụt giảm chỉ số PCI của Kiên Giang có phần do yếu tố khách quan như tình hình dịch bệnh, thiên tai, biến đổi khí hậu và cơ sở hạ tầng kỹ thuật của tỉnh chưa bảo đảm nhu cầu lưu thông hàng hóa, năng lượng, viễn thông, logistics…

Tuy nhiên đi vào phân tích cụ thể, phần nhiều là do nguyên nhân chủ quan như: Tình trạng cán bộ, công chức, viên chức chưa thật sự quan tâm đến PCI; thái độ phục vụ nhân dân và doanh nghiệp của một bộ phận “công bộc” chưa thật sự tốt. Vai trò của người đứng đầu các sở, ban, ngành và địa phương chưa thật sự quyết tâm trong việc triển khai các giải pháp, phân công, kiểm tra, đôn đốc và mạnh dạn xử lý tiêu cực liên quan đến hoạt động doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, mặc dù khó khăn của doanh nghiệp đã được nêu ra nhiều lần qua các cuộc tiếp xúc, đối thoại với chính quyền, nhưng chưa được cơ quan, người có trách nhiệm tháo gở, giải quyết thỏa đáng. Vai trò của các tổ chức chính trị-xã hội trong việc tham gia phản biện, xây dựng các chính sách còn chậm, chưa phát huy được vai trò trong cộng đồng doanh nghiệp trong việc xây dựng, hoàn thiện cơ chế chính sách của tỉnh.

Phát biểu kết luận hội nghị, Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Minh Thành nhấn mạnh: Chỉ số PCI và chỉ số PAPI là hai chỉ số quan trọng, phản ánh được năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước của tỉnh, để bảo đảm việc thực thi các quy định của pháp luật, đăc biệt là cải cách thủ tục hành chính, công khai minh bạch tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho người dân và doanh nghiệp. Đồng thời, các chỉ số này cũng là thước đo của cộng đồng doanh nghiệp, của tổ chức và người dân với chính quyền.

Do đó, tỉnh cần mạnh dạn nhìn nhận những hạn chế, yếu kém còn tồn tại. Với mục tiêu cải thiện điểm số, nâng cao chỉ số PCI và chỉ số PAPI đưa Kiên Giang vào top các tỉnh khá trong cả nước, ông Lâm Minh Thành đề nghị các sở, ban, ngành và các địa phương mạnh dạn nhìn nhận những hạn chế, thiếu sót còn tồn tại, tập trung cải thiện các chỉ số thành phần giảm điểm, giảm hạng.

Theo đó, Kiên Giang sẽ đẩy mạnh thực hiện ba nhóm vấn đề gồm: Cải cách hành chính, công khai minh bạch và trách nhiệm giải trình. Giải quyết đúng thời hạn theo quy định của pháp luật, rút ngắn thời gian, thái độ phục vụ "làm hết việc, không hết giờ". Công khai minh bạch bằng nhiều hình thức, nhất là công khai minh bạch thông tin, dữ liệu trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh và các sở, ngành, địa phương.

Rà soát, điều chỉnh bổ sung Kế hoạch số 138 của UBND tỉnh về cải thiện và nâng cao chỉ số PCI, chỉ số PAPI năm 2019 tỉnh Kiên Giang để thực hiện trong những năm tiếp theo. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhất là thực hiện tốt văn hoá công vụ, hướng tới phục vụ doanh nghiệp và người dân… (Nhandan.com.vn 28/5, Việt Tiến)Về đầu trang

Sở Văn hóa và Thể thao Khánh Hòa: Chuyển biến mạnh về cải cách hành chính

Từ đơn vị xếp hạng khá về kết quả thực hiện công tác cải cách hành chính (CCHC) năm 2019, nhờ nỗ lực khắc phục, năm 2020, Sở Văn hóa và Thể thao (VH-TT) Khánh Hòa đã vươn lên hạng tốt với chỉ số tăng rất ấn tượng.

Năm 2019, tồn tại lớn nhất trong công tác CCHC của Sở VH-TT liên quan đến tiêu chí Tác động của CCHC. Đây là tiêu chí được đánh giá dựa trên mức độ hài lòng của người dân, tổ chức về: Sự phục vụ của cán bộ, công chức, viên chức; tiếp cận dịch vụ; điều kiện tiếp đón và phục vụ; thủ tục hành chính (TTHC); kết quả, tiến độ giải quyết…

Ông Nguyễn Thanh Hà - Giám đốc Sở VH-TT cho biết, với quyết tâm khắc phục tồn tại, năm 2020, sở đã triển khai nhiều giải pháp. Cụ thể, sở đã gửi phiếu lấy ý kiến khách hàng đối với sự phục vụ của sở cho 52 tổ chức, cá nhân hoạt động dịch vụ văn hóa và thể thao nhằm chủ động tiếp thu góp ý, đánh giá, từ đó phục vụ, hướng dẫn tốt hơn. Đầu tuần và hàng tuần, hàng quý, giám đốc sở đều nghe báo cáo công tác CCHC và kịp thời chỉ đạo xử lý. Công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cũng được quan tâm nhằm nâng cao hiệu quả xử lý công việc và tinh thần trách nhiệm, kỹ năng giao tiếp, ý thức phục vụ nhân dân. Cán bộ, công chức luôn được nhắc nhở thực hiện nghiêm quy trình giải quyết TTHC, đảm bảo trả kết quả đúng hẹn.

Lãnh đạo sở cũng chỉ đạo cập nhật thông tin thường xuyên cho Trang thông tin điện tử của ngành; giám sát việc gửi - nhận văn bản điện tử trên hệ thống E-Office. Sở công khai địa chỉ tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị theo các hình thức quy định; công khai TTHC tiếp nhận và giải quyết trực tuyến mức độ 3, 4, thanh toán trực tuyến và thực hiện bưu chính công ích trên Trung tâm Dịch vụ hành chính công trực tuyến tỉnh, Trang thông tin điện tử của sở và tại bộ phận một cửa.

Sở tiếp tục cắt giảm thời gian giải quyết đối với 45 TTHC có phát sinh hồ sơ; đơn giản hóa thành phần hồ sơ đối với một số thủ tục; hướng dẫn các cá nhân, tổ chức nộp hồ sơ trực tuyến, thanh toán trực tuyến, sử dụng dịch vụ bưu chính công ích và khai thác, sử dụng dữ liệu TTHC trên Cơ sở dữ liệu quốc gia. Sở cũng phối hợp trình UBND tỉnh ban hành quyết định công bố nhóm TTHC liên thông; rà soát, bổ sung, cập nhật, gỡ bỏ cơ sở dữ liệu TTHC trên phần mềm Một cửa điện tử cho phù hợp…

Chị Lê Thảo Ngân - nhân viên Công ty Quảng cáo Hữu Tây (TP. Nha Trang) xác nhận, nhờ sự hướng dẫn trực quan, dễ hiểu, nhiệt tình của công chức bộ phận một cửa Sở VH-TT, chị đã thực hiện trực tuyến thành công thủ tục thông báo sản phẩm quảng cáo trên bảng quảng cáo và băng rôn. Chị rất hài lòng và từ đó đã chuyển hẳn sang làm thủ tục trực tuyến.

Năm 2019, Sở VH-TT còn 2 hồ sơ liên thông trễ hạn, 12 hồ sơ trễ hạn trên phần mềm; tỷ lệ hồ sơ trực tuyến chiếm 69%; giao trả thành công 135 kết quả giải quyết TTHC qua dịch vụ bưu chính công ích. Đến năm 2020, sở không còn hồ sơ trễ hạn. Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt 84,8%. Quý I năm nay, sở không có hồ sơ trễ hạn; 233 hồ sơ đã giải quyết đều sớm hạn; tỷ lệ hồ sơ nộp trực tuyến đạt 75%. Sở cũng hướng dẫn cho nhiều cá nhân, tổ chức nộp hồ sơ trực tuyến, thanh toán trực tuyến, sử dụng dịch vụ bưu chính công ích; qua đó, đã có 4 hồ sơ thanh toán trực tuyến thành công với tổng số tiền 3 triệu đồng, hơn 30 kết quả giải quyết TTHC được trả qua dịch vụ bưu chính công ích.

Năm 2020, không có phản ánh, kiến nghị nào đối với các TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của sở. 100% ý kiến được khảo sát đều nhận xét tích cực về việc tiếp cận dịch vụ; TTHC; tiếp nhận và xử lý thông tin phản hồi… Chỉ số Tác động của CCHC; công tác chỉ đạo, điều hành CCHC; thực hiện các nhiệm vụ CCHC của sở đều được nâng cao. (Baokhanhhoa.vn 27/5, Nguyễn Vũ)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Công khai minh bạch trong đấu thầu, chỉ định thầu

Chiều 27/5, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về Báo cáo kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong năm 2020.

Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc, với tinh thần quyết tâm xây dựng Chính phủ kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động quyết liệt, phục vụ nhân dân, thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2020, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các ngành, các cấp đã chủ động, tích cực đổi mới, cải cách mạnh mẽ, linh hoạt, sáng tạo và quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành; thực hiện nghiêm Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí để huy động, quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho xây dựng, phát triển đất nước.

Tuy nhiên, theo ông Phớc, trong tổ chức bộ máy, quản lý, sử dụng lao động và thời gian lao động trong khu vực Nhà nước thì tổ chức bộ máy một số cơ quan vẫn còn cồng kềnh, nhiều cấp trung gian; kết quả thực hiện chính sách tinh giản biên chế chưa thực sự gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Cải cách hành chính ở một số lĩnh vực còn bất cập, hiệu quả chưa cao; tình trạng trễ hẹn trong giải quyết và trả kết quả giải quyết hồ sơ vẫn còn xảy ra ở một số lĩnh vực; vẫn còn hiện tượng một bộ phận công chức, viên chức có biểu hiện nhũng nhiễu, gây phiền hà trong xử lý công việc liên quan đến người dân, doanh nghiệp.

Thẩm tra báo cáo của Chính phủ, ông Bùi Đặng Dũng - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính ngân sách của Quốc hội cho rằng: Công tác cải cách hành chính, sắp xếp bộ máy, tinh giản biên chế chưa đạt yêu cầu, tiến độ đề ra. Hồ sơ, thủ tục hành chính vẫn còn hiện tượng kéo dài thời gian giải quyết. Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu thông tin để theo dõi, đôn đốc giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Số dư kinh phí không còn nhiệm vụ chi của một số đơn vị trực thuộc Bộ Giao thông vận tải từ nguồn phí, lệ phí được để lại lớn (1.222,5 tỷ đồng), gây lãng phí nguồn lực.

Bà Lê Thị Nga, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội cho rằng, còn có tính hình thức trong việc lập báo cáo thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Nhất là việc chậm lập chương trình hành động thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Theo đó tháng 1 phải lập nhưng có đơn vị tháng 6 mới ban hành, có tỉnh tháng 9 mới ban hành là quá hình thức. Một số báo cáo không có số liệu, vậy kỷ luật báo cáo không nghiêm và Chính phủ cần phê bình nghiêm khắc những đơn vị trên.

“Khi thẩm tra báo cáo phòng chống tham nhũng năm 2020 của Chính phủ, Ủy ban Tư pháp đã chỉ ra những bất cập trong mua sắm trang thiết bị cơ quan Nhà nước. Nguyên nhân được xác định là do chưa kiểm soát hết đấu thầu, chỉ định thầu mua sắm tài sản công. Do đó cần công khai minh bạch vấn đề đấu thầu, chỉ định thầu trong mua sắm tài sản công”, theo bà Nga.

Phát biểu tại phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cho rằng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí là chủ trương lớn của Đảng được thể chế trong pháp luật Nhà nước để tăng cường đấu tranh phòng chống tham nhũng, và thực hành tiết kiệm chống lãng phí đã được quy định thành luật. Đây là vấn đề lớn trong điều kiện đất nước ta còn nghèo, thiệt hại do lãng phí cũng chả kém tham nhũng, thậm chí còn lớn hơn do đó cần coi trọng vấn đề này.

Theo Chủ tịch Quốc hội trong báo cáo phải nêu rõ địa chỉ, ai tốt phải khen để nhân rộng mô hình, còn ai kém làm sai phải phê bình, kỷ luật. Cần đầu tư hoàn thiện báo cáo, làm cho rõ ràng minh bạch, nhất là trong mua sắm tài sản công, hay trong vấn đề đất đai còn lãng phí như các dự án treo, giao đất không thu tiền, sử dụng sai mục đích. (Daidoanket.vn 28/5, H.Vũ)Về đầu trang

Ứng dụng CNTT của ngành Thuế: Doanh nghiệp, người dân là trung tâm cải cách

Đó là khẳng định của ông Phạm Quang Toàn, Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin (Tổng cục Thuế) khi trao đổi với báo chí về việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) phục vụ công tác cải cách và hiện đại hóa của ngành Thuế…

Trong những năm gần đây, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) của ngành Thuế góp phần tích cực trong việc cải cách thủ tục hành chính (TTHC), tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế (NNT) thực hiện nghĩa vụ thuế.

Đến nay, ngành Thuế đã có 32 TTHC đạt mức 3 và 150 TTHC đạt mức 4. Theo đó, tất cả các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 đều có giải pháp xác thực điện tử bằng hình thức ký số trên hồ sơ khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế điện tử của NNT gửi đến cơ quan thuế đảm bảo an toàn thông tin.

Tính đến cuối tháng 4/2021, đã có 99,33% số doanh nghiệp (DN) đang hoạt động tham gia sử dụng dịch vụ khai thuế điện tử. Tỷ lệ đăng ký sử dụng dịch vụ nộp thuế điện tử là 98,5% trên tổng số DN đang hoạt động trên cả nước. Tổng số DN tham gia hoàn thuế điện tử trên tổng DN hoàn thuế đạt tỷ lệ 97,38%.

Bên cạnh đó, thực hiện nhiệm vụ tích hợp Cổng dịch vụ công của các bộ, ngành với Cổng Dịch vụ công quốc gia (DVCQG) theo Nghị quyết 17/NQ-CP của Chính phủ, đến nay, Tổng cục Thuế đã phối hợp với Bộ Tài chính, Văn phòng Chính phủ hoàn thành triển khai tích hợp 150 dịch vụ công trực tuyến về thuế lên Cổng DVCQG, vượt 61% so với chỉ tiêu mà Bộ Tài chính giao. Những kết quả về cải cách hành chính trong thời gian qua đã được Chính phủ, Bộ Tài chính và cộng đồng DN đánh giá cao.

Theo Cục trưởng Cục CNTT Phạm Quang Toàn, bên cạnh những kết quả đạt được thì hệ thống thông tin ngành Thuế đang đối mặt với nhiều thách thức. Cụ thể, trong những năm qua, ngành Thuế đã đẩy mạnh cung cấp các dịch vụ công, dịch vụ thuế điện tử trực tuyến thông qua mạng Internet. Tuy nhiên, chất lượng của dịch vụ bị ảnh hưởng bởi thói quen của nhiều NNT đến ngày cuối cùng của thời hạn mới thực hiện khai, nộp thuế. Do đó, hệ thống ứng dụng CNTT cung cấp các dịch vụ thuế điện tử phải tiếp nhận và xử lý một lượng giao dịch rất lớn tập trung vào các kỳ cao điểm. Điều này dẫn đến tình trạng hệ thống cung cấp dịch vụ thuế điện tử đôi khi bị quá tải, nghẽn mạng hoặc xử lý chậm.

Cùng với đó, việc triển khai cung cấp dịch vụ cho NNT, đặc biệt là các dịch vụ cung cấp qua bộ phận một cửa liên thông chưa thực sự tạo thuận lợi cho người dân do việc triển khai giữa các cơ quan chưa được đồng bộ. Một số cơ quan chưa chấp nhận chứng từ hoặc các văn bản xác nhận nghĩa vụ thuế điện tử.

Để tháo gỡ tình trạng trên, trong thời gian vừa qua, Tổng cục Thuế đã đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, giới thiệu các văn bản quy phạm pháp luật về thuế trên các phương tiện thông tin đại chúng với những phương pháp tiếp cận dễ hiểu, dễ thực hiện các thủ tục về thuế để NNT thực hiện nghĩa vụ thuế của mình.

Đồng thời, ngành Thuế đã và đang tiếp tục nâng cấp mở rộng băng thông, đường truyền, nâng cao chất lượng hạ tầng truyền thông để đảm bảo hệ thống CNTT tốt nhất phục vụ thuận tiện nhất cho người dân và và cộng đồng DN.

Tổng cục Thuế cũng phối hợp với các bộ, ngành để ban hành các văn bản pháp lý, quy chế phối hợp giữa các cơ quan nhà nước để đảm bảo tiến độ triển khai trao đổi thông tin liên thông giữa các cơ quan trong việc cung cấp dịch vụ điện tử. (Baophapluat.vn 28/5, Tố My)Về đầu trang

Tra cứu thông tin qua Cơ sở dữ liệu quốc gia về Bảo hiểm từ ngày 01/6

Có hiệu lực từ ngày 01/6/2021, Nghị định số 43/2021/NĐ-CP quy định Cơ sở dữ liệu quốc gia về Bảo hiểm. Đây là hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia được xây dựng thống nhất trên toàn quốc và lưu trữ đầy đủ các thông tin được cơ quan có thẩm quyền ghi nhận và đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ về bảo hiểm của công dân. Qua đó, giúp người tham gia bảo hiểm có thể tra cứu thông tin liên quan đến bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế nhanh nhất.

Theo Nghị định số 43/2021/NĐ-CP, các cá nhân tham gia bảo hiểm được phép khai thác và sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm; đồng thời, cá nhân được trích xuất thông tin của mình, dữ liệu trích xuất được ký số bởi Bảo hiểm Xã hội Việt Nam và có giá trị như văn bản xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.

Như vậy, ngoài các cách tra cứu quá trình tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đang áp dụng hiện nay là qua website của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, qua việc gửi tin nhắn đến đầu số 8079 hoặc qua ứng dụng VssID, thì từ ngày 01/6, người tham gia bảo hiểm còn có thêm một cách khác là tra cứu thông tin qua Cơ sở dữ liệu quốc gia về Bảo hiểm.

Cụ thể, về bảo hiểm y tế, người tham gia bảo hiểm có  thể tra cứu mã mức hưởng, loại đối tượng, nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu, thời điểm hết hạn, thời điểm đủ 05 năm liên tục,quá trình đóng, hưởng bảo hiểm. Về bảo hiểm xã hội, người tham gia có thể tra cứu Mã số bảo hiểm xã hội, phương thức đóng, quá trình đóng, hưởng bảo hiểm xã hội…

Về bảo hiểm thất nghiệp người tham gia có thể tra cứu quá trình đóng, hưởng,thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp…

Việc kết nối, chia sẻ thông tin giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm với các cơ sở dữ liệu quốc gia khác được thực hiện theo quy định của Chính phủ về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số trong cơ quan Nhà nước. Ngoài ra, các cơ quan, tổ chức không được yêu cầu cá nhân cung cấp các giấy tờ liên quan nếu đã khai thác được thông tin cá nhân từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về Bảo hiểm.

Theo đánh giá của các chuyên gia, việc xây dựng được Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm sẽ tạo điều kiện và phục vụ việc quản lý nhà nước, tổ chức thực hiện chính sách, nhu cầu của cơ quan, tổ chức và người dân; góp phần thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính; ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính, cung ứng dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội. (Tapchitaichinh.vn 27/5, Quỳnh Trang)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Tinh giản, khó mấy cũng làm

Nhiều người thường nhầm hai từ "tinh giản" với "tinh giảm", thấy "giảm" thường đi kèm với thực tế "bớt người" nên cứ nghĩ "tinh giảm" là đúng.

Từ đúng phải là "tinh giản". Trong từ vựng tiếng Việt, từ tổ Hán Việt này mang thực nghĩa còn hay hơn nhiều so với những gì người ta thường biết. "Tinh" mang nghĩa "tiêu biểu", còn "giản" là "lọc lựa", "kén chọn"; "tinh giản" là hành động diễn tả cả một quá trình, làm cách nào đó để sàng lọc nhằm cho ra kết quả - là thành phần còn lại - phải ưu tú, tinh túy.

Vì thế, "tinh giản" là việc khó, nói dễ nhưng làm đâu dễ, ngay cả khi có quyết tâm chính trị rất lớn. Tại phiên họp thứ 56 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 27-5, theo báo cáo của Chính phủ về kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong năm 2020, trong năm cả nước đã tinh giản biên chế được gần 23.896 người.

Đạt được kết quả này là nhờ cả một quá trình kiện toàn, sắp xếp bộ máy hành chính nhà nước cấp huyện, cấp xã với việc giảm 6 đơn vị cấp huyện và 546 đơn vị cấp xã, gian nan vô cùng!

Trước đó, tổng kết công tác tổ chức xây dựng Đảng năm 2019, triển khai nhiệm vụ năm 2020 vào cuối tháng 12-2020, Ban Tổ chức Trung ương thông tin: Qua 2 năm thực hiện Nghị quyết 18 của trung ương, toàn hệ thống chính trị đã giảm 4 đầu mối trực thuộc trung ương, 100 đầu mối thuộc cấp tỉnh, 496 đầu mối trực thuộc cấp huyện, hơn 2.600 phòng và tương đương, hơn 4.160 đơn vị sự nghiệp công lập..., giảm gần 15.200 cấp trưởng, cấp phó. So với thời điểm tháng 4-2015 đã giảm 6,58% số biên chế, với số lượng cụ thể là 236.000 người. Đáng chú ý, "việc sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn gắn với tinh giản biên chế đã góp phần giảm được khoảng 10.000 tỉ đồng khi bố trí ngân sách nhà nước năm 2019 cho hoạt động các cơ quan, tổ chức, đơn vị; tiết kiệm chi thường xuyên".

Như vậy, việc tinh giản biên chế không chỉ tiết kiệm được số tiền rất lớn mà qua đó còn cho thấy bộ máy hành chính vẫn cồng kềnh, còn có thể thanh lọc tiếp được, nhất là khi công tác cải cách thủ tục hành chính, xây dựng chính phủ điện tử phát huy hiệu quả. Theo tính toán, nhờ áp dụng trực tuyến và số hóa dịch vụ công mà mỗi năm chúng ta tiết kiệm được khoảng 18 triệu ngày làm việc, tương đương hơn 6.300 tỉ đồng!

Tại báo cáo trình bày ngày 27-5 trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, Chính phủ cũng thừa nhận: tổ chức bộ máy một số cơ quan vẫn còn cồng kềnh, nhiều cấp trung gian; kết quả thực hiện chính sách tinh giản biên chế chưa thực sự gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, mới chỉ tập trung vào việc giảm số lượng người hưởng lương từ ngân sách nhà nước... Vẫn còn hiện tượng một bộ phận công chức, viên chức có biểu hiện nhũng nhiễu, gây phiền hà trong xử lý công việc liên quan đến người dân, doanh nghiệp.

Những con số sống động, những đánh giá khách quan như thế thôi thúc các cơ quan có thẩm quyền phải làm mạnh hơn nữa công cuộc cải cách. Tinh giản biên chế là một trong những chiếc chìa khóa của cải cách, dù gặp nhiều khó khăn và đụng chạm nhưng không có gì là không thể, mà thực tế chứng minh chúng ta đã làm được. (Nld.com.vn 28/5, Hoài Phương)Về đầu trang./.

 

Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.012.961 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này