Bản tin cải cách hành chính ngày 10/5/2022

Font size : A- A A+

  CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1.        Một địa phương được doanh nghiệp FDI đánh giá vượt trội về cả cơ sở hạ tầng, môi trường kinh doanh và chính quyền tỉnh

2.        Không xếp hạng chỉ số PAPI năm 2021 các tỉnh: Bắc Giang, Bắc Ninh, Quảng Ninh do nhiễu dữ liệu 

3.        Đồng Tháp sát cánh cùng cộng đồng doanh nghiệp

4.        Bà Rịa - Vũng Tàu: Ở một xã nhiều năm liền dẫn đầu về CCHC

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

5.        Hiện thực hóa mô hình “kho bạc không có tiền mặt”

6.        Ngành hải quan: Tập trung cải cách hành chính, tạo thuận lợi thương mại

7.        Nỗi bất an mang tên điều kiện kinh doanh

8.        Chặn giấy phép con… hồi sinh

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

9.        Luân chuyển cán bộ: Không “tráng men”, làm đẹp hồ sơ

BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

10.     Trên “nóng”, dưới cũng phải “nóng”!

 

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Một địa phương được doanh nghiệp FDI đánh giá vượt trội về cả cơ sở hạ tầng, môi trường kinh doanh và chính quyền tỉnh

Theo kết quả điều tra của Báo cáo Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI 2021, Quảng Ninh là tỉnh được các doanh nghiệp đánh giá vượt trội so với các tỉnh còn lại cả về chất lượng cơ sở hạ tầng và môi trường kinh doanh. Quảng Ninh cũng đứng đầu về tỷ lệ doanh nghiệp tin tưởng chính quyền địa phương nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh (95%).

Một số tỉnh khác cũng nhận được đánh giá tích cực, như Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bình Dương và Bắc Ninh. Một số tỉnh có chất lượng cơ sở hạ tầng tốt, nhưng môi trường kinh doanh cần có thêm nhiều nỗ lực là Khánh Hòa, Tây Ninh, Hưng Yên, Đà Nẵng, Quảng Nam và Hải Phòng. Một số tỉnh có chất lượng cơ sở hạ tầng còn hạn chế, nhưng môi trường kinh doanh đang được các doanh nghiệp FDI đánh giá cao là các tỉnh Bắc Giang, Bình Phước và Bà Rịa-Vũng Tàu.

Về tổng thể, báo cáo cho biết, các đánh giá trung bình của doanh nghiệp FDI về chất lượng hạ tầng, môi trường kinh doanh và mức độ tin tưởng vào nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư của chính quyền các địa phương năm 2021 đều ở mức khá.

 Cụ thể, chất lượng cơ sở hạ tầng năm 2021 và chất lượng môi trường kinh doanh lần lượt đạt ở mức 4,57/6 điểm và 3,65/5 điểm. Trong khi đó, mức trung bình điểm số tin tưởng chính quyền địa phương nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư theo cam kết đã đưa ra là 2.75 (65,1% tin tưởng). Có mức độ tương quan cao giữa các chiều cạnh này.

Cụ thể, mức tương quan giữa cơ sở hạ tầng và môi trường kinh doanh là 0,64, giữa chất lượng cơ sở hạ tầng và mức độ tin tưởng vào nỗ lực cải cách của chính quyển địa phương là 0,62, giữa chất lượng môi trường kinh doanh và mức độ tin tưởng vào nỗ lực cải cách của chính quyền là 0,89.

Các hệ số tương quan này đều có ý nghĩa về mặt thống kê (khoảng tin cậy 95%), cho thấy các doanh nghiệp FDI khi đánh giá tích cực về chất lượng cơ sở hạ tầng và môi trường kinh doanh, thì cũng thường tin tưởng vào nỗ lực cải cách của chính quyền địa phương.

Báo cáo đánh giá, điều tra PCI-FDI lần này ghi nhận những cải thiện tích cực trong môi trường kinh doanh Việt Nam theo đánh giá của các doanh nghiệp FDI.

Gánh nặng thanh, kiểm tra đã giảm, cùng với những chuyển biến tương đối tích cực trong cải cách thủ tục hành chính trong nhiều lĩnh vực. Gánh nặng chi phí không chính thức tiếp tục xu hướng giảm. Chất lượng lao động và chất lượng cơ sở hạ tầng cũng có những cải thiện tương đối rõ rệt theo thời gian.

Tuy nhiên, Việt Nam cũng cần tiếp tục nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh nhiều hơn nữa. Đó là tập trung cải cách những lĩnh vực thủ tục hành chính vẫn còn có tỷ lệ doanh nghiệp gặp phiền hà tương đối cao, như thuế, phòng cháy, xuất nhập khẩu, đăng ký đầu tư và bảo hiểm xã hội.

Việt Nam cũng cần tạo thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp trong thực hiện các thủ tục triển khai dự án đầu tư có công trình xây dựng, cụ thể là cấp phép xây dựng, thẩm duyệt phòng cháy, đánh giá tác động môi trường. Công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực cần tiếp tục đẩy mạnh, đặc biệt trong một số lĩnh vực như xuất nhập khẩu, thanh kiểm tra, thủ tục tố tụng tòa án và thủ tục hành chính đất đai.

Chất lượng cơ sở hạ tầng cũng cần nâng cao hơn nữa trong thời gian tới. Việt nam cũng cần tiếp tục cải thiện chất lượng nguồn nhân lực, cùng với việc đảm bảo nguồn cung lao động cũng là kỳ vọng từ phía các doanh nghiệp FDI đối với các địa phương.

Điều tra PCI-FDI 2021 tiếp tục phản ánh một thực tế là phần lớn các doanh nghiệp FDI vẫn có quy mô nhỏ và vừa, cho thấy nhiều nhà đầu tư nước ngoài đang hướng tới việc trở thành vệ tinh cho các dự án FDI lớn tại Việt Nam. Kết quả điều tra cũng ghi nhận tỷ lệ doanh nghiệp FDI sử dụng ba nhóm nhà cung cấp nội địa đều giảm trong năm 2021 so với năm 2020 và năm 2019, một dấu hiệu cho thấy các doanh nghiệp trong nước đang chật vật hơn trong việc tham gia chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam.

Việt Nam do vậy cần có những chính sách hiệu quả hơn nhằm tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước hội nhập vào chuỗi giá trị toàn cầu, cũng như có thể tận dụng cơ hội kết nối với các doanh nghiệp FDI để hưởng lợi sự lan tỏa của công nghệ và quản trị. (Cafef.vn 10/5, Thái Quỳnh)Về đầu trang

Không xếp hạng chỉ số PAPI năm 2021 các tỉnh: Bắc Giang, Bắc Ninh, Quảng Ninh do nhiễu dữ liệu

Ngày 10/5, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Chương trình Phát triển Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNDP), Trung tâm Nghiên cứu và Hỗ trợ cộng đồng (CECODES) phối hợp tổ chức công bố Chỉ số hiệu quả quản trị hành chính công cấp tỉnh (PAPI) năm 2021. Do bị nhiễu dữ liệu bởi yếu tố chủ quan nên chương trình không xếp hạng 3 tỉnh: Bắc Giang, Quảng Ninh và Bắc Ninh. 

Theo kết quả công bố Chỉ số PAPI năm 2021, tỉnh Thừa Thiên Huế dẫn đầu cả nước; xếp thứ hai là tỉnh Bình Dương và thứ ba là tỉnh Thanh Hóa.

Chỉ số PAPI đo lường và so sánh trải nghiệm, cảm nhận của người dân về hiệu quả và chất lượng thực thi chính sách và cung cấp dịch vụ công của chính quyền địa phương.

Chỉ số được xác định trên 8 trục nội dung là: Tham gia của người dân ở cấp cơ sở; công khai, minh bạch; trách nhiệm giải trình với người dân; kiểm soát tham nhũng trong khu vực công; thủ tục hành chính công; cung ứng dịch vụ công; quản trị môi trường; quản trị điện tử.

 rước đó, năm 2020, Bắc Giang xếp thứ 13/63 tỉnh, thành phố. (Baobacgiang.com.vn 10/5, Hoài Thu)Về đầu trang

Đồng Tháp sát cánh cùng cộng đồng doanh nghiệp

Theo Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp, ông Phạm Thiện Nghĩa, Chỉ số PCI của tỉnh liên tục nhiều năm đứng trong nhóm dẫn đầu cả nước tạo ra hình ảnh tích cực trong mắt các nhà đầu tư.

Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) 2021 do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) công bố mới đây cho thấy, tỉnh Đồng Tháp xếp thứ 3 cả nước và tiếp tục dẫn đầu các tỉnh, thành phố khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Đây cũng là năm thứ 14 liên tiếp, Đồng Tháp nằm trong nhóm 5 và năm thứ 8 liên tiếp nằm trong nhóm 3 tỉnh/thành phố “Có chất lượng điều hành kinh tế xuất sắc nhất nước”.

Tính từ năm 2008 đến năm 2021, tỉnh Đồng Tháp đã có 14 năm liên tiếp nằm trong nhóm 5 tỉnh/thành phố có chất lượng điều hành tốt nhất cả nước. Được biết đến với sáng kiến “cà phê doanh nhân” bắt đầu từ năm 2016, Đồng Tháp hiện đã mở rộng thêm nhiều hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp và nâng cao năng lực quản trị của các hộ kinh doanh. Tỉnh cũng khuyến khích thành lập các hội quán và các hợp tác xã nhằm tăng cường kết nối giữa những cá nhân và cơ sở sản xuất, kinh doanh, qua đó cùng chia sẻ kinh nghiệm và giúp đỡ nhau lớn mạnh hơn trong hoạt động kinh doanh. Đây cũng là một hình thức hiệu quả giúp kết nối chuỗi giá trị ở địa phương, đặc biệt là các chuỗi giá trị về nông sản.

Ông Phạm Thiện Nghĩa chia sẻ: “Vui mừng với kết quả đó, trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cộng đồng doanh nghiệp, các nhà đầu tư đã có đánh giá khách quan, công tâm và tinh thần trách nhiệm cao đối với môi trường kinh doanh tại Đồng Tháp. Đó chính là khích lệ to lớn cho cả bộ máy chính quyền tỉnh về sự kiên trì vượt qua những rào cản, tiếp tục thay đổi trong lề lối làm việc, cải cách thủ tục hành chính, thay đổi nhận thức về vai trò quan trọng của doanh nghiệp đối với tăng trưởng của địa phương”.

Ông Nghĩa cho rằng, Chỉ số PCI của tỉnh liên tục nhiều năm đứng trong nhóm các địa phương dẫn đầu đã tạo ra một hiệu ứng tốt, một hình ảnh Đồng Tháp tích cực cho tất cả những ai đang tìm kiếm cơ hội đầu tư. Đồng thời, khẳng định chủ trương “đồng hành cùng doanh nghiệp” mà lãnh đạo tỉnh đã theo đuổi và cam kết trong suốt chặng đường phát triển vừa qua.

Mặc dù môi trường đầu tư, kinh doanh của tỉnh luôn được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao, song không tự mãn với kết quả hiện có, người đứng đầu UBND tỉnh Đồng Tháp cho rằng, nhìn vào kết quả PCI 2021 cho thấy, dư địa cải thiện của tỉnh vẫn còn khá nhiều, nhất là đối với các chỉ số thành phần sụt giảm điểm so với PCI năm 2020 như: chi phí thời gian, tính năng động của chính quyền tỉnh, thiết chế pháp lý và an ninh trật tự... Điều này chứng tỏ nỗ lực của các cấp chính quyền tỉnh vẫn chưa đáp ứng hết được mong muốn của người dân và cộng đồng doanh nghiệp, đòi hỏi cả hệ thống chính trị phải phấn đấu hơn nữa, cùng chung sức, đồng lòng để chuyển hóa những thách thức, khó khăn thành cơ hội phát triển; tiếp tục lan tỏa tinh thần “Đồng hành với doanh nghiệp”.

“Chúng tôi xin cam kết sẽ luôn sát cánh cùng cộng đồng doanh nghiệp trên bước đường phát triển sự nghiệp của quý vị tại quê hương Đồng Tháp và cũng mong rằng, quý doanh nghiệp, nhà đầu tư tiếp tục hợp tác, gắn bó, sẻ chia với chính quyền vì một Đồng Tháp ngày càng phát triển, văn minh, giàu đẹp và thịnh vượng”, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp tái khẳng định.

 ình ảnh về một địa phương năng động, sáng tạo, môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng và sự thân thiện của chính quyền đã trở thành “thương hiệu” nổi tiếng của Đồng Tháp, đây được xem là lợi thế lớn của tỉnh trong thu hút đầu tư. Trong thời gian gần đây, Đồng Tháp đã tiếp đón nhiều đoàn doanh nghiệp, nhà đầu tư tới khảo sát, nghiên cứu, ký kết các biên bản thỏa thuận hợp tác, đăng ký đầu tư trên nhiều lĩnh vực khác nhau. (Baodautu.vn 10/5, Trúc Giang)Về đầu trang

Bà Rịa - Vũng Tàu: Ở một xã nhiều năm liền dẫn đầu về CCHC

Trong 5 năm (2017 - 2021), UBND xã Tam Phước (huyện Long Điền) có 4 năm xếp hạng Nhất Chỉ số Cải cách hành chính (CCHC) ở nhóm UBND các xã, phường, thị trấn. Điều gì giúp xã này có thành quả đó?

 “A lô, em chào chị Thảo. Hồ sơ của chị đã giải quyết xong rồi, chị ghé Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả UBND xã để nhận nhé!”. Đó là nội dung cuộc gọi điện thoại của chị Phan Thị Hồng Phượng, công chức Tư pháp-Hộ tịch UBND xã Tam Phước thông báo hồ sơ hành chính của Chị Ngô Thị Phương Thảo (ấp Phước Hưng, xã Tam Phước) đã giải quyết xong.

 

Cuộc gọi đã làm chị Ngô Thị Phương Thảo bất ngờ vì hồ sơ của mình được giải quyết nhanh, cán bộ xã lại rất chu đáo, gọi điện mời nhận kết quả. Chị Thảo cho biết, ngày 30/3, chị đến Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả UBND xã Tam Phước thủ tục hành chính (TTHC) đăng ký giấy khai sinh và thẻ BHYT cho con gái và được hẹn trả kết quả vào ngày 18/4. Nhưng 15 ngày sau, hồ sơ của chị đã được giải quyết xong trước hẹn.

 “Cán bộ xã thân thiện, dễ mến, làm việc có trách nhiệm, chu đáo lắm. Trước, tôi làm thủ tục đăng ký kết hôn cũng được giải quyết nhanh, chỉ mấy tiếng là được trả kết quả luôn, không phải chờ đợi lâu”, chị Thảo nói.

Rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ TTHC, tạo sự hài lòng cho người dân là một trong những điểm nổi bật trong công tác CCHC của xã Tam Phước. Chị Phan Thị Hồng Phượng, công chức Tư pháp-Hộ tịch UBND xã Tam Phước cho biết, rất nhiều TTHC được xã chủ động rút ngắn thời gian giải quyết để tạo thuận tiện cho người dân.

Như TTHC chứng thực, quy định giải quyết trong 1 ngày nhưng xã Tam Phước trả luôn cho người dân. TTHC khai sinh và thẻ BHYT từ 20 ngày theo quy định, xã Tam Phước rút ngắn còn 15 ngày; TTHC xác nhận tình trạng hôn nhân từ 3 ngày rút ngắn còn 2 ngày, đăng ký kết hôn quy định 1 ngày, nay còn 4 giờ…

 “Tôi thường chủ động liên lạc với người dân khi hồ sơ được giải quyết xong sớm trước hẹn, không để họ chờ đợi lâu. Khi tiếp nhận hồ sơ, mình luôn mang tâm thế là người phục vụ cho dân nên luôn vui vẻ, hòa nhã, hướng dẫn tận tình”, chị Phượng cho biết.

Tính đến nay, UBND xã Tam Phước đã thực hiện rút ngắn thời gian giải quyết 47/132 TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết cấp xã, đạt 35,6%. Tỷ lệ hồ sơ giải quyết trước và đúng hẹn của xã Tam Phước luôn đạt cao.

Năm 2021, Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả UBND xã Tam Phước đã tiếp nhận, giải quyết trước và đúng hẹn 3.343/3.343 hồ sơ, đạt 100%. 100% người dân đều hài lòng khi được xã khảo sát đánh giá hài lòng về giải quyết TTHC.

Nhiều năm liền, xã Tam Phước luôn dẫn đầu Chỉ số CCHC ở nhóm UBND các xã, phường, thị trấn. Vào các năm: 2017, 2018, 2020, 2021, UBND xã Tam Phước đều xếp hạng Nhất, riêng năm 2019 xếp hạng Nhì trong toàn tỉnh.

Trong đó, nhiều chỉ số thành phần đạt tuyệt đối như: Chỉ số hài lòng 17/17 điểm, cải cách tổ chức bộ máy đạt 4,5/4,5 điểm, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC đạt 8/8 điểm, cải cách cơ chế quản lý tài chính công đạt 6/6 điểm (năm 2021).

 Để giữ vững vị trí tiên phong trong CCHC, xã Tam Phước đã sáng tạo nhiều mô hình, cách làm hay với mục tiêu tất cả vì dân phục vụ, vì lợi ích của người dân. Như vào năm 2018, UBND xã Tam Phước triển khai mô hình “Tiếp nhận và trả kết quả TTHC điều chỉnh thay đổi thông tin trong hộ khẩu tại nhà công dân”.

Thực hiện mô hình này, công chức xã Tam Phước đã đến nhà những người cao tuổi, gặp khó khăn trong đi lại để làm hồ sơ giúp họ. Sau đó, năm 2019, mô hình này được đề xuất nhân rộng trên địa bàn tỉnh theo Công văn số 4410/UBND-SNV ngày 15/10/2019 của UBND tỉnh.

Từ năm 2021 đến nay, UBND xã Tam Phước sáng tạo mô hình “Hẹn giờ trả kết quả giải quyết TTHC tại nhà của tổ chức và công dân qua hệ thống bưu chính công ích”. Với mô hình này, người dân được tạo thuận lợi, chủ động về thời gian để nhận kết quả hồ sơ TTHC ngoài giờ hành chính, từ 17-18 giờ trong các ngày làm việc.

Bên cạnh đó, nhằm đẩy mạnh thực hiện TTHC trực tuyến mức độ 3, 4, xã Tam Phước đã làm các video clip với những hình ảnh, thông tin sinh động, dễ hiểu về cách thức thực hiện TTHC trực tuyến để tuyên truyền đến người dân.

Nhờ đó, từ khi thực hiện (năm 2019) đến nay, đã có gần 300 lượt người dân theo dõi, tìm hiểu về các TTHC trực tuyến qua trang thông tin điện tử của xã. Từ đó, đã có 158 hồ sơ được người dân thực hiện qua trực tuyến và dịch vụ bưu chính công ích.

Ông Trần Thanh Hồng, Chủ tịch UBND xã Tam Phước cho rằng, để thực hiện tốt việc CCHC, quan trọng nhất là ở khâu cán bộ, công chức. Vì vậy, mỗi việc làm, sáng kiến của xã đều chú trọng nâng cao chất lượng phục vụ của cán bộ, công chức trong giải quyết công việc hành chính trên tinh thần trách nhiệm, dân chủ, công khai, gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Xã luôn chú trọng đổi mới lề lối làm việc của cán bộ, công chức, với mục tiêu lấy lợi ích của người dân làm trung tâm, lấy sự hài lòng của người dân, tổ chức làm thước đo chất lượng phục vụ và năng lực lãnh đạo, điều hành của chính quyền địa phương.

“Chúng tôi không phân biệt, cứng nhắc trong khi thực hiện, phân công nhiệm vụ. Chỉ trừ hồ sơ cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do Chủ tịch UBND xã ký, còn lại các hồ sơ thuộc các lĩnh vực khác thì 2 Phó Chủ tịch UBND xã thay nhau ký hồ sơ để người dân không phải chờ đợi lâu”, ông Trần Thanh Hồng nói. (Baobariavungtau.com.vn 09/5, Thi Phong)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Hiện thực hóa mô hình “kho bạc không có tiền mặt”

Trên cơ sở hiện đại hóa các hình thức thanh toán, Kho bạc Nhà nước đặt mục tiêu đến năm 2025 không còn giao dịch chi bằng tiền mặt và giảm đến mức tối thiểu các giao dịch thu bằng tiền mặt, tiến tới hình thành “kho bạc không có tiền mặt”.

Kho bạc Nhà nước (KBNN) vừa phê duyệt Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trong toàn hệ thống đến năm 2025. Với định hướng ứng dụng công nghệ thông tin, lấy khách hàng làm trọng tâm, KBNN đặt mục tiêu đến năm 2025 sẽ tạo sự chuyển biến tích cực về thanh toán không dùng tiền mặt trong hệ thống KBNN.

 Cụ thể là hình thành thói quen của các đơn vị sử dụng ngân sách, người nộp ngân sách, các tổ chức và cá nhân có giao dịch với KBNN ở khu vực đô thị trong việc thanh toán bằng các hình thức không dùng tiền mặt; từng bước phát triển ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Bên cạnh đó, giảm dần tỷ lệ thu, chi bằng tiền mặt và tiến tới hình thành kho bạc không có tiền mặt trên cơ sở hiện đại hóa các hình thức thanh toán...; phấn đấu đến năm 2025 không còn giao dịch chi bằng tiền mặt và giảm đến mức tối thiểu các giao dịch thu bằng tiền mặt tại kho bạc.

Để đạt mục tiêu này, KBNN sẽ triển khai các giải pháp trên tất cả lĩnh vực, từ khuôn khổ pháp lý, công nghệ, quy trình nghiệp vụ, an toàn, bảo mật, đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ cho công chức và đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền. Trong đó, KBNN sẽ hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế, chính sách; nâng cấp, phát triển hạ tầng thanh toán hiện đại, an toàn, hiệu quả và có khả năng liên thông…

Cùng với đó, KBNN sẽ tiếp tục mở rộng mạng lưới tài khoản phục vụ thu ngân quỹ nhà nước tại các ngân hàng thương mại; phối hợp với Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan và các ngân hàng triển khai thu ngân sách theo mã định danh khoản thu để giảm thiểu truyền nhận thông tin giữa các cơ quan; đẩy mạnh các hình thức thu hiện đại như thu qua QR-Code, mobile-money, ví điện tử, mobilebanking...

Định kỳ hàng năm, KBNN phối hợp với ngành ngân hàng khảo sát tình hình cung ứng dịch vụ chi thanh toán cá nhân qua tài khoản, đặc biệt là địa điểm đặt máy ATM để báo cáo Bộ Tài chính quyết định mở rộng địa bàn bắt buộc chi thanh toán cá nhân qua tài khoản cho phù hợp với thực tế. Đồng thời, triển khai trên diện rộng việc kiểm soát và chủ động thanh toán đối với các khoản chi mua sắm hàng hóa, dịch vụ sử dụng trước, thanh toán sau (điện, nước, viễn thông,...) theo ủy quyền của các đơn vị sử dụng ngân sách.

Trên thực tế, hệ thống KBNN đã sẵn sàng hiện thực hóa mô hình “kho bạc không có tiền mặt”. Với nỗ lực cải cách thời gian qua, số thu, chi ngân sách nhà nước bằng tiền mặt tại KBNN đã giảm mạnh. Kết thúc năm 2021, tổng thu bằng tiền mặt qua hệ thống KBNN chỉ chiếm 0,33% so với tổng thu qua KBNN; số chi ngân sách nhà nước bằng tiền mặt qua KBNN chiếm 0,63% so với tổng chi qua KBNN. (Đại biểu nhân dân 10/5, Hà Lan)Về đầu trang

Ngành hải quan: Tập trung cải cách hành chính, tạo thuận lợi thương mại

Trong thời gian qua, ngành hải quan đã đẩy mạnh công tác cải cách hành chính; đơn giản hóa, tự động hóa quy trình thủ tục hải quan, tạo thuận lợi thương mại.

 Thông tin về một số kết quả công tác nổi bật, trong đó có công tác cải cách hành chính của Tổng cục Hải quan 4 tháng đầu năm 2022, đại diện Tổng cục Hải quan cho biết, xác định cải cách hành chính là một trong các nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, ngay từ đầu năm 2022, Tổng cục Hải quan đã xây dựng và ban hành các văn bản chỉ đạo, điều hành về cải cách hành chính, đồng thời nghiêm túc triển khai các kế hoạch, chỉ thị tới các đơn vị thuộc và trực thuộc Tổng cục.

Tổng cục Hải quan đã hoàn thành việc cung cấp tài liệu kiểm chứng phục vụ chấm điểm chỉ số PAR INDEX năm 2021 của Bộ Tài chính. Bên cạnh đó, tiếp tục rà soát, nghiên cứu, xây dựng phương án phân cấp thẩm quyền giải quyết đối với 05 thủ tục hành chính; tiếp tục rà soát và cập nhật quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh tại Hệ thống thông tin của Văn phòng Chính phủ.

Tổng cục Hải quan cũng tập trung nguồn lực triển khai tái thiết kế tổng thể hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu thực hiện nghiệp vụ hải quan hướng tới Hải quan số và đáp ứng các yêu cầu về an toàn thông tin hệ thống thông qua hình thức thuê dịch vụ công nghệ thông tin thực hiện Hải quan số theo Quyết định số 97/QĐ-BTC của Bộ Tài chính.

Theo đó, khi hệ thống công nghệ thông tin mới của ngành Hải quan được đưa vào vận hành, thủ tục hải quan sẽ được thực hiện hoàn toàn trên môi trường số (phi giấy tờ), mọi lúc, mọi nơi, mọi phương tiện; quản lý tự động các hoạt động nghiệp vụ hải quan trên môi trường số trong toàn bộ quá trình thực hiện thủ tục hải quan cả trước, trong, sau thông quan, đảm bảo quản lý xuyên suốt từ khâu đầu đến khâu cuối đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.

Đáng chú ý, Tổng cục Hải quan đã tăng cường cung cấp dịch vụ công trực tuyến phục vụ người dân và doanh nghiệp. Tính đến nay, Tổng cục Hải quan đã cung cấp 215/237 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 (~ 91% tổng số thủ tục hành chính do cơ quan hải quan thực hiện), trong đó có 209 thủ tục hành chính được cung cấp dịch vụ công trực tuyến ở mức độ 4 (đạt tỷ lệ 88%).

Theo báo cáo mới nhất, tính từ ngày 01/01/2022 đến hết ngày 15/4/2022, số lượng hồ sơ trực tuyến mức độ 4 được tiếp nhận, giải quyết gần 4,3 triệu hồ sơ. Bên cạnh đó, trong quý I/2022, tổng số hồ sơ yêu cầu giải quyết thủ tục hành chính toàn ngành trong kỳ 3.867.726 hồ sơ, trong đó 3.862.612 hồ sơ đã giải quyết đúng hạn và trước hạn (đạt tỷ lệ 99,87%); 5.114 hồ sơ đang giải quyết (chiếm tỷ lệ 0,13%). (Congthuong.vn 9/5, Quỳnh Nga)Về đầu trang

Nỗi bất an mang tên điều kiện kinh doanh

Dù được xác định là trọng tâm cải cách môi trường kinh doanh, nhưng trong không ít văn bản đang được soạn thảo, những quy định về điều kiện kinh doanh vẫn khiến doanh nghiệp cảm thấy không an tâm.

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa có văn bản gửi Cục Tần số vô tuyến điện (Bộ Thông tin và Truyền thông) đề nghị bổ sung rõ quy định về các điều kiện cụ thể trong giấy phép sử dụng tần số vô tuyến điện trong Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện.

 VCCI từng đề nghị tương tự, khi Luật Tần số vô tuyến điện năm 2009 có quy định: giấy phép sử dụng tần số vô tuyến điện (gồm giấy phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện, giấy phép sử dụng băng tần, giấy phép sử dụng tần số và quỹ đạo vệ tinh) sẽ được cấp kèm theo các điều kiện cụ thể, nhưng khi đó, nội dung này được cho là chưa rõ.

 Hiện tại, Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện cũng không quy định rõ các điều kiện này là gì và vì vậy, VCCI thấy cần phải lên tiếng. Theo quan điểm của VCCI, các điều kiện này được hiểu là sự hạn chế quyền sử dụng tần số của doanh nghiệp được cấp, cũng chính là hạn chế quyền tài sản của doanh nghiệp.

 “Theo quy định tại Điều 14.2 của Hiến pháp năm 2013, việc hạn chế quyền chỉ được quy định trong luật, chứ không phải văn bản dưới luật. Do đó, đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung rõ quy định về các điều kiện cụ thể trong giấy phép vào luật này, như quan điểm VCCI đã góp ý đối với đề nghị xây dựng Luật”, VCCI viết trong văn bản gửi Cục Tần số vô tuyến điện đầu tháng 5/2022.

 Nhưng, đó chưa phải là tất cả những lấn cấn mang tên điều kiện kinh doanh. Thực tế, tại khoản 2, Điều 19; khoản 2, Điều 20 và khoản 2, Điều 21 Luật Tần số vô tuyến điện đang có những điều kiện để được cấp giấy phép sử dụng tần số vô tuyến điện, như sử dụng tần số và thiết bị vào mục đích pháp luật không cấm, có thiết bị, giấy phép viễn thông, hoạt động báo chí... tùy theo mục đích sử dụng, có phương án sử dụng khả thi.

Với suy đoán các điều kiện này nhằm loại bỏ một số cá nhân, tổ chức không sử dụng tần số sau khi được cấp giấy phép, gây lãng phí và cản trở các cá nhân, tổ chức khác có thể sử dụng hiệu quả hơn, nên VCCI cho rằng, quy định này phù hợp với trường hợp cấp phép trực tiếp hoặc thông qua thi tuyển, nhưng dường như không phù hợp với trường hợp cấp phép thông qua đấu giá.

Lý do là, trong đấu giá, bên tham gia đã phải trả chi phí rất lớn để có được quyền sử dụng tần số, nếu họ không sử dụng tần số một cách hiệu quả, thì sẽ chịu thua lỗ lớn.

“Do đó, việc quy định thêm các điều kiện trên dường như không còn cần thiết. Nếu bỏ các điều kiện này, có thể sẽ giúp tăng thêm các đơn vị tham gia đấu giá, giúp cuộc đấu giá trở nên cạnh tranh và lành mạnh hơn”, VCCI nhận định.

Biện pháp này cũng tương tự việc cấp quyền sử dụng đất hiện nay. Nếu doanh nghiệp xin đất không qua đấu giá hoặc xin chuyển mục đích sử dụng đất, thì cần phải xin chấp thuận chủ trương đầu tư, mục đích là để Nhà nước bảo đảm rằng, doanh nghiệp đó sẽ sử dụng đất hiệu quả. Nhưng nếu doanh nghiệp mua đất qua đấu giá, thì không cần làm thủ tục xin chủ trương đầu tư.

Cùng thời điểm gửi văn bản trên tới Cục Tần số vô tuyến điện, VCCI còn có văn bản gửi Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM, Bộ Kế hoạch và Đầu tư) góp ý Dự thảo Tờ trình, Nghị quyết và Chương trình Hành động của Chính phủ tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 3/6/2017, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trong văn bản này, VCCI đặc biệt lưu tâm đến nhiệm vụ hoàn thiện cơ chế, chính sách đồng bộ, nhất quán, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân, được ghi trong Chương trình Hành động của Chính phủ, trong đó giao nhiệm vụ cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư rà soát các chính sách pháp luật.

Theo VCCI, việc rà soát, kiến nghị bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật không còn phù hợp, chồng chéo, chưa đầy đủ hoặc có vướng mắc để tháo gỡ điểm nghẽn phát triển kinh tế tư nhân là rất cần thiết. Tuy nhiên, cơ quan đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp này có mối lo lớn từ các văn bản đang trong giai đoạn soạn thảo, dự kiến ban hành, thậm chí là vừa ban hành.

“Vẫn xuất hiện hiện tượng một số quy định dự kiến ban hành hoặc mới ban hành làm gia tăng chi phí một cách bất hợp lý, gây khó khăn cho doanh nghiệp. Vì vậy, cần phải có cơ chế để kiểm soát hiệu quả hơn chất lượng của các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư, kinh doanh đang soạn thảo, đồng thời với hoạt động rà soát, kiến nghị các chính sách hiện hành”, VCCI gửi kiến nghị tới CIEM, cơ quan đang chịu trách nhiệm hoàn tất Chương trình Hành động của Chính phủ tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW.

Cụ thể, VCCI đề nghị, với các quy định về điều kiện kinh doanh, trong quá trình xây dựng văn bản, cần có ý kiến đánh giá về điều kiện kinh doanh của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; các ý kiến thẩm định của văn bản có quy định về điều kiện kinh doanh phải có đánh giá, ý kiến riêng về điều kiện kinh doanh; bổ sung trách nhiệm của các cơ quan có chức năng, nhiệm vụ thẩm định, thẩm tra các văn bản quy phạm pháp luật…

Đây không phải lần đầu VCCI có đề xuất như vậy, nhưng dường như, phiền hà trong các quy định về điều kiện kinh doanh lại nổi lên sau một thời gian được cải thiện đáng kể.

Trong cuộc khảo sát của VCCI với các doanh nghiệp trong khuôn khổ Dự án Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) vừa công bố cuối tháng 4/2022, có tới 47% trong số khoảng 11.000 doanh nghiệp tham gia điều tra cho rằng, các hướng dẫn thủ tục cấp phép kinh doanh có điều kiện không rõ ràng, đầy đủ; cũng bằng đó doanh nghiệp cho rằng, quy trình giải quyết thủ tục không đúng như quy định...

 Chỉ 38,9% doanh nghiệp cho biết, không gặp khó khăn gì khi thực hiện thủ tục hành chính cấp phép kinh doanh ngành nghề kinh doanh có điều kiện và 43,4% doanh nghiệp cho biết, thời gian giải quyết thủ tục không kéo dài hơn so với quy định. Chỉ có 39,1% doanh nghiệp ghi nhận chi phí cấp phép kinh doanh có điều kiện không vượt quá mức phí, lệ phí được quy định trong văn bản pháp luật.

 “Chúng tôi đã đặt câu hỏi với các doanh nghiệp tham gia khảo sát là những trở ngại như trên đã ảnh hưởng thế nào đến kế hoạch kinh doanh. Câu trả lời thực sự đáng lo ngại. Đó là có tới 21,7% doanh nghiệp trả lời phải trì hoãn hoặc hủy bỏ kế hoạch kinh doanh vì những phiền hà về cấp giấy phép kinh doanh có điều kiện”, ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế (VCCI) cho biết.

 Trong báo cáo của CIEM, giai đoạn 2017 - 2021, các bộ, ngành đã tích cực rà soát và kiến nghị Chính phủ ban hành, sửa đổi, bãi bỏ quy định liên quan đến điều kiện kinh doanh không cần thiết, bất hợp lý. Đã có hơn 3.000 trong số khoảng 5.749 điều kiện kinh doanh được cắt bỏ, đơn giản hóa. Số lượng ngành nghề kinh doanh có điều kiện giảm đáng kể, từ 267 ngành trong Luật Đầu tư năm 2014, còn 227 ngành trong Luật Đầu tư năm 2020.

Phần việc này vẫn tiếp tục là một trọng tâm của Chương trình tổng thể Cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 cũng như của Nghị quyết số 02/2022/NQ-CP về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Tuy nhiên, bà Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh (CIEM) cho rằng, những cải cách đã thực hiện trên văn bản cần có đánh giá về hiệu quả thực thi.

 “Ngành nghề kinh doanh có điều kiện tuy thu gọn về số lượng, nhưng chưa thực chất. Nỗ lực cải cách còn hình thức, chưa thực sự bám sát thực tiễn doanh nghiệp. Đó chính là lý do doanh nghiệp luôn cảm thấy bất an mỗi khi có quy định liên quan đến điều kiện kinh doanh cũng như các quy định liên quan đến thủ tục hành chính, thủ tục kiểm tra chuyên ngành”, bà Thảo thừa nhận.

 Chia sẻ với phóng viên Báo Đầu tư, ông Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng CIEM đề xuất: “Cần xác định rõ nguyên tắc các bộ, ngành khi ban hành văn bản pháp luật mới, hay sửa đổi, bổ sung văn bản hiện có không được đặt thêm các rào cản; không được đi ngược lại những cải cách đã làm trong thời gian qua; mà phải thực hiện các giải pháp tạo thêm thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp”. (Baodautu.vn 10/5, Khánh An) Về đầu trang

Chặn giấy phép con… hồi sinh

Bộ Công thương đang xây dựng dự thảo nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 107/2018/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo. Trong đó, dự kiến có quy định về sức chứa tối thiểu của kho chuyên dùng để chứa thóc, gạo và công suất tối thiểu của cơ sở xay, xát, chế biến thóc, gạo.

Theo Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), đề xuất này - vốn là điều kiện kinh doanh đã được bãi bỏ - là một thay đổi rất lớn, đưa ra thông điệp và tín hiệu về sự thay đổi của môi trường kinh doanh Việt Nam và ngành công thương theo hướng không tích cực, cần được cân nhắc vì sẽ khiến nhiều doanh nghiệp bị loại bỏ, tạo rào cản cản trở doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa gia nhập thị trường.

Ví dụ trên chỉ là một trong số nhiều văn bản, dự thảo thông tư, nghị định có điều kiện kinh doanh khắt khe đã từng bị bãi bỏ lại đã/đang có kế hoạch… hồi sinh. Ông Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương, trăn trở, trong khi doanh nghiệp đang bộn bề khó khăn, và nhiều năm, cả nước kiên trì cắt giảm quy định bất hợp lý để doanh nghiệp có môi trường lành mạnh phát triển thì đến nay, nhiều quy định không cần thiết lại xuất hiện. Hiện tượng giấy phép con lại manh nha xuất hiện trong những văn bản dự thảo thông tư, nghị định mà các bộ đang làm gần đây. “Doanh nghiệp chết tức tưởi bởi những cài cắm thế này”, ông Cung nói.

 Tại báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 2021 vừa công bố, VCCI cho biết, chỉ 38,9% DN không gặp khó khăn khi thực hiện thủ tục hành chính cấp phép kinh doanh ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Khó khăn trong cấp giấy phép kinh doanh có điều kiện là nguyên nhân khiến 21,7% số doanh nghiệp phải trì hoãn hoặc hủy bỏ kế hoạch kinh doanh. Bà Nguyễn Minh Thảo, Trưởng Ban Môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh, nhận xét, cải cách điều kiện kinh doanh đã thực hiện trên văn bản, nhưng chưa có đánh giá về hiệu quả thực thi. Ngành nghề kinh doanh có điều kiện tuy thu gọn về số lượng nhưng chưa thực chất.

 Bộ KH-ĐT đang lấy ý kiến với dự thảo tờ trình, nghị quyết và chương trình hành động của Chính phủ tiếp tục thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân với nhiệm vụ là tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách đồng bộ, nhất quán, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân. Trong góp ý mới đây, VCCI cho rằng, việc rà soát, kiến nghị bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật không còn phù hợp, chồng chéo, chưa đầy đủ hoặc có vướng mắc để tháo gỡ điểm nghẽn phát triển kinh tế tư nhân là rất cần thiết. Trong đó, VCCI đề cập thực tế về việc xuất hiện hiện tượng một số quy định dự kiến ban hành hoặc mới ban hành làm gia tăng chi phí một cách bất hợp lý, gây khó khăn cho doanh nghiệp. Do đó, cần phải có cơ chế để kiểm soát hiệu quả hơn chất lượng của các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư kinh doanh đang soạn thảo đồng thời với hoạt động rà soát, kiến nghị các chính sách hiện hành. Chẳng hạn, đối với các quy định về điều kiện kinh doanh, trong quá trình xây dựng văn bản, các cơ quan xây dựng cần có ý kiến đánh giá của Bộ KH-ĐT; bổ sung trách nhiệm của cơ quan có chức năng, nhiệm vụ thẩm định, thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật…

 Như một chuyên gia nhận định, cần thiết phải “tăng nhiệt cải cách”, không để giấy phép con hồi sinh, không để điều kiện kinh doanh được cài cắm. Làm được điều đó sẽ không chỉ cải thiện môi trường kinh doanh, mà còn tăng sức chống chịu của nền kinh tế. (Sggp.org.vn 10/5, Hà My)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Luân chuyển cán bộ: Không “tráng men”, làm đẹp hồ sơ

Quy định 65 của Bộ Chính trị về luân chuyển cán bộ, trong đó yêu cầu thời gian luân chuyển ít nhất là 3 năm được các chuyên gia đánh giá là phù hợp để cán bộ thể hiện năng lực, bản lĩnh, nhất là tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, tránh việc đi chưa “ấm chỗ” đã quay về.

TS. Nguyễn Tiến Dĩnh, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ: Ngăn chặn quan hệ, lợi ích nhóm

Quy định 65 nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chủ trương của Đảng về công tác cán bộ. Việc luân chuyển cán bộ nhằm tạo điều kiện cho cán bộ trong quy hoạch có môi trường để rèn luyện, am hiểu, trải nghiệm thực tiễn, phát triển toàn diện hơn.

Với Quy định 65, chúng ta thúc đẩy thực hiện chủ trương bố trí lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương và người đứng đầu không giữ chức vụ quá hai nhiệm kỳ liên tiếp. Quy định này sẽ đảm bảo sự khách quan hơn, vì cán bộ không phải người địa phương sẽ không bị nhiều ràng buộc. Đồng thời hạn chế tối đa tình trạng như dây dợ, quan hệ, sân sau, lợi ích nhóm… Bên cạnh đó, cán bộ khi ở nơi mới về sẽ hăng hái nhiệt tình, nhanh chóng nắm bắt tình hình, trăn trở của người dân…

Lần này quy trình có 5 bước, các quy định rất rõ ràng về trách nhiệm của các cơ quan. Về thời gian luân chuyển, ít nhất là phải 3 năm, khi trở về cũng không nhất thiết sẽ được bố trí vào chức vụ cao hơn. Điều này sẽ phụ thuộc vào kết quả thực hiện nhiệm vụ, quá trình đóng góp, cống hiến, phát triển và sự khẳng định mình của cán bộ được luân chuyển.

Chính vì thế, điều này sẽ khắc phục được câu chuyện đi luân chuyển chỉ để “tráng men”, hay “chạy” luân chuyển, rồi khi quay trở về để được lên chức cao hơn. Do vậy, theo tôi khâu tổ chức thực hiện là vô cùng quan trọng, phải thực hiện nghiêm túc, thường xuyên kiểm tra giám sát, đánh giá đúng mức với từng cán bộ được luân chuyển; đồng thời đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, đảm bảo khách quan, để việc luân chuyển cán bộ phát huy hiệu quả cao nhất.

 TS Nguyễn Viết Chức, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội: Thời gian đủ dài mới đo lường được năng lực lãnh đạo

 Việc Bộ Chính trị ban hành Quy định số 65 về luân chuyển cán bộ là hết sức hợp lý. Bởi thời gian qua, bên cạnh những mặt tích cực thì công tác luân chuyển cán bộ cũng có những mặt hạn chế. Nhiều trường hợp luân chuyển thời gian quá ngắn, mang tính chất “tráng men”, “đẹp hồ sơ”, chưa kịp phát huy được năng lực sở trường thì đã được điều động, bố trí công tác khác.

Nay, Bộ Chính trị quy định, cán bộ trong diện luân chuyển phải còn thời gian công tác ít nhất 10 năm, thời gian luân chuyển ít nhất 3 năm là hoàn toàn phù hợp. Thời gian có dài thì mới giúp đo lường được năng lực lãnh đạo của cán bộ thuộc diện luân chuyển.

 Hơn nữa, thời gian có dài mới giúp cán bộ thực hiện được những cải cách, những đột phá cho địa phương, chứ đi “tráng men” hơn năm rồi về, chưa “ngồi ấm chỗ” đã quay trở lại.

 Một điểm đáng chú ý nữa là Quy định số 65 nêu rõ: Kết hợp luân chuyển với tăng cường cán bộ cho những nơi khó khăn, khắc phục tình trạng nơi thừa, nơi thiếu, cục bộ, khép kín; góp phần thúc đẩy thực hiện chủ trương bố trí lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương và người đứng đầu không giữ chức vụ quá hai nhiệm kỳ liên tiếp.

Lâu nay, trong công tác cán bộ, dư luận thường phản ánh tình trạng “cả nhà làm quan”, thậm chí “cả họ làm quan”. Nguyên nhân một phần do lãnh đạo là người địa phương nên đôi khi bị văn hóa làng, xã; lợi ích cục bộ ràng buộc, kiểu “một người làm quan cả họ được nhờ”.

Với việc luân chuyển, bố trí cán bộ không phải người địa phương chắc chắn sẽ ngăn chặn, hạn chế được tình trạng “cả nhà làm quan”. Qua đó bảo đảm việc lựa chọn, bố trí cán bộ vào bộ máy một cách công tâm, khách quan, “đúng người, đúng việc”.

 Ông Nguyễn Túc, ủy viên Đoàn Chủ tịch ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam: Cần để cán bộ rèn luyện, cọ xát với thực tiễn

 Luân chuyển cán bộ là một chủ trương đúng đắn của Đảng nhằm rèn luyện đội ngũ cán bộ, giúp họ trưởng thành qua các vị trí. Luân chuyển cũng giúp cán bộ trải nghiệm, rút ra các bài học giữa lý luận và thực tiễn.

Tuy nhiên, trong những nhiệm kỳ trước đây, việc luân chuyển cán bộ nảy sinh một số bất cập, hạn chế như thời gian luân chuyển ngắn, đi để làm cấp phó. Thành thử, có người sau khi được luân chuyển về địa phương, chỉ tìm cách giữ mình, “vo tròn”, không dám nghĩ, dám làm, dám đột phá. Dư luận nói rằng, đi luân chuyển kiểu đó chẳng khác gì “chuồn chuồn đạp nước”, “tráng men” và đếm ngày quay về.

 Trong khi đó, từ thực tiễn và lý luận cho thấy, luân chuyển là dịp để cán bộ rèn luyện, trau dồi kiến thức, cọ xát với thực tiễn để trưởng thành, khẳng định phẩm chất, năng lực và trình độ của người cán bộ trước nhiệm vụ được tổ chức tin tưởng. Muốn rèn luyện để trưởng thành thì thời gian luân chuyển phải dài, ít nhất phải từ 3- 5 năm.

 Trong 3- 5 năm đó, cán bộ luân chuyển có đủ thời gian để lãnh đạo, chỉ đạo trong việc phát triển kinh tế, xã hội địa phương. Nếu trong thời gian đó, anh làm tốt thì sẽ có điểm cộng để xem xét bố trí vào những vị trí cao hơn.

Ngược lại, không thể hiện được năng lực, bản lĩnh thì sẽ bị xem xét, đánh giá khi bố trí cán bộ. Vì thế, việc Bộ Chính trị ban hành Quy định 65 về luân chuyển cán bộ, trong đó yêu cầu thời gian luân chuyển ít nhất 3 năm là hoàn toàn phù hợp, đủ để cán bộ thể hiện năng lực, bản lĩnh của bản thân. (Tienphong.vn 10/5, Luân Dũng - Văn Kiên)Về đầu trang

BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Trên “nóng”, dưới cũng phải “nóng”!

Một trong những nội dung quan trọng được Hội nghị Trung ương 5, Khóa XIII đưa ra thảo luận đó là xem xét Đề án thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Ban Chỉ đạo). Trước tình hình tham nhũng, tiêu cực vẫn diễn biến phức tạp, cử tri và nhân dân cho rằng, việc thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh là cần thiết, bởi phòng, chống tham nhũng trên đã “nóng” rồi, thì dưới cũng phải “nóng”!

 Cử tri và nhân dân đánh giá cao công tác phòng, chống tham nhũng thời gian qua. Chỉ tính trong năm 2021, các cơ quan tố tụng cả nước đã khởi tố, điều tra 3.725 vụ/7.066 bị can về tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế. Đáng nói, đã khởi tố mới nhiều vụ án lớn, mở rộng điều tra, khởi tố thêm nhiều bị can là cán bộ cấp cao, cả đương chức và nghỉ hưu, sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang, trong đó có 10 cán bộ diện Trung ương quản lý - trong nhiệm kỳ XII, có 19 cán bộ diện Trung ương quản lý bị xử lý hình sự.

Gần đây, hàng loạt cá nhân bị khởi tố, bắt giam liên quan đến vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng; đưa hối lộ, nhận hối lộ; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ xảy ra tại Công ty Việt Á, các đơn vị, địa phương liên quan.

Đây là vụ án đặc biệt nghiêm trọng, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, địa phương. Không chỉ lĩnh vực y tế, nhiều cá nhân cũng bị khởi tố để điều tra, xét xử vì vi phạm quy định quản lý đất đai, quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Đáng nói là, có không ít lãnh đạo địa phương đã “dính chàm”.

 Để có được những kết quả này có vai trò rất lớn của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Ban Chỉ đạo), đặc biệt là vai trò của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Trưởng Ban Chỉ đạo. Ban Chỉ đạo đã chỉ đạo thực hiện có hiệu quả, toàn diện tạo được đột phá mới trong công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực, xử lý nghiêm minh, kịp thời nhiều vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực lớn, nghiêm trọng, phức tạp. Điều đó cho thấy, tinh thần phòng, chống tham nhũng ở trên lúc nào cũng “nóng”.

Như chúng ta đã biết, tội phạm tham nhũng là tội phạm ẩn, do đó công tác đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của chúng ta vẫn còn nhiều tồn tại, khó khăn. Dù đã được quan tâm xử lý nhưng thời gian qua vẫn xuất hiện nhiều vụ tham nhũng, tiêu cực rất lớn. Các hành vi tham nhũng hiện nay ngày càng tinh vi hơn. “Vòi bạch tuộc” tham nhũng, tiêu cực không chỉ ở trong một số người, trong một bộ phận nhỏ mà đã xuất hiện sự liên kết, liên thông ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương. Hậu quả của tình trạng này cũng được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Chỉ cần một vụ tham nhũng đã có thể làm tha hóa cả hệ thống với số lượng lớn cán bộ, thậm chí có thể làm cho các ngành, các địa phương bị ảnh hưởng trầm trọng”.

Tham nhũng, tiêu cực xảy ra ở mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Hiện nay chúng ta đã phân cấp mạnh cho địa phương, điều này cũng tạo sự chủ động trong chỉ đạo, điều hành. Tuy nhiên, nếu chỉ cần một chút lơ là, buông lỏng quản lý, giám sát, buông lỏng kiểm soát quyền lực, nơi đó sẽ xuất hiện tham nhũng, tiêu cực. Không ít lãnh đạo địa phương bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự thời gian qua là bài học đau lòng về buông lỏng quản lý. Do đó, việc thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là điều rất cần thiết vào lúc này. Đây có thể được coi là "cánh tay nối dài”của Ban Chỉ đạo ở Trung ương nhằm giải quyết một cách kịp thời những vấn đề còn bức xúc trong dân, những vấn đề tồn đọng, tiêu cực, tham nhũng ở địa phương. Qua đó, hình thành cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Điều quan trọng là cần tổ chức Ban Chỉ đạo ở cấp tỉnh sao cho hiệu quả. Từ kinh nghiệm của Trung ương cho thấy, việc giao cho Bí thư Tỉnh ủy làm Trưởng ban Chỉ đạo để nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Cùng với đó, cần có sự tham gia của cơ quan dân cử, Mặt trận để tăng cường tính giám sát trong thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Ngoài ra, cần có quy định cơ chế chịu trách nhiệm cụ thể của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh trước Ban Chỉ đạo Trung ương, cũng như trách nhiệm trực tiếp của các thành viên Ban Chỉ đạo cấp tỉnh nếu để xảy ra tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực, địa phương mà mình phụ trách.

Việc thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nhằm tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Điều này cũng để bảo đảm công tác phòng, chống tham nhũng tiêu cực "trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt".

Và để phát huy được hiệu quả, thì điều quan trọng là thành viên Ban Chỉ đạo phải là những người có bàn tay “sạch”! (Đại biểu nhân dân 10/5, Lê Hùng)Về đầu trang./.

More

Lượt truy cập: 12.000.376 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này