Bản tin cải cách hành chính ngày 09/8/2021

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. “Chia tay” sổ hộ khẩu giấy: Lộ trình có thể diễn ra đến hết năm 2022

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

2. Đà Nẵng đặt mục tiêu 100% dịch vụ công trực tuyến mức 4

3. Giải quyết thủ tục hành chính khi giãn cách xã hội tại Hà Nội: Bảo đảm thông suốt

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

4. Kết nối nền tảng hỗ trợ tư vấn khám, chữa bệnh từ xa tới 100% huyện

5. Sẽ bổ sung các tiện ích về phòng chống dịch trên ứng dụng VssID

6. Khách sạn, nhà hàng phải có máy tính tiền kết nối với cơ quan thuế

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

7. “Thắt lưng buộc bụng” chi tiêu ngân sách trong khó khăn

8. Bộ Tài chính kiến nghị chi bổ sung thu nhập cho cán bộ Ngân hàng Nhà nước

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

9. Để giảm thiệt hại do tham nhũng, thất thoát tài sản: Cần xử nhanh cán bộ vi phạm

10. Chủ động phản ánh, kiến nghị

         

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

“Chia tay” sổ hộ khẩu giấy: Lộ trình có thể diễn ra đến hết năm 2022

Việc bỏ hộ khẩu giấy là góp phần tiến tới công khai, minh bạch, đơn giản hóa giấy tờ, giảm thời gian, chi phí; xóa bỏ các thủ tục hành chính còn rườm rà, dễ bị lợi dụng để gây phiền hà cho người dân; qua đó, bảo đảm tốt hơn nữa việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân.

Tuy nhiên, với sự tồn tại gần 70 năm, hệ thống quản lý xã hội thông qua “cuốn sổ mỏng” này chứa đựng những mối quan hệ pháp luật phức tạp nên việc “khai tử” sổ hộ khẩu giấy có thể diễn ra trong 18 tháng, đến cuối năm 2022.

Cách thức quản lý dân cư bằng sổ hộ khẩu hiện nay đã có tuổi đời gần 70 năm, cuốn sổ tuy mỏng nhưng gắn liền với rất nhiều thủ tục quản lý hành chính quan trọng đối với công dân. Nếu trong thời bao cấp, cuốn sổ hộ khẩu luôn đi kèm với sổ gạo, việc làm… thì nay gắn với không ít thủ tục, giấy tờ, trong đó có cả việc học hành.

Tuy nhiên,việc quản lý dân cư bằng sổ hộ khẩu đã và đang gây tốn kém, lãng phí cho ngân sách nhà nước hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm, đồng thời gây ra nhiều khó khăn, rườm rà cho công dân khi đi làm các thủ tục hành chính. Thực tế đã có rất nhiều vấn đề nảy sinh từ cuốn sổ hộ khẩu, không ít tiêu cực cũng nảy sinh từ việc “gian lận” để có sổ hộ khẩu.

Vì vậy, Chính phủ đã quyết tâm, có nhiều hành động quyết liệt để tiến tới xóa bỏ sổ hộ khẩu giấy, chuyển sang hình thức quản lý công dân bằng số hóa (qua mã số định danh cá nhân). Đây là dãy số được xác lập từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (CSDLQGVDC), được thể hiện bằng 12 số trên thẻ căn cước công dân hoặc mã số được cấp cho công dân khi đăng ký khai sinh. Mã số định danh cá nhân gắn liền với mỗi người dân từ lúc sinh cho đến lúc chết, không thay đổi, cũng không trùng lắp với người nào.

Quyết tâm này được Quốc hội đồng tình, ủng hộ khi thông qua Luật Cư trú năm 2020 với nhiều quy định mới nổi bật, trong đó có việc chính thức dừng cấp mới sổ hộ khẩu, sổ tạm trú từ ngày 1/7/2021. Theo đó, khi người dân thực hiện thủ tục đăng ký thường trú, cơ quan đăng ký thường trú kiểm tra và cấp phiếu tiếp nhận hồ sơ cho người đăng ký. Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ đầy đủ, cơ quan đăng ký thường trú có trách nhiệm thẩm định, cập nhật thông tin về nơi thường trú mới của người đăng ký vào Cơ sở dữ liệu về cư trú (CSDLCT) thay vì cấp sổ hộ khẩu cho họ như quy định trước đây tại Điều 18 Luật Cư trú năm 2006.

Kể từ ngày 1/7/2021, sổ hộ khẩu, sổ tạm trú đã được cấp vẫn được sử dụng và có giá trị như giấy tờ, tài liệu xác nhận về cư trú theo quy định của Luật này cho đến hết ngày 31/12/2022. Trường hợp thông tin trong sổ hộ khẩu, sổ tạm trú khác với thông tin trong CSDLCT thì sử dụng thông tin trong CSDLCT. Khi công dân thực hiện các thủ tục đăng ký cư trú dẫn đến thay đổi thông tin trong sổ hộ khẩu, sổ tạm trú thì cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm thu hồi sổ hộ khẩu, sổ tạm trú đã cấp, thực hiện điều chỉnh, cập nhật thông tin trong CSDLCT theo quy định của Luật này và không cấp mới, cấp lại sổ hộ khẩu, sổ tạm trú.

Trao đổi với báo chí, một lãnh đạo Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06) Bộ Công an nhấn mạnh: “Việc bỏ sổ hộ khẩu không phải là bỏ việc quản lý con người mà chỉ là thay đổi cách thức quản lý. Trước đây, khi chúng ta chưa có điều kiện thì việc quản lý con người được thực hiện theo cách thức thủ công, là ghi chép, lưu giữ trên các loại sổ hộ khẩu, sổ tạm trú. Còn hiện nay, chúng ta quản lý con người bằng công nghệ thông tin hiện đại, vừa đảm bảo chính xác vừa rút gọn các loại giấy tờ thủ tục cho người dân”.

Quy định của Luật là vậy nhưng thời gian “khai tử” sổ hộ khẩu giấy; vì sao vẫn kéo dài thời hạn có giá trị của sổ hộ khẩu; các thủ tục hành chính, giao dịch dân sự, học hành... sẽ như thế nào là những vấn đề người dân rất quan tâm.

Thiết thực giải đáp cho những câu hỏi này, Bộ Công an đã và đang triển khai tiến trình “khai tử” sổ hộ khẩu giấy, quản lý công dân bằng số hóa theo quy định của Luật Cư trú năm 2020. Quá trình này có thể hoàn tất sớm nhưng cũng có thể diễn ra trong 18 tháng, đến cuối năm 2022.

Nổi bật là ngày 22/6/2021, dưới sự chứng kiến của Thủ tướng Chính phủ và lãnh đạo nhiều bộ, ngành, Bộ Công an đã công bố chính thức CSDLQGVDC và Cơ sở dữ liệu căn cước công dân đi vào hoạt động từ ngày 1/7/2021. CSDLQGVDC tập hợp thông tin cơ bản như họ tên, giới tính, quê quán, dân tộc, tôn giáo, tình trạng hôn nhân, nơi ở hiện tại, nhóm máu, số định danh cá nhân của tất cả công dân Việt Nam. Do đó, từ ngày 1/7, người dân có thể không cần cầm sổ hộ khẩu giấy đi giao dịch, thậm chí người dân có thể ngồi tại nhà khai báo thủ tục cư trú trực tuyến.

Bộ Công an cũng đã ra văn bản giới thiệu một số nội dung cơ bản và điểm mới của Luật Cư trú năm 2020. Một trong những nội dung đáng chú ý của Luật này là từ ngày 1/7/2021, khi người dân có thay đổi thông tin về cư trú, cơ quan Công an sẽ thu hồi sổ hộ khẩu và cũng không cấp mới, cấp lại sổ hộ khẩu, sổ tạm trú. Những sổ hộ khẩu, sổ tạm trú đã cấp vẫn được sử dụng và có giá trị cho đến hết ngày 31/12/2022. (Baophapluat.vn 08/8, Anh Thư – Lâm Gia)Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Đà Nẵng đặt mục tiêu 100% dịch vụ công trực tuyến mức 4

Ban chấp hành Đảng bộ TP Đà Nẵng đã ban hành Nghị quyết 05-NQ/TU về chuyển đổi số (CĐS) trên địa bàn TP đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 với quan điểm CĐS là động lực trong phát triển, nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, trong toàn bộ hoạt động của các cơ quan, tổ chức, người dân và doanh nghiệp.

Năm 2019, Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng đã ban hành nghị quyết về phát triển hạ tầng công nghệ thông tin (CNTT) - truyền thông tiếp cận xu hướng cách mạng công nghiệp 4.0, UBND TP đã ban hành đề án Xây dựng chính quyền điện tử, đề án Xây dựng TP thông minh…

Từ chủ trương trên, Đà Nẵng đã triển khai và bước đầu đạt một số kết quả: Cơ sở hạ tầng viễn thông, CNTT được đầu tư đồng bộ, hình thành các cơ sở dữ liệu nền và chuyên ngành phục vụ triển khai các ứng dụng CNTT và dịch vụ chính quyền điện tử.

Dịch vụ công trực tuyến ở Đà Nẵng có hơn 97% thủ tục trực tuyến (trong đó 66% ở mức 4). Hạ tầng truyền thông được quan tâm đầu tư, từng bước đáp ứng xu hướng truyền thông hội tụ. Ngành công nghiệp CNTT có tốc độ tăng trưởng cao (bình quân 20%/năm), dần khẳng định là một trong những ngành kinh tế quan trọng của TP (đóng góp 7,5% GRDP).

Tuy nhiên, việc thực hiện CĐS vẫn còn một số hạn chế như: Tài nguyên dữ liệu số chưa khai thác hiệu quả, nhất là phân tích thông minh phục vụ chỉ đạo, điều hành. Các dịch vụ đô thị thông minh chưa nhiều, mức độ lan tỏa chưa cao. Công nghiệp CNTT chủ yếu lắp ráp. Ứng dụng công nghệ số trong sản xuất, kinh doanh và quản trị của doanh nghiệp còn bị động, thương mại điện tử ở mức thấp, thiếu yếu tố dẫn dắt.

Nghị quyết 05-NQ/TU chỉ ra nguyên nhân của các hạn chế trên là do một số cấp ủy Đảng, chính quyền, địa phương, đơn vị chưa thật sự quan tâm đến CĐS. Hạ tầng kỹ thuật, ứng dụng và nhân lực CNTT trong các cơ quan Đảng, đoàn thể chính trị - xã hội chưa đồng bộ, chưa kết nối với khối chính quyền. Các doanh nghiệp trên địa bàn đầu tư vào CNTT chưa tương xứng với yêu cầu phát triển.

Nghị quyết 05-NQ/TU cũng nêu rõ bốn nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới là tạo nền tảng CĐS, phát triển chính quyền số, phát triển kinh tế số và phát triển xã hội số. Trong bốn nhóm nhiệm vụ này có những tiêu chí rất cụ thể phải đạt được như: Hoàn thiện ứng dụng Danang Smart City thành nền tảng di động cung cấp đa dịch vụ, tiện ích cho người dân, du khách. Hình thành Trung tâm giám sát điều hành TP thông minh; xây dựng, triển khai có hiệu quả đề án Phát triển y tế thông minh tại Đà Nẵng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030…

Nghị quyết 05-NQ/TU nêu rõ mục tiêu đến năm 2025, Đà Nẵng thuộc nhóm ba địa phương dẫn đầu về CĐS, dẫn đầu về an toàn thông tin, thương mại điện tử của cả nước.

Các tiêu chí phải đạt được như 100% dịch vụ hành chính công trực tuyến mức độ 4. 100% cơ quan nhà nước tham gia cung cấp dữ liệu mở. 100% thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của cơ quan Đảng, tổ chức chính trị - xã hội TP được ban hành công khai và liên thông. Kinh tế số chiếm tối thiểu 20% GRDP TP. Mỗi hộ gia đình đều có địa chỉ số, tiếp cận được dịch vụ Internet băng rộng. 100% người dân trong độ tuổi lao động sử dụng điện thoại thông minh… (Plo.vn 09/8, Tấn Việt)Về đầu trang

Giải quyết thủ tục hành chính khi giãn cách xã hội tại Hà Nội: Bảo đảm thông suốt

Hơn 10 ngày kể từ khi thành phố Hà Nội tạm dừng việc tiếp nhận và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính trực tiếp để tuân thủ giãn cách xã hội, các công chức bộ phận “một cửa” đã nhanh chóng thích nghi với cách thức làm việc trong tình hình mới. Dù làm việc tại cơ quan hay tại nhà, từng cá nhân đều nêu cao ý thức, tinh thần trách nhiệm, đặc biệt là tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, bảo đảm thông suốt mọi hồ sơ hành chính.

Thực hiện Văn bản số 2398/ UBND-KSTT ngày 27-7-2021 của UBND thành phố Hà Nội về việc triển khai một số biện pháp tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính tại bộ phận “một cửa” các cấp để phòng, chống dịch Covid-19, các cơ quan, đơn vị đã ban hành thông báo về nội dung này. Trong đó nêu rõ tạm dừng việc tiếp nhận và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính theo hình thức trực tiếp trong thời gian thực hiện Chỉ thị số 17/CT-UBND ngày 23-7-2021 của Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội hoặc khi có thông báo mới. Công văn cũng thông báo địa chỉ tiếp nhận thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp thông qua hình thức trực tuyến; chỉ tiếp 1 công dân tại một thời điểm tại bộ phận "một cửa" (trường hợp phát sinh việc tiếp nhận và trả kết quả) và người dân phải giữ khoảng cách tối thiểu 2m khi giao tiếp tại đây...

Theo Phó Chánh Văn phòng HĐND - UBND quận Hà Đông Mai Thị Kim Hồng, UBND quận Hà Đông đã ban hành công văn về việc triển khai một số biện pháp tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính tại bộ phận “một cửa” để phòng, chống dịch Covid-19, gửi tới các phòng chuyên môn thuộc UBND quận, UBND các phường và Bưu điện trung tâm 2 (Bưu điện Hà Đông). Văn phòng HĐND - UBND quận phối hợp với các phòng chuyên môn bố trí, sắp xếp cán bộ, công chức tiếp nhận, xử lý hồ sơ, kịp thời giải quyết các hồ sơ có tính cấp bách... Tại bộ phận “một cửa” của UBND quận, trước đây bố trí 9 người trực, nay chỉ còn 3 người.

Tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội, hầu hết thủ tục hành chính đều nhận nộp trực tuyến và nhiều thủ tục đang trả qua đường bưu chính. Thay vì 7 người trực như trước đây, hiện sở chỉ phân công luân phiên 2 cán bộ trực ở bộ phận “một cửa”; trong đó, một người giải quyết hồ sơ và một người xử lý các vấn đề phát sinh.

Chia sẻ về cách thức làm việc trong thời gian giãn cách xã hội, Phó Chánh Văn phòng Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội Lê Tuấn Linh nói: “Chúng tôi làm việc ở cơ quan theo lịch luân phiên, tuân thủ quy định phòng, chống dịch. Những ngày ở nhà tôi xử lý việc tiếp nhận hồ sơ qua hệ thống mạng và công việc đều trôi chảy. Điều quan trọng nhất để làm việc hiệu quả là hệ thống mạng ổn định, tiếp đến là cơ sở dữ liệu, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin của cơ quan”.

Thành phố Hà Nội vừa quyết định tiếp tục thực hiện giãn cách xã hội đến 6h ngày 23-8-2021. Như vậy, đa số cán bộ, công chức, viên chức, người lao động sẽ tiếp tục sử dụng công nghệ thông tin làm việc tại nhà trong giải quyết công việc. Diễn biến mới này đòi hỏi chính mỗi người dân cũng cần chủ động tìm hiểu, thao tác được đối với những hồ sơ nộp trực tuyến, hạn chế thấp nhất việc đi ra ngoài, để bảo đảm an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng. (Hanoimoi.com.vn 09/8, Hiền Thu)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Kết nối nền tảng hỗ trợ tư vấn khám, chữa bệnh từ xa tới 100% huyện

Ngày 8/8, Bộ TT&TT và Bộ Y tế công bố kết nối Nền tảng khám chữa bệnh từ xa (Telehealth) tới 100% bệnh viện tuyến huyện, ra mắt Trung tâm công nghệ Quốc gia phòng, chống Covid-19.

Thủ tướng Phạm Minh Chính, Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng; Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long, đại diện Tập đoàn Viettel, Tập đoàn VNPT cùng các cơ sở y tế tại tuyến huyện trên toàn quốc tham gia sự kiện.

Được đưa vào vận hành từ tháng 4/2020, Nền tảng Telehealth đã kết nối hơn 30 bệnh viện trung ương với hơn 1.600 cơ sở y tế tuyến dưới. Đến nay, đã có 1.600 hồ sơ, 500 buổi hội chẩn và hơn 200 buổi đào tạo được tổ chức và được đánh giá là một trong những giải pháp hiệu quả trong việc hỗ trợ chẩn đoán, điều trị kịp thời, hạn chế quá tải ở các bệnh viện tuyến trên.

Kể từ ngày 6/8, Nền tảng khám chữa bệnh từ xa được kết nối tới 100% cơ sở y tế tuyến huyện, góp phần xóa nhòa giới hạn giữa các tuyến, các ca bệnh khó, trong đó có điều trị bệnh nhân Covid-19 sẽ được hội chẩn bởi các chuyên gia hàng đầu mà không cần chuyển lên tuyến trên.

Thủ tướng Phạm Minh Chính đã dành gần 2 giờ đồng hồ để kết nối đến hơn 20 điểm cầu, trong số 700 điểm cầu ở các Trung tâm y tế tuyến huyện cùng lúc được kết nối trực tuyến trên Nền tảng Telehealth.

Qua nền tảng này, các y, bác sĩ ở các Trung tâm y tế tuyến huyện như: Cao Lộc (Lạng Sơn), huyện Thống Nhất (Đồng Nai), Đức Trọng, Bệnh viện Đa khoa Gia Lai, Bù Gia Mập, Hớn Quảng (Bình Phước), Châu Thành (Tiền Giang), Gò Công Đông (Tiền Giang), Dung Quất (Quảng Ngãi)…đã chia sẻ về số lượng bệnh nhân và tình hình chữa trị các bệnh nhân Covid-19 đang tiếp nhận, tình hình chữa trị cũng như những thắc mắc cụ thể được gửi đến các chuyên gia của Bệnh viện Đại học Chợ Rẫy.

Trực tiếp điều hành phần kết nối tại các điểm cầu tới các chuyên gia y tế, Thủ tướng Phạm Minh Chính đánh giá: “Đây là phương tiện để chúng ta giảm tử vong ở mức tối đa nhất. Chính là phải làm chủ ngay từ tuyến dưới. Như vậy, chúng ta có thêm một công cụ, có thêm một phương tiện để tự tin hơn. Có thêm một số trang thiết bị máy móc thì có thể điều trị ngay, điều trị sớm, điều trị từ xa cho bệnh nhân. Đây là mục tiêu lớn nhất của hệ thống này”. (Ictnews.vietnamnet.vn 08/8)Về đầu trang

Sẽ bổ sung các tiện ích về phòng chống dịch trên ứng dụng VssID

Cùng với việc hoàn thành liên thông dữ liệu giữa các ứng dụng bảo hiểm xã hội số VssID và Sổ Sức khỏe điện tử, sắp tới Bảo hiểm xã hội Việt Nam sẽ bổ sung, nâng cấp những tiện ích phòng chống dịch trên ứng dụng VssID.

Theo Bảo hiểm xã hội Việt Nam, thực hiện Nghị định 43 ngày 31/3/2021 của Chính phủ, cơ quan này đang phối hợp với Cục Tin học hóa của Bộ TT&TT để sớm xây dựng và ban hành quy chuẩn quốc gia về cấu trúc dữ liệu trao đổi với CSDL quốc gia về Bảo hiểm.

Trong thời gian chờ ban hành quy chuẩn, trước những diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19, nhiều tỉnh, thành phố có nhu cầu khai thác dữ liệu, xác thực thông tin người tham gia và người hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp.

Vì thế, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã cung cấp kịp thời để các địa phương sử dụng vào công tác lập danh sách xét nghiệm, danh sách tiêm chủng vắc xin; xác định thông tin bệnh nền; theo dõi, truy vết nhanh bệnh nhân F0; khoanh vùng, dập dịch tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, đơn vị sử dụng lao động…

Bảo hiểm xã hội Việt Nam đề nghị Bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố phối hợp với Sở Y tế và Sở TT&TT đề xuất việc chia sẻ dữ liệu từ CSDL quốc gia về Bảo hiểm qua trục NGSP (nền tảng kết nối, liên thông các hệ thống thông tin ở Trung ương và địa phương – PV) của Bộ TT&TT để phục vụ nhu cầu cấp bách của việc phòng chống dịch bệnh Covid-19; báo cáo UBND tỉnh, thành phố, Ban chỉ đạo chống dịch của tỉnh, thành phố và thông tin sớm về Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Cũng trong công văn gửi Bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mới đây, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho hay, cơ quan này sẽ bổ sung, nâng cấp các tiện ích phòng chống dịch trên ứng dụng VssID - Bảo hiểm xã hội số; hoàn thành việc liên thông dữ liệu trên ứng dụng VssID và Sổ Sức khỏe điện tử giữa Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Bộ Y tế.

Trong quá trình chuyển đổi số của ngành bảo hiểm xã hội, việc triển khai ứng dụng bảo hiểm xã hội số VssID được đánh giá là một bước đi quan trọng, góp phần thực hiện nhiệm vụ cải cách chính sách bảo hiểm xã hội, hướng tới sự hài lòng cho các tổ chức, cá nhân. (Ictnews.vietnamnet.vn 09/8, Vân Anh)Về đầu trang

Khách sạn, nhà hàng phải có máy tính tiền kết nối với cơ quan thuế

Bộ Tài chính đang lấy ý kiến dự thảo thông tư hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Quản lý thuế 2019 và Nghị định số 123/2020 của Chính phủ quy định về hóa đơn, chứng từ.

Đáng chú ý, dự thảo lần này có quy định yêu cầu các đối tượng kinh doanh phải sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế được khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối chuyển dữ liệu điện tử với cơ quan thuế.

Trong đó, máy tính tiền này là thiết bị điện tử đồng bộ hoặc một hệ thống nhiều thiết bị điện tử được kết hợp với nhau bằng một phần mềm bán hàng có chức năng chung như, tính tiền, lưu trữ các thao tác bán hàng, số liệu bán hàng, in hóa đơn, tra cứu giao dịch, báo cáo giao dịch. Các thiết bị, hệ thống phải được kết nối chuyển dữ liệu đến cơ quan thuế theo định dạng chuẩn bằng phương thức điện tử.

Cơ quan soạn thảo quy định rõ các trường hợp sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế nói trên gồm các tổ chức, cá nhân (không gồm hộ khoán) hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực trung tâm thương mại; siêu thị; ăn uống; nhà hàng; khách sạn; bán lẻ thuốc tân dược; dịch vụ vui chơi, giải trí; đại lý bán lẻ hàng tiêu dùng; cung cấp hàng hóa, dịch vụ trực tiếp đến người tiêu dùng khác.

Hóa đơn điện tử được khởi tạo từ máy tính tiền kết nối chuyển dữ liệu điện tử với cơ quan thuế được cấp mã theo tiêu chuẩn hệ thống của Tổng cục Thuế.

Ngoài ra, dự thảo cũng yêu cầu các tổ chức, cá nhân phải áp dụng hóa đơn điện tử khi bán hàng hóa, dịch vụ đối với một số trường hợp rủi ro cao về thuế theo quy định tại Thông tư 31/2021 của Bộ Tài chính.

Dự kiến, nếu dự thảo được thông qua, thông tư sẽ có hiệu lực thi hành từ 1/7/2022. (Ictnews.vietnamnet.vn 08/8)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

“Thắt lưng buộc bụng” chi tiêu ngân sách trong khó khăn

Tại kỳ họp Quốc hội vừa qua dù diễn ra trong thời gian rất ngắn nhưng tại các cuộc thảo luận liên quan đến tình hình kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước, các đại biểu Quốc hội đã rất quan tâm đến “túi tiền” quốc gia.

Nhiều ý kiến đề nghị cần triệt để tiết kiệm chi tiêu hơn nữa, thậm chí đề nghị, Chính phủ cần ban hành chính sách “thắt lưng buộc bụng”, giảm chi thường xuyên trong cả giai đoạn tới, đảm bảo chi phòng dịch, chi đầu tư phát triển. Nhiều đại biểu đồng tình với quan điểm này.

Ngay từ thời điểm năm 2020, khi bắt đầu dịch Covid-19, trong bối cảnh thu ngân sách nhà nước giảm do tác động của thiên tai, dịch bệnh, cân đối ngân sách các cấp khó khăn, Bộ Tài chính đã tham mưu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tăng cường thực hiện các giải pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Cụ thể như: Chính phủ công khai, minh bạch trong phân bổ dự toán ngân sách Nhà nước; sắp xếp thứ tự ưu tiên các nhiệm vụ chi theo mức độ cấp thiết, khả năng triển khai, thực hiện nhiệm vụ, chương trình dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; bảo đảm nguyên tắc chỉ trình cấp có thẩm quyền ban hành chính sách, đề án, nhiệm vụ mới khi cần thiết và có nguồn lực đảm bảo; điều hành chi đầu tư gắn với tiến độ nguồn thu.

Đồng thời, Chính phủ chỉ đạo tiết kiệm 10% dự toán chi thường xuyên để tạo nguồn cải cách tiền lương (đã tiết kiệm khoảng 2,9 nghìn tỷ đồng); cắt giảm kinh phí hội nghị, công tác phí, tiết kiệm thêm chi thường xuyên chưa cần thiết, cấp bách (ngân sách trung ương tiết kiệm và cắt giảm dự toán ngân sách được khoảng 55 nghìn tỷ đồng, bằng 5% dự toán Quốc hội giao).

Trong những tháng cuối năm 2020, các địa phương tiếp tục thực hiện cắt giảm tối thiểu 70% kinh phí hội nghị, công tác phí (khoảng 1 nghìn tỷ đồng) và tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên khác còn lại của năm, ước khoảng 6,4 nghìn tỷ đồng. Một số địa phương có kết quả tốt trong tiết kiệm chi thường xuyên như: thành phố Hà Nội 1.077,6 tỷ đồng, Thanh Hoá 1.301,9 tỷ đồng, Bình Dương 678 tỷ đồng, Đồng Nai 498,2 tỷ đồng, Đắk Lắk 377,8 tỷ đồng, Nghệ An 307,79 tỷ đồng, Bà Rịa - Vũng Tàu 256,7 tỷ đồng, Bắc Giang 273,6 tỷ đồng...

Đối với ngân sách Trung ương, tổng số tiết kiệm chi của năm 2020 là 12,1 nghìn tỷ đồng, gồm: tiết kiệm chi trả nợ lãi 10,6 nghìn tỷ đồng; tiết kiệm 70% kinh phí hội nghị, công tác phí và 10% kinh phí thường xuyên khác của các bộ, cơ quan trung ương là 1,5 nghìn tỷ đồng. Nhờ nguồn tiết kiệm này, ngân sách Trung ương đã chi 12,1 nghìn tỷ đồng này để mua vắc-xin phòng chống Covid-19.

Tiết kiệm các khoản chi không cần thiết, các khoản đã tiết kiệm rồi lại tiết kiệm thêm đã mang lại hiệu quả tích cực, có ý nghĩa trong bối cảnh dịch bệnh còn phức tạp như hiện nay. Nhờ đó, đã góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ tài chính  - ngân sách Nhà nước năm 2020; đáp ứng kịp thời, đầy đủ các nhiệm vụ chi phát triển kinh tế - xã hội; phòng, chống thiên tai, dịch bệnh; bảo đảm an sinh xã hội; quốc phòng, an ninh; quản lý nhà nước và thanh toán các khoản nợ đến hạn. (Thoibaotaichinhvietnam.vn 09/8, Minh Anh)Về đầu trang

Bộ Tài chính kiến nghị chi bổ sung thu nhập cho cán bộ Ngân hàng Nhà nước

Tại dự thảo Nghị định của Chính phủ về chế độ tài chính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa công bố, Bộ Tài chính đề nghị sửa đổi mức bổ sung thu nhập cho cán bộ, công chức, viên chức từ chênh lệch thu chi.

Theo lý giải của Bộ Tài chính, quy định tại Quyết định số 07, Thông tư số 195/2013/TT-BTC thì Ngân hàng Nhà nước được sử dụng phần kinh phí tiết kiệm được do thực hiện khoán chi và trích từ chênh lệch thu, chi để chi bổ sung thu nhập cho cán bộ tối đa 0,8 lần lương, phụ cấp lương thực tế thực hiện trong năm không bao gồm phụ cấp công vụ. Trong đó, mức bổ sung từ chênh lệch thu chi tối đa không quá 0,55, phần còn lại được bổ sung từ nguồn kinh phí tiết kiệm kinh phí khoán.

Vì vậy, cơ chế tiền lương của cán bộ, công chức Ngân hàng Nhà nước đang được hưởng tối đa 2,8 lần lương cơ bản, gồm 01 lần tiền lương, 01 lần từ khoản chi khen thưởng phúc lợi và tối đa 0,8 lần chi bổ sung thu nhập.

Tuy nhiên, hiện nay Ngân hàng Nhà nước thực hiện giao khoán kinh phí cho các đơn vị trực thuộc theo cơ chế phân chia đồng đều như nhau, chưa xây dựng được cơ chế tiền lương và phân phối thu nhập nội bộ.

“Việc phân phối thu nhập đồng đều không đảm bảo tính công bằng giữa các bộ phận (giữa các bộ phận có mức độ công việc phức tạp cao hoặc đem lại hiệu quả về kinh tế như chính sách tiền tệ, cơ quan thanh tra giám sát, Sở giao dịch với các bộ phận làm việc hành chính đơn thuần như các bộ ngành khác) đã không tạo ra động lực khuyến khích đối với đội ngũ cán bộ. Nhất là những cán bộ có trình độ, năng lực và công tác trong những lĩnh vực có tính đặc thù của Ngân hàng Nhà nước”, Bộ Tài chính đánh giá.

Với lý giải trên, Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định kinh phí bổ sung thu nhập cho cán bộ, công chức Ngân hàng Nhà nước từ chênh lệch thu chi được xác định theo mức độ hoàn thành chỉ tiêu nộp ngân sách nhà nước được giao trong năm (là tỷ lệ giữa chênh lệch thu chi thực tế nộp ngân sách nhà nước trong năm và chênh lệch thu chi nộp ngân sách nhà nước được giao).

Thẩm quyền phê duyệt phương án khoán là Thủ tướng Chính phủ và được thực hiện hàng năm. Ngân hàng Nhà nước lập phương án khoán, gửi Bộ Tài chính để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt.

Đánh giá tác động của chính sách, Bộ Tài chính cho rằng không có tác động tiêu cực nào xảy ra. Trong khi đó, việc thay đổi sẽ có tác động tích cực là việc quy định kinh phí bổ sung thu nhập cho cán bộ, công chức từ chênh lệch thu chi được xác định theo mức độ hoàn thành chỉ tiêu nộp ngân sách nhà nước được giao trong năm sẽ khuyến khích Ngân hàng Nhà nước tăng cường trách nhiệm trong việc thực hiện kế hoạch tài chính và dự toán nộp ngân sách nhà nước. (Vneconomy.vn 08/8, Vũ Phong)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Để giảm thiệt hại do tham nhũng, thất thoát tài sản: Cần xử nhanh cán bộ vi phạm

Trao đổi với PV Tiền Phong về kết quả công tác phòng, chống tham nhũng trong 6 tháng đầu năm 2021, ông Ngô Văn Sửu, nguyên Vụ trưởng Vụ 1, Ủy ban Kiểm tra T.Ư cho rằng, phòng chống tham nhũng đã đạt được nhiều kết quả tích cực, đặc biệt T.Ư đã ban hành và thống nhất nhiều cơ chế mới để bảo đảm việc xử lý đồng bộ, kịp thời, nhất là những vụ việc liên quan cán bộ diện T.Ư quản lý.

Trước đây có thời điểm chúng ta phải chờ kết luận điều tra, thanh tra, kiểm toán rồi mới xử lý, dẫn đến tài sản bị tẩu tán, ảnh hưởng đến công việc ở cơ quan và địa phương.

Dù dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, song trong 6 tháng đầu năm 2021 công tác phòng, chống tham nhũng vẫn diễn ra quyết liệt, ông đánh giá thế nào về kết quả trên?

Nhìn vào kết quả mà Ban Chỉ đạo T.Ư về phòng, chống tham nhũng công bố vừa qua cho thấy, cuộc chiến chống tham nhũng sau Đại hội XIII của Đảng vẫn tiếp tục được duy trì, đẩy mạnh, “không ngừng”, “không nghỉ”, “không có vùng cấm”. Trong 6 tháng, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật đối với trên 70 tổ chức đảng, trên 8.000 đảng viên vi phạm, trong đó có gần 180 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng, cố ý làm trái và hơn 20 đảng viên bị kỷ luật do vi phạm về kê khai tài sản, thu nhập. Tất cả các con số này đều tăng hơn so với cùng kỳ năm 2020.

Riêng Ủy ban Kiểm tra T.Ư, cũng đã xử lý, kiến nghị xử lý kỷ luật 1 tổ chức đảng trực thuộc T.Ư, 7 cán bộ diện T.Ư quản lý và nhiều cán bộ, lãnh đạo quản lý các doanh nghiệp nhà nước có sai phạm. Điều đáng tích cực nữa là có sự chuyển động tích cực từ trên xuống dưới, không còn tình trạng “trên nóng dưới lạnh”. Việc phòng, chống tham nhũng trong nội bộ cũng tích cực hơn, phát hiện nhiều vụ việc…

Không chỉ xử lý, trong 6 tháng qua, các cơ quan chức năng cũng đã kê biên, phong tỏa và thu hồi hàng chục nghìn tỷ đồng từ các vụ án tham nhũng, kinh tế, ông đánh giá sao về kết quả này?

Đây là tín hiệu rất tích cực. Phòng, chống tham nhũng ngoài việc xử lý nghiêm những cá nhân vi phạm thì điều quan trọng nhất là phải thu hồi được tài sản. Nếu chỉ tập trung vào kỷ luật, xử lý, mà không thu hồi được tài sản thì hiệu quả trong phòng, chống tham nhũng cũng rất hạn chế. Điều này cũng sẽ dẫn đến tình trạng “hy sinh đời bố để củng cố đời con”. Theo đó, các cơ quan tố tụng đã thu giữ, tạm giữ, kê biên, phong tỏa tài sản, ngăn chặn giao dịch theo thống kê không chỉ là 1.995 tỷ đồng mà là 14.413 tỷ đồng.

Đây là nét rất mới so với trước đây, khi việc thu hồi tài sản tham nhũng thường chỉ tập trung vào bản án có hiệu lực pháp luật mà thiếu sự phối hợp, quyết liệt ở các biện pháp phòng ngừa tiền tố tụng, trong tố tụng. Tất nhiên so với yêu cầu đề ra vẫn còn hạn chế cần phải nghiên cứu để có giải pháp tốt hơn nhằm nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản, tham nhũng.

Việc xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế và những cán bộ có liên quan lần này diễn ra nhanh hơn, vì sao, thưa ông?

Thời gian qua, các cơ quan chức năng đã thay đổi rất nhiều quy trình xử lý. Theo đó, cơ quan chức năng trong quá trình kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, thi hành án nếu phát hiện tội phạm thì chuyển ngay cơ quan điều tra có thẩm quyền để xử lý theo quy định pháp luật. Tương tự, bất cứ khi nào phát hiện vi phạm liên quan đến cán bộ thuộc diện T.Ư quản lý, cơ quan chức năng cũng chuyển thông tin, hồ sơ, tài liệu liên quan cho Ủy ban Kiểm tra T.Ư và các cơ quan chức năng xem xét, chứ không đợi cho đến khi kết thúc. Việc gửi ngay thông tin về hành vi vi phạm cho Ủy ban Kiểm tra T.Ư giúp cơ quan này xem xét ngay quy trình xử lý cán bộ thuộc diện T.Ư quản lý.

Trước đây, để xử lý được những cán bộ này, chúng ta thường phải đợi kết luận thanh tra, kiểm toán, điều tra. Điều đó không bảo đảm được tính kịp thời, bởi có những vụ việc phức tạp phải điều tra hàng mấy năm mới ra được kết luận. Trong thời gian đó, người vi phạm đã kịp thời tẩu tán hết tài sản rồi, chẳng còn gì để mà thu hồi. Chưa kể việc chậm trễ xem xét giải quyết sẽ khiến cho công việc ở cơ quan đó bị ảnh hưởng. Với các dự án, việc chậm xử lý cũng khiến cho dự án bị đình trệ, gây thiệt hại và lãng phí lớn. Đổi mới như hiện nay sẽ khiến công tác phòng, chống tham nhũng, hiệu quả hơn và giảm được những thiệt hại do tham nhũng gây ra.

Tại cuộc họp vừa qua, Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng T.Ư cũng thống nhất việc bổ sung thêm chức năng chống tiêu cực, ông đánh giá sao về việc này?

Điều này là cần thiết. Vì tham nhũng và tiêu cực liên quan đến nhau. Tiêu cực có phạm vi rất rộng, cho nên cần làm rõ tiêu chí. Trong bối cảnh hiện nay, tôi cho rằng, nên tập trung vào các hành vi tiêu cực như cơ hội về chính trị, chạy chức, chạy quyền. Bởi những vấn đề liên quan rất lớn đến công tác cán bộ. Nếu để những kẻ cơ hội, chạy chức, chạy quyền leo cao, chui sâu vào bộ máy thì rất nguy hại. Vì thế, những hành vi này cần phải cương quyết chống. (Tienphong.vn 09/8, Văn Kiên)Về đầu trang

Chủ động phản ánh, kiến nghị

Để tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, ngày 1.1.2021, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 02/NQ-CP về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2021. Trong đó cắt giảm chi phí tuân thủ pháp luật là một trong những nhiệm vụ được Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đặc biệt quan tâm, chú trọng thực hiện trong thời gian qua.

Theo đánh giá của các cơ quan chức năng, dù các bộ, ngành, địa phương đã có nhiều giải pháp trong việc cắt giảm chi phí tuân thủ pháp luật nhưng việc cắt giảm chi phí tuân thủ pháp luật chưa được như kỳ vọng. Trong khi đó, đánh giá chi phí tuân thủ pháp luật và giảm thiểu chi phí tuân thủ pháp luật là công việc mới, động chạm đến lợi ích của nhiều bộ, ngành địa phương.

Hơn nữa, chi phí tuân thủ pháp luật của người dân và doanh nghiệp được quy định tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật, liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực nên khó khăn trong việc rà soát, đánh giá các chi phí trong thực hiện các thủ tục hành chính của người dân và doanh nghiệp. Nhiều chính sách có quy định về chi phí tuân thủ pháp luật chưa phù hợp, chồng chéo, trong quá trình xây dựng chính sách cơ quan có thẩm quyền chưa tham vấn, lấy ý kiến rộng rãi của cộng đồng doanh nghiệp.

Đặc biệt, vẫn không ít văn bản quy phạm pháp luật có quy định chưa rõ ràng, mâu thuẫn, ảnh hưởng đến việc áp dụng trong các hoạt động đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp mất nhiều thời gian trong khâu hoàn thiện hồ sơ pháp lý, thủ tục hành chính. Trong khi đó, việc công khai các loại thủ tục hành chính cũng như phối hợp, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan, giữa cơ quan với doanh nghiệp chưa được nhịp nhàng và hiệu quả. Đặc biệt, đa số người dân ở khu vực nông thôn chưa quan tâm nhiều đến việc giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ công ích trực tuyến và dịch vụ bưu chính công ích.

Từ thực tế này, bên cạnh việc tiếp tục rà soát, đánh giá toàn bộ các quy định về phí, lệ phí thuộc phạm vi ngành, lĩnh vực, kịp thời phát hiện các quy định chưa phù hợp, tạo gánh nặng, làm tăng chi phí tuân thủ pháp luật, Bộ Tư pháp cho rằng, đẩy mạnh các mô hình hoạt động trong thực tiễn nhằm thu thập, cập nhật thông tin, tiếp nhận ý kiến phản ánh của các cá nhân, doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh như Cà phê Doanh nhân, Câu lạc bộ các doanh nghiệp trẻ…

Tuy nhiên, từ khâu tổ chức thi hành pháp luật cho thấy, cộng đồng doanh nghiệp cần chủ động hơn nữa trong việc phản ánh các quy định còn bất cập; những vướng mắc gặp phải trong việc thi hành pháp luật. Bởi thực tiễn áp dụng pháp luật mới chính là tham số quan trọng để đề xuất sửa đổi, bổ sung, thậm chí bãi bỏ quy định cản trở phát triển. (Daibieunhandan.vn 09/8, Nguyễn Minh)Về đầu trang./.

 

Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.012.544 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này