Bản tin cải cách hành chính ngày 26/7/2019

Font size : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1. Cà Mau đẩy mạnh thực hiện xây dựng chính quyền điện tử

2. Cải cách hành chính tại TPHCM: Xấu hổ vì doanh nghiệp bị hành

3. Bắc Giang: Khai thác ứng dụng Zalo trong giải quyết thủ tục hành chính

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

4. BHXH Việt Nam: Đẩy mạnh cải cách để tiết kiệm thời gian, tiền bạc cho người dân

5. Triển khai các giải pháp nhằm giảm triệt để tình trạng “xin - cho”

6. Chỉ 10% hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tại các bộ, ngành, địa phương có kết nối với nhau

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

7. Loại khỏi bộ máy những cán bộ, công chức tha hóa, biến chất

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

8. Ứng dụng công nghệ thông tin tiếp sức "tinh giản" thủ tục hành chính

TIN THẾ GIỚI

9. Tư nhân hóa và vấn đề tham nhũng gia tăng

         

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Cà Mau đẩy mạnh thực hiện xây dựng chính quyền điện tử

Theo kết quả công bố của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Cà Mau năm 2018 đạt 61,73 điểm (tăng 1,9 điểm so với năm 2017). Trong 3 năm gần đây, PCI của tỉnh Cà Mau đều tăng hạng và điểm số so với cả nước thuộc nhóm trung bình. Tuy nhiên, nếu so với các tỉnh, thành phố khu vực Đồng bằng sông Cửu Long những năm gần đây, vị trí xếp hạng PCI của tỉnh chưa được cải thiện, xếp thứ 13/13 tỉnh, thành phố.

Trước thực tế đó, Cà Mau đang tích cực xây dựng một nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, chuyển dần từ nền hành chính quản lý sang phục vụ nhân dân. Thời gian qua, Cà Mau đã mạnh dạn đổi mới nhằm tạo bước phát triển đột phá trong cung cấp dịch vụ hành chính công, góp phần cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao PCI, chỉ số Cải cách hành chính (PARINDEX)...

Cà Mau đã xây dựng, sớm đặt mục tiêu đưa vào vận hành Trung tâm giải quyết thủ tục hành chính để phục vụ người dân, doanh nghiệp một cách minh bạch, hiệu quả. Với mục tiêu đảm bảo là người dân, doanh nghiệp khi đến giao dịch sẽ được tiếp đón trong môi trường hiện đại, cung cấp thông tin đầy đủ về các thủ tục hành chính; được hướng dẫn, trợ giúp làm quen với hệ thống cổng dịch vụ công trực tuyến. Việc thực hiện thủ tục hành chính được giám sát chặt chẽ theo quy trình một cửa sau khi các hồ sơ được tiếp nhận và quét vào hệ thống.

Ông Thân Đức Hưởng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau cho biết, Trung tâm trực thuộc Văn phòng UBND tỉnh không trực tiếp tham gia vào giải quyết các thủ tục hành chính, tập trung vào giám sát, giải quyết tiếp nhận phản ánh nguyện vọng của người dân, doanh nghiệp và hỗ trợ các cơ quan chuyên môn cập nhật các thủ tục hành chính trên hệ thống khi có những thay đổi về việc ban hành mới các thủ tục hành chính.

Ông Trần Văn Hòa, Giám đốc Trung tâm Giải quyết thủ tục hành chính tỉnh Cà Mau thông tin thêm, chỉ riêng trong năm 2018, đã có trên 300 thủ tục hành chính được cắt giảm từ 20 - 40% thời gian giải quyết; nhiều thủ tục đơn giản được xem xét, giải quyết ngay. Trên cơ sở lấy mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo cho hiệu quả hoạt động, Trung tâm đã chủ động phối hợp với các đơn vị có liên quan thực hiện xử lý, thay thế những công chức, viên chức không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hoặc có thái độ giao tiếp chưa phù hợp.

Bên cạnh đó, tỉnh đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, như: Nghiên cứu triển khai hệ thống một cửa, bổ sung các tính năng cần thiết như cung cấp thông tin, tương tự phiếu theo dõi hồ sơ cho phần mềm quản lý chất lượng ISO 9001, 2012, 2015 để đánh giá theo yêu cầu. Trong quá trình phát triển hệ thống ISO điện tử, ban đầu chỉ cho phép người dân, doanh nghiệp tra cứu tìm hiểu các thủ tục hành chính của các ngành từ cấp tỉnh đến cấp huyện; đồng thời, chỉ có thể nộp một số hồ sơ trực tuyến đơn giản. Đến nay, đã hình thành cổng thông tin trực tuyến một cửa điện tử và quản lý ISO điện tử được tích hợp, chặt chẽ với nhau thành một hệ thống, cho phép cán bộ, công chức hoàn toàn có thể xử lý theo quy trình một cửa.

Kết quả đến nay, việc nộp hồ sơ trực tuyến thông qua cổng dịch vụ công đã khá lớn. Trong 6 tháng đầu năm 2019, trong tổng số 60.141 hồ sơ đã có hơn 12.500 hồ sơ được nộp theo hình thức trực tuyến, chiếm hơn 20%, trong khi con số này so với cùng kỳ năm 2018 rất hạn chế. Đặc biệt, trong tổng số các hồ sơ được nộp trực tuyến thì mức độ 4 chiếm đến 90%, tương đương hơn 11.300 hồ sơ.

Quy trình xử lý một cửa được triển khai trên tất cả các thủ tục hành chính với thời gian, kinh phí hợp lý, thông việc luân chuyển hồ sơ đến các công chức theo quy trình xử lý và ghi nhận các thời điểm hoàn thành, chuyển giao để kiểm soát thời gian xử lý của hệ thống một cửa. “Các thủ tục hành chính của tỉnh được ban hành thì đều kèm theo nội dung, quy định về quy trình xử lý và kể cả quy trình xử lý liên thông”, ông Thân Đức Hưởng cho biết.

Theo ông Thân Đức Hưởng, hệ thống một cửa điện tử và hệ thống cổng dịch vụ công trực tuyến của tỉnh ngày càng hoạt động ổn định, tin cậy hơn. Ngoài ra, các tính năng này đã cho phép sử dụng chữ ký số, quản lý các thành phần hồ sơ của người dân, doanh nghiệp đã nộp để sử dụng lại, thiết lập các thủ tục liên thông theo chiều ngang, liên thông theo chiều dọc từ cấp xã đến cấp tỉnh. Thời gian tới, Cà Mau sẽ nâng cấp các hoạt động, triển khai mạnh mẽ các hoạt động này ở cấp huyện, cấp xã.

Tuy nhiên, các hoạt động này cũng bộc lộ một số hạn chế như: Hệ thống một cửa hiện nay vẫn còn sử dụng những hình thức mẫu đơn chưa thể thay thế bằng mẫu điện tử và kết quả giải quyết thủ tục hành chính chưa được chia sẻ cho các ứng dụng khác, do việc kết nối chia sẻ dữ liệu ứng dụng chuyên ngành.

Theo UBND tỉnh Cà Mau, tỉnh chưa có nhiều ứng dụng chuyên ngành, chưa kết nối chia sẻ với các ứng dụng của các bộ, ngành ở Trung ương. Do đó, tỉnh hy vọng khi thực hiện kiến trúc Chính phủ điện tử 2.0 được ban hành, các bộ, ngành đã hoàn thành hệ thống này sẽ giúp thuận lợi hơn cho địa phương. Một vấn đề khác là phần mềm quản lý hồ sơ công việc liên thông (VIC), hiện nay, mức độ công việc tăng lên rất nhanh, dù đã nâng cấp nhưng hiện đã lạc hậu, hệ thống này có xu hướng quả tải rất nhanh, nên UBND tỉnh đề nghị các bộ, ngành của Trung ương giúp Cà Mau hoàn thiện các khu này. Bên cạnh đó, Cà Mau đề nghị các ngành Trung ương cần có bước phát triển đi trước, bởi có những phần mềm địa phương xây dựng thế nhưng ở Trung ương ban hành sau nên rất khó tương thích, lãng phí.

Sau 3 năm thực hiện đề án Chính quyền điện tử, địa phương đã cơ bản hoàn thành các mục tiêu đề ra, như: hoàn thiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai các thành phần nền tảng, các ứng dụng của chính quyền điện tử đến các ngành, các cấp tại địa phương. Ông Nguyễn Tiến Hải, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau đánh giá, Đề án này tạo môi trường hiện đại, chuyên nghiệp, liên thông, tiết kiệm thời gian, chi phí hoạt động của cơ quan, đơn vị. Đặc biệt là nâng cao hiệu quả công việc, lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả hoạt động của các cơ quan. Đây cũng là bước đệm để địa phương hướng đến nhiều mục tiêu quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, trong đó có thu hút đầu tư, nhằm khơi dậy, thúc đẩy các tiềm năng hiện có tại Cà Mau./. (TTXVN 26/7, Huỳnh Anh) Về đầu trang

Cải cách hành chính tại TPHCM: Xấu hổ vì doanh nghiệp bị hành

Năm 2019 được chọn là “Năm đột phá về cải cách hành chính”. Nhiều biện pháp quyết liệt, các mô hình, cách làm hay được TPHCM triển khai, từng bước cải thiện chất lượng dịch vụ công, đem đến sự hài lòng cho người dân. Song có một thực tế còn đâu đó sự vô cảm, thiếu trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức mà chính Chủ tịch UBND TPHCM cũng bức xúc…

Tại một số cuộc họp với lãnh đạo các sở ban ngành, địa phương vừa qua, Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Thành Phong kể lại câu chuyện hồ sơ của một doanh nghiệp (DN) bị “ngâm” suốt một năm rưỡi vì phải chuyển lòng vòng qua nhiều sở ban ngành, phòng ban khác nhau trước khi trình lên cho ông ký. Ông  Nguyễn Thành Phong thừa nhận: “Tôi không dám ký vì thấy xấu hổ quá”.

Đó là câu chuyện thực tế về một DN nộp hồ sơ xin tham gia chương trình kích cầu DN. Tiêu chuẩn các DN nào được tham gia chương trình này đã được ban hành. Các sở ban ngành chức năng, thậm chí cán bộ tiếp nhận hồ sơ có thể trả lời ngay cho DN. Tuy nhiên, hồ sơ này bị chuyển lòng vòng qua nhiều phòng ban, sở ngành khác nhau, cuối cùng trình lên Chủ tịch UBND TPHCM kèm theo nội dung tham mưu trả lời DN là… không được.

“Đến bây giờ các sở ban ngành TPHCM vẫn chưa giải quyết được thủ tục, chưa trình UBND thành phố chấp thuận đầu tư cho DN với lý do họ… thắc mắc đất giao cho doanh nghiệp vào năm 2005 có vướng vào đất công hay không. Những khó khăn, nhiêu khê về thủ tục hành chính để triển khai dự án khiến cho DN rất khổ sở trong việc duy trì hoạt động. Nhiều lúc bế tắc quá, tôi đã nghĩ đến việc tự tử…”.

Ông Nguyễn Thành Phong bức xúc: “Việc được hay không được, tham gia chương trình có tiêu chuẩn hết. Nếu không đảm bảo thì trả lời ngay là không được, chứ đằng này xem qua xem lại mất một năm rưỡi. Tôi không dám ký vì tôi xấu hổ quá. Tôi kể chuyện đó để các đồng chí rút kinh nghiệm, suy nghĩ về trách nhiệm”.

Trao đổi với Tiền Phong chiều 25/7, đại diện một DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) phàn nàn DN này muốn mở một cửa hàng nhỏ nhưng mất nửa năm mới xong thủ tục. Nhiều thủ tục bị kéo dài vì những lý do “trời ơi” và thời gian càng kéo dài thì DN  càng có thể mất cơ hội đầu tư. “Sở Kế hoạch và Đầu tư gửi văn bản hỏi ý kiến các bộ ngành, trong khi lại chưa có quy định về thời hạn trả lời. Và khi các Bộ trả lời nội dung rõ ràng là chấp thuận nhưng không có chữ “chấp thuận” thì Sở KHĐT cũng không cấp”, ông cho biết.

Đối thoại với lãnh đạo TPHCM, nhiều doanh nghiệp bất động sản (BĐS) than phiền thủ tục hành chính dẫn đến tình trạng ách tắc nhiều dự án trên địa bàn. Bà Nguyễn Thị Như Loan, Tổng Giám đốc công ty Quốc Cường Gia Lai cho biết công ty đang có 12 dự án bị ách tắc với tổng quỹ đất hơn 150 ha, trong đó bức xúc nhất là một dự án đất ở có diện tích 3.000 m2 không thuộc diện rà soát của chính quyền TPHCM.

“Đến bây giờ các sở ban ngành TPHCM vẫn chưa giải quyết được thủ tục, chưa trình UBND thành phố chấp thuận đầu tư cho DN với lý do họ… thắc mắc đất giao cho doanh nghiệp vào năm 2005 có vướng vào đất công hay không. Những khó khăn, nhiêu khê về thủ tục hành chính để triển khai dự án khiến cho DN rất khổ sở trong việc duy trì hoạt động. Nhiều lúc bế tắc quá, tôi đã nghĩ đến việc tự tử…”, bà Loan cho hay.

Được ủy quyền sở hữu căn nhà số 15/1 Lê Quý Đôn (quận Thủ Đức), mới đây, bà Nguyễn Kim Vân (phường Bình Thọ, quận Thủ Đức) làm hồ sơ xin giấy phép sửa chữa nhà và nâng nền hẻm xi măng (gia đình bà Vân sử dụng riêng) để chống ngập. Sau hơn 30 ngày nộp đơn, hồ sơ của bà Vân vẫn trong diện “đang xem xét”.

Nhiều lần gửi đơn khiếu nại lên UBND quận Thủ Đức, Phòng Quản lý đô thị, Thanh tra xây dựng… hồ sơ xin phép sửa chữa nhà của bà Vân vẫn không được giải quyết.

Tại Quận 4, nhiều năm qua bà Phan Thị Thanh Nga, chủ sở hữu căn hộ số 44 lô V cư xá Vĩnh Hội gõ cửa khắp nơi để xin mua diện tích sàn nước khoảng 8 m2 nằm bên trong căn hộ của mình. Bà Nga dọn về chung cư Vĩnh Hội từ cuối năm 1965. Đến năm 1997, gia đình bà được giải quyết mua hóa giá căn hộ với giá gần 27 triệu đồng. Trong suốt thời gian thuê nhà (1965 - 1997), cơ quan chức năng tính diện tích sàn nước vào tổng diện tích cho thuê. Tuy nhiên, đến lúc mua hóa giá, gia đình  bà không được giải quyết mua như nhiều hộ khác ở chung cư. Công ty TNHH MTV dịch vụ công ích Quận 4 (đơn vị được giao bán nhà) trả lời chỉ bán nhà chứ không bán sàn nước.

Điều khiến bà Nga bức xúc là sự chậm trễ, đùn đẩy trách nhiệm của các cơ quan chức năng. Trong suốt thời gian qua, bà Nga đã cung cấp gần 20 loại giấy tờ, hồ sơ liên quan. Bà cũng nhiều lần đến UBND phường 8, Công ty TNHH MTV dịch vụ công ích quận 4, Phòng Quản lý đô thị quận, UBND quận, Sở Xây dựng,… nhưng vẫn chưa có câu trả lời cụ thể và thuyết phục…

Vừa qua, trao đổi với phóng viên Tiền Phong, Bí thư Quận ủy quận Thủ Đức Nguyễn Mạnh Cường cho biết đã nghe gia đình bà Nguyễn Kim Vân phản ánh và đang chỉ đạo các cơ quan đơn vị liên quan kiểm tra làm rõ và xử nghiêm vi phạm (nếu có).

Còn ông Trần Hoàng Quân, Chủ tịch UBND quận 4 cho hay tại chung cư Vĩnh Hội có 2 trường hợp xin mua sàn nước trong nhà. Khi UBND phường lấy ý kiến thì nhiều hộ dân ở chung cư không đồng ý bán cho hai hộ này nên sự việc kéo dài. Việc bán cho hộ này không bán cho hộ kia là do quy định mỗi thời kỳ khác nhau. Hiện nay, thẩm quyền bán hay không thuộc Sở Xây dựng.

Theo Chủ tịch Nguyễn Thành Phong, tồn đọng hồ sơ trong 6 tháng đầu năm còn cao với khoảng 31.942 hồ sơ, trong đó, hồ sơ trễ hẹn chủ yếu là đất đai, xây dựng. Ở lĩnh vực đất đai còn nhiều hồ sơ chậm xử lý, hoặc giải quyết rất lâu làm cho người dân không hài lòng và bức xúc. Hiện nay, tỷ lệ người dân không hài lòng ở lĩnh vực này đang ở mức cao.

Lý giải về thủ tục hành chính liên quan đến đất đai, xây dựng bị người dân than phiền nhiều, ông Nguyễn Toàn Thắng, Giám đốc Sở Tài nguyên- Môi trường TPHCM thừa nhận: Thủ tục nhà đất đã đơn giản rất nhiều nhưng vẫn còn vài khâu còn gây khó khăn cho người dân và DN. Điều này làm gia tăng tỷ lệ hồ sơ trễ hẹn là 10%. Phần lớn hồ sơ giải quyết trễ hẹn thuộc trường hợp hồ sơ ký mới giấy chứng nhận phải chuyển về Văn phòng đăng ký đất đai TPHCM, chiếm khoảng trên 60% với khoảng 20.000 hồ sơ. (Tiền Phong 26/7, Huy Thịnh) Về đầu trang

Bắc Giang: Khai thác ứng dụng Zalo trong giải quyết thủ tục hành chính

Chiều ngày 25/7, Sở Thông tin và Truyền thông Bắc Giang phối hợp với công ty VNG tổ chức lễ ký kết khai thác ứng dụng Zalo trong giải quyết thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Dự lễ ký kết có đồng chí Lại Thanh Sơn - Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh; đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành tỉnh.

Theo thỏa thuận, tỉnh Bắc Giang được phép sử dụng, khai thác, ứng dụng Zalo trong công tác giải quyết các thủ tục hành chính và công tác cải cách hành chính trên địa bàn toàn tỉnh.

Cụ thể, các thủ tục khai thác trên Zalo trong công tác cải cách hành chính, gồm: tra cứu trạng thái xử lý hồ sơ; tự động gửi tin nhắn đối với tổ chức, công dân về kết quả giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính; trao đổi, hỏi đáp, phản ánh, kiến nghị về thủ tục hành chính.

Để khai thác các tính năng trên, công dân, tổ chức cần cài đặt phần mềm Zalo trên máy tính hoặc điện thoại thông minh có kết nối internet; sau đó truy cập vào địa chỉ: “phục vụ hành chính công tỉnh Bắc Giang” và thao tác dễ dàng trên giao diện.

Muốn biết tình trạng hồ sơ của mình, tổ chức, công dân mở giao diện nói trên của Zalo, vào ô “Tìm kiếm” => chọn mục “Hỗ trợ” => chọn “Quét mã QR”  => di chuyển đến mã QR phía góc trên, bên phải của Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả là sẽ nhận được thông tin về tình trạng hồ sơ của mình và dễ dàng khai thác các ứng dụng khác một cách nhanh chóng, thuận tiện.

Việc khai thác ứng dụng của Zalo nói trên góp phần nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công trực tuyến, phục vụ người dân, doanh nghiệp, nhằm giảm thời gian, chi phí đi lại, tạo sự thuận lợi, dễ dàng trong thực hiện thủ tục hành chính.

Sau lễ ký kết, Sở Thông tin và Truyền thông sẽ chuyển giao lại công nghệ, tính năng trên cho Trung tâm Phục vụ hành chính công, Văn phòng UBND tỉnh khai thác, vận hành. (Bacgiang.gov.vn 25/7, Nguyễn An) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

BHXH Việt Nam: Đẩy mạnh cải cách để tiết kiệm thời gian, tiền bạc cho người dân

Theo Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam, nếu không cải cách hành chính, thay đổi phương thức từ thủ công sang hiện đại, thì không thể hoàn thành khối lượng công việc rất lớn hiện nay.

“Khi thực hiện cải cách thủ tục hành chính (TTHC) và ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT), những kết quả mang lại hết sức to lớn, không những giải tỏa được áp lực cho đội ngũ cán bộ, viên chức, mà còn mang lại sự thoải mái, tiết kiệm thời gian, tiền bạc cho người dân và doanh nghiệp”, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Nguyễn Thị Minh từng nói rằng, “nếu không cải cách thì chết”.

Hiện BHXH Việt Nam đang quản lý 14,4 triệu người tham gia BHXH bắt buộc, 363.000 người tham gia BHXH tự nguyện; 12,87 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp (BHTN); 84,48 triệu người tham gia bảo hiểm y tế (BHYT), đạt tỷ lệ bao phủ 89% dân số.

Cùng với đó, mỗi năm ngành BHXH phải giám định trên 170 triệu lượt hồ sơ thanh toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT; phải rà soát đến từng viên thuốc, từng dịch vụ.

Trong khi, số lượng cán bộ, viên chức không tăng tương ứng. Thậm chí, theo đề án "Đổi mới, sắp xếp bộ máy của BHXH Việt Nam theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả" vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, từ nay đến năm 2021, ngành BHXH sẽ giảm tối thiếu 10% biên chế (khoảng 2.000 người) so với tổng biên chế được giao của năm 2015.

Vì vậy, đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng CNTT được xác định là giải pháp quan trọng để ngành BHXH hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Nhìn lại thời gian qua, nhất là 5 năm gần đây, toàn ngành BHXH đã tập trung rà soát, đơn giản hóa TTHC và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác quản lý và các hoạt động nghiệp vụ; thực hiện các phương thức giao dịch mới, hiện đại.

Trong 5 năm, số lượng TTHC mà ngành BHXH quản lý đã giảm trên 75%. Mới đây, BHXH Việt Nam vừa ban hành quyết định công bố thay thế, bãi bỏ 19 TTHC thuộc lĩnh vực giải quyết hưởng các chế độ BHXH bắt buộc, BHTN.

Thời hạn cấp sổ BHXH từ 20 ngày và thẻ BHYT từ 7 ngày đều được rút ngắn xuống còn 5 ngày (riêng với người hưởng trợ cấp thất nghiệp không quá 2 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định), cấp lại thẻ BHYT không thay đổi thông tin được thực hiện trong ngày.

Số giờ thực hiện TTHC giảm mạnh từ 335 giờ xuống còn hơn 50 giờ và đang hướng đến giảm xuống còn 49 giờ. Việc quản lý, sử dụng, quyết toán tài chính công đảm bảo đúng quy định, công khai, minh bạch và hiệu quả…

Kết quả thực hiện cải cách TTHC của ngành BHXH đã được cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức, chuyên gia trong nước và quốc tế đánh giá cao. Năm 2017, BHXH Việt Nam xếp thứ 2/20 về chỉ số sẵn sàng ứng dụng CNTT, tăng 18 bậc so với năm 2016.

Tại Báo cáo “môi trường kinh doanh 2018” của Ngân hàng Thế giới, lần đầu tiên chỉ số về nộp thuế và BHXH tại Việt Nam nằm trong nhóm ASEAN+4, tăng 81 bậc so với năm 2017 và đạt vị trí thứ 86/190 trên thế giới (năm 2017 xếp ở vị trí 167).

Để phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn, BHXH đã yêu cầu các đơn vị trực thuộc và BHXH các tỉnh, TP, trong năm 2019, phải thường xuyên tiến hành rà soát, đơn giản hoá và cắt giảm TTHC trong các lĩnh vực của ngành.

Ngành BHXH tiếp tục tăng cường đẩy mạnh việc cắt giảm thành phần, số lượng giấy tờ, hồ sơ, giảm số giờ giao dịch BHXH của các đơn vị, doanh nghiệp, đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu Chính phủ giao; tiếp tục kiểm soát chặt chẽ việc ban hành mới các quy định về TTHC, không gây khó khăn cho các tổ chức, cá nhân.

Công tác tiếp nhận và trả kết quả giải quyết TTHC tiếp tục được duy trì, thực hiện hiệu quả thông qua bộ phận “một cửa” của cơ quan BHXH; tiếp nhận, kịp thời xử lý phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân về quy định hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của BHXH, đảm bảo việc thực hiện các quy định hành chính được công khai, minh bạch, đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền.

Đặc biệt, trên nền tảng ứng dụng CNTT những năm qua, khẩn trương xây dựng hệ sinh thái chuyển số của BHXH (dịch vụ tin nhắn (SMS), dịch vụ thanh toán trực tuyến, ứng dụng BHXH trên thiết bị di động, hệ thống Chatbot hỗ trợ khách hàng, cung cấp tất cả các dịch vụ công có thể lên đến cấp độ 4, nghiên cứu ứng dụng Bigdata, IA để khai phá các dữ liệu hiện có), phấn đầu đến năm 2020, hoàn thành việc xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu điện tử về quản lý BHXH liên thông, hiện đại.

BHXH Việt Nam cũng yêu cầu, tổ chức thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đổi mới, sắp xếp bộ máy ngành BHXH theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”.

Cùng với đó, thực hiện cải cách TTHC mạnh mẽ trong các công tác chi trả BHXH; tăng cường kiểm tra thực hiện cải cách TTHC, nhất là kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ của công chức, viên chức trong ngành để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; động viên, khen thưởng kịp thời những đơn vị, cá nhân thực hiện tốt và kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm… (Thanh Tra 26/7, Trần Kiên) Về đầu trang

Triển khai các giải pháp nhằm giảm triệt để tình trạng “xin - cho”

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thời gian qua thành phố Hà Nội đã quan tâm chỉ đạo, ban hành quy định để xóa bỏ cơ chế “xin - cho”, được người dân đánh giá cao và làm cơ sở thôi thúc các cấp, ngành tiếp tục triển khai thực hiện mạnh mẽ hơn nữa.

Chị Đinh Thị Quỳnh, nhân viên một văn phòng công chứng trên phố Thái Hà (quận Đống Đa) chia sẻ: Nếu như trước đây, nhiều người dân vẫn ngại khi phải đi làm các thủ tục hành chính ở cơ quan nhà nhưng thì bây giờ việc đó đã thuận lợi hơn rất nhiều. Khi đi ra phường, cán bộ hướng dẫn tận tình, việc thực hiện cũng nhanh, tiện hơn, thậm chí có thể tranh thủ làm ngoài giờ hành chính.

Bạn Nguyễn Tuyết Mai, cán bộ đoàn thanh niên phường Đống Mác (quận Hai Bà Trưng), nhiều lần trực tiếp làm và hướng dẫn người thân làm thủ tục hành chính ở bộ phận một cửa của phường nhận xét: “Các thủ tục hành chính và quy trình thực hiện đều được niêm yết công khai, cán bộ hướng dẫn tận tình. Tôi đã được phục vụ thật sự chứ không phải lo lắng kiểu làm việc “xin - cho” như trước”.

Đó chỉ là hai trong nhiều nhận xét tích cực từ kết quả của nỗ lực xây dựng nền hành chính phục vụ, xóa bỏ “xin - cho” được Thành ủy Hà Nội chỉ đạo thực hiện trong cả hệ thống chính trị thành phố thời gian qua.

Để có được sự hài lòng của người dân, các đơn vị thuộc thành phố Hà Nội đã tập trung vào công tác cải cách hành chính, trong đó, chú trọng cả vào những việc cụ thể như xem xét, đánh giá và trang bị thiết bị cũng như bố trí người phục vụ ở bộ phận một cửa. Điển bình là huyện Mê Linh, theo ông Hoàng Anh Tuấn, Phó Chủ tịch UBND huyện, ngay từ đầu nhiệm kỳ 2015-2020, huyện đã ban hành kế hoạch tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cải cách hành chính. Nơi nào không thực hiện tốt thể hiện ở ngay kết quả thi đua…

Tương tự, Cục Thuế Hà Nội cũng xác định đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian cho người nộp thuế có ý nghĩa quyết định kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Hiện nay, tỷ lệ doanh nghiệp đang hoạt động thực hiện kê khai thuế qua mạng đạt xấp xỉ 100% và cũng gần 100% số tiền thuế được nộp theo phương thức điện tử.

Cơ chế “xin - cho” là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới những biểu hiện suy thoái đạo đức trong đội ngũ cán bộ, mà thường thấy nhất là núp bóng thủ tục hành chính để sách nhiễu, thậm chí vòi vĩnh người dân, doanh nghiệp. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Hà Nội đã tập trung giải quyết vấn đề này theo hướng công khai, minh bạch, giảm tiếp xúc giữa người dân, doanh nghiệp và các cơ quan công quyền thông qua đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách hành chính.

Không chỉ tập trung cải cách hành chính, hằng năm, Thành phố đều công khai, minh bạch trong các chính sách, quy trình, thủ tục giải quyết công việc, việc quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản công, phân bổ dự toán, phân cấp nguồn thu, quy hoạch sử dụng đất đai, thông tin đấu giá quyền sử dụng đất, các dự án thu hồi đất do vi phạm các quy định của pháp luật… Chính điều đó sẽ giảm thiểu sự “xin - cho”.

Nhiều cơ quan, đơn vị đang tăng cường thực hiện các giải pháp công khai, minh bạch gắn với nâng cao chất lượng phục vụ nhằm xóa bỏ “xin - cho”. Trong khi đó, nhiều quận, huyện đã ban hành kế hoạch tuyên truyền về cải cách hành chính, đồng thời hướng dẫn người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến từ nhà. Các địa phương như thị xã Sơn Tây, quận Long Biên, huyện Đông Anh, Hoài Đức đều tăng cường thanh tra công vụ gắn với kiểm tra việc tổ chức thực hiện dịch vụ công trực tuyến trong những tháng cuối năm.

Nhờ sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị từ Thành phố đến cơ sở mà Chỉ số cải cách hành chính của Hà Nội đã đạt kết quả cao, hiện xếp thứ 2/63 tỉnh, thành phố. Hệ thống phần mềm “một cửa” điện tử dùng chung 3 cấp liên thông từ Thành phố, các sở, ngành đến các phường, xã, thị trấn hoạt động cơ bản ổn định. Tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 đã đạt mục tiêu 55% trong năm 2018 và đang phấn đấu đạt 80% trong năm nay.

Trong những nhiệm vụ năm 2019, Thành phố xác định sẽ đặc biệt coi trọng việc tăng cường công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước và trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức, viên chức. Thành phố cũng đang chỉ đạo nghiên cứu xây dựng đề án đẩy mạnh việc phát hiện xử lý những lĩnh vực có nhiều nguy cơ xảy ra tham nhũng, nhũng nhiễu trên địa bàn, giảm triệt để tình trạng “xin - cho”. Điều này cũng đòi hỏi trách nhiệm vào cuộc của các cấp, ngành và mỗi cán bộ, đảng viên. (Lao Động Thủ Đô 25/7, Nguyễn Công) Về đầu trang

Chỉ 10% hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tại các bộ, ngành, địa phương có kết nối với nhau

Theo Văn phòng Chính phủ, khảo sát của cơ quan này năm 2018 cho thấy, trong khoảng 700 hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tại các bộ, ngành, địa phương, chỉ có khoảng 70 hệ thống được kết nối với nhau, chiếm tỷ lệ 10%.

Việc xây dựng Đề án “Giải pháp tích hợp, chia sẻ và tái cấu trúc hạ tầng CNTT tại các bộ, ngành, địa phương” nhằm tăng cường khả năng kết nối, tích hợp, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan hành chính nhà nước, tạo ra chuyển biến tích cực trong phục vụ người dân, doanh nghiệp 

Kết quả khảo sát của Văn phòng Chính phủ năm 2018 cũng chỉ ra rằng, ngay với 70 hệ thống thông tin (HTTT), cơ sở dữ liệu (CSDL) tại các bộ, ngành, địa phương đã được kết nối với nhau, hầu hết chỉ kết nối trong ngành, lĩnh vực hoặc nội bộ của bộ, ngành, địa phương và chủ yếu là kết nối trực tiếp, chưa có các kết nối, chia sẻ liên bộ, ngành, địa phương.

Văn phòng Chính phủ cũng cho biết, theo đánh giá của các bộ, ngành, địa phương, nguyên nhân chủ yếu của tình trạng nêu trên là do: thiếu hành lang pháp lý thúc đẩy việc kết nối, chia sẻ dữ liệu (31/66 đơn vị, chiếm tỷ lệ 46,9%); thiếu dữ liệu (27/66 đơn vị, chiếm tỷ lệ 40,9%); thiếu nền tảng kết nối, chia sẻ (49/66 đơn vị, chiếm tỷ lệ 74,3%); dữ liệu chưa được chuẩn hóa (47/66 đơn vị, chiếm tỷ lệ 71,2%); và thiếu chuẩn kết nối, chia sẻ (28/66 đơn vị, chiếm tỷ lệ 57,5%).

Thông tin cụ thể hơn về hiện trạng triển khai các CSDL quốc gia, theo Văn phòng Chính phủ, đến nay, có hơn 40 CSDL quốc gia được giao cho các bộ, ngành triển khai; trong đó, có nhiều CSDL quốc gia đã được hình thành và đưa vào vận hành, khai thác sử dụng.

Riêng với các CSDL quốc gia cần ưu tiên triển khai tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử, bên cạnh CSDL quốc gia về Đăng ký doanh nghiệp đã được triển khai từ năm 2010 và hiện đã cập nhật dữ liệu của hơn 1 triệu doanh nghiệp trong cả nước, các CSDL quốc gia nền tảng còn lại như Dân cư, Đất đai, Tài chính, Bảo hiểm... vẫn đang trong giai đoạn triển khai, chưa hoàn thành.

Bên cạnh đó, các bộ, ngành đã và đang xây dựng các quy định về quản lý, khai thác, sử dụng, kết nối của các CSDL quốc gia nhằm tạo hành pháp lý cho việc triển khai các CSDL này.

Tuy nhiên, Văn phòng Chính phủ cũng chỉ rõ, quá trình triển khai các CSDL quốc gia ưu tiên, tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử còn gặp một số khó khăn, vướng mắc như: thiếu các quy định pháp lý về thu thập, cập nhật, duy trì, kết nối, chia sẻ và khai thác, sử dụng dữ liệu; về giá trị pháp lý của dữ liệu và vai trò của CSDL quốc gia trong chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, của các bộ, ngành, địa phương và trong phục vụ các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan; thiếu các quy định kỹ thuật phục vụ kết nối, khai thác thông tin từ các CSDL quốc gia, quy định về chuẩn hóa các HTTT, CSDL …

Đối với việc triển khai các HTTT, CSDL có quy mô và phạm vi từ Trung ương đến địa phương, theo số liệu tổng hợp của Bộ TT&TT, hiện có 103 HTTT, CSDL có quy mô, phạm vi triển khai từ Trung ương đến địa phương đã, đang và sẽ triển khai. Hầu hết các HTTT, CSDL đều triển khai theo hình thức tập trung, sử dụng các ứng dụng dùng chung cho các đơn vị trực thuộc, một số đơn vị sử dụng phương án phân tán, kết nối tập trung theo hướng trục kết nối nội bộ của bộ, ngành, địa phương hoặc kết nối qua các dịch vụ Web, chẳng hạn như: liên thông dữ liệu khám chữa bệnh bảo hiểm y tế của Bảo hiểm xã hội Việt Nam với hơn 12.000 cơ sở khám chữa bệnh trong cả nước, liên thông dữ liệu ngành tài chính…

Bên cạnh các hệ thống đang được vận hành tốt và ổn định vẫn còn nhiều hệ thống chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ cũng như khả năng kết nối, chia sẻ; các ứng dụng đã và đang triển khai kết nối, liên thông, tuy nhiên chỉ trong phạm vi ngành, lĩnh vực quản lý.

Văn phòng Chính phủ nhận định, mặc dù ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan nhà nước đã được triển khai rộng rãi, tuy nhiên việc xây dựng và phát triển các HTTT, CSDL tại các bộ, ngành, địa phương còn mang tính chất đóng, triển khai riêng lẻ, thiếu tính kết nối, dẫn đến tình trạng khó chia sẻ, tích hợp dữ liệu.

Được biết, với hiện trạng trên, để tăng cường khả năng kết nối, tích hợp, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan hành chính nhà nước nhằm tạo ra chuyển biến tích cực trong việc phục vụ người dân, doanh nghiệp cũng như đảm bảo hạ tầng CNTT của bộ, ngành, địa phương, đáp ứng các mục tiêu, yêu cầu trong xây dựng Chính phủ điện tử, hiện nay Văn phòng Chính phủ đang phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng Đề án “Giải pháp tích hợp, chia sẻ và tái cấu trúc hạ tầng CNTT tại các bộ, ngành, địa phương”.

Văn phòng Chính phủ nhấn mạnh: “Với hiện trạng ứng dụng CNTT, thực trạng kết nối, chia sẻ dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật CNTT hiện nay, yêu cầu cấp bách thời gian tới là phải đưa ra các giải pháp cũng như các nhiệm vụ cụ thể để khắc phục tình trạng cát cứ thông tin, thúc đẩy khả năng tích hợp, kết nối, chia sẻ dữ liệu số giữa các cơ quan hành chính nhà nước, tạo ra các công cụ và ứng dụng phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, của các bộ, ngành, địa phương.

Đồng thời, từng bước tạo ra nền tảng hạ tầng kỹ thuật bảo đảm cho việc triển khai Chính phủ điện tử nói chung và việc triển khai các dự án mang tính chất nền tảng quan trọng quyết định sự thành công của quá trình phát triển Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số trong thời gian tới”. (Infonet.vn 26/7, M.T) Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Loại khỏi bộ máy những cán bộ, công chức tha hóa, biến chất

Ngày 25-7, tại Trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình chủ trì hội nghị trực tuyến toàn quốc sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2019 và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm của Ban Chỉ đạo phòng chống tội phạm của Chính phủ (BCĐ 138/CP) và Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (BCĐ 389 quốc gia).

Tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Công an Lê Quý Vương cho biết trong 6 tháng qua, hiệu quả phòng ngừa xã hội, phòng ngừa nghiệp vụ còn rất hạn chế, các giải pháp kéo giảm tội phạm hình sự chưa hiệu quả, chưa huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tội phạm. Trong 6 tháng qua, Bộ Công an đã điều tra, khám phá 21.071 vụ phạm pháp hình sự, bắt 45.570 đối tượng (đạt tỷ lệ 82,25%), án nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng đạt 95,16%; triệt phá 1.392 băng nhóm tội phạm các loại. Cùng với đó phát hiện, đấu tranh 9.948 vụ phạm tội về kinh tế, 168 vụ tội phạm về tham nhũng, 1.139 vụ buôn lậu, 2.733 vụ sản xuất, vận chuyển hàng cấm (không tính các vụ tội phạm về ma túy).

Theo BCĐ 389 quốc gia, hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trên các tuyến, địa bàn cả nước tiếp tục diễn biến phức tạp. Các đối tượng hoạt động ngày càng tinh vi, có tổ chức và manh động. Đặc biệt, nổi lên tình trạng vận chuyển ma túy, buôn bán hàng hóa sản xuất từ bên ngoài, hàng giả, hàng nhái, giả mạo xuất xứ, nhãn mác “made in Vietnam” để gian lận thương mại, gây thất thu ngân sách, ảnh hưởng đến uy tín doanh nghiệp Việt Nam và gây thiệt hại cho người tiêu dùng. Trong 6 tháng qua, đã phát hiện và xử lý 10.517 vụ việc vi phạm, thu nộp ngân sách Nhà nước hơn 1.007 tỷ đồng, khởi tố 20 vụ. Tổ chức thanh tra, kiểm tra 29.283 doanh nghiệp, thu nộp ngân sách Nhà nước hơn 4.819 tỷ đồng…

Tại hội nghị, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình ghi nhận kết quả giảm 0,99% số vụ phạm pháp hình sự so với cùng kỳ 2018, tỷ lệ điều tra và khám phá tội phạm đạt ở mức cao, vượt các chỉ tiêu Quốc hội đề ra. Công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả cũng đạt nhiều kết quả. Những kết quả trên góp phần kéo giảm tội phạm, tạo môi trường xã hội lành mạnh, cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho nhân dân, phục vụ tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Tuy nhiên, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình cũng chỉ ra, việc ngăn chặn ma túy qua biên giới còn nhiều bất cập; tội phạm liên quan đến “tín dụng đen” vẫn phức tạp, tình trạng phá rừng, khai thác cát sỏi trái phép vẫn diễn ra ở nhiều địa phương… Đặc biệt, một số loại tội phạm gia tăng như giết người, cố ý gây thương tích, chống người thi hành công vụ, dâm ô trẻ em. Tỷ lệ điều tra, khám phá án ở một số địa phương rất thấp, không đạt chỉ tiêu Quốc hội giao. Công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả tuy đã được tập trung chỉ đạo nhưng vẫn chưa tạo được chuyển biến căn bản, tình trạng hàng giả, hàng có nguồn gốc nhập lậu, hàng không rõ nguồn gốc, xuất xứ vẫn bày bán công khai ở nhiều nơi. Tình trạng trốn thuế nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp qua khai báo gian dối về giá, chuyển giá vẫn diễn biến phức tạp…

Theo Phó Thủ tướng, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền một số địa phương chưa quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo. Một số cán bộ, công chức thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm quy chế, quy trình công tác, có biểu hiện bao che, thậm chí có trường hợp “bảo kê”, vi phạm pháp luật, tham nhũng khi thi hành công vụ…

Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình yêu cầu các cấp, các ngành, địa phương phải xác định các lĩnh vực công tác này là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu. Nếu trên địa bàn, lĩnh vực nào để xảy ra các vụ việc nghiêm trọng, phức tạp, kéo dài về tội phạm, buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả hoặc có cán bộ, công chức dưới quyền tiêu cực, tham nhũng thì phải tổ chức kiểm điểm nghiêm túc trách nhiệm người đứng đầu, xem xét điều chuyển, bố trí công tác khác. Cùng với đó, tăng cường thanh tra, kiểm tra công vụ, kiên quyết ngăn chặn tình trạng “tham nhũng vặt” ở các cơ quan hành chính, không để người dân bức xúc, giảm niềm tin vào đội ngũ cán bộ, công chức. Tổ chức phòng, chống tội phạm, buôn lậu, gian lận thương mại ngay trong chính lực lượng chức năng (công an, hải quan, quản lý thị trường, cảnh sát biển, biên phòng, thuế). Kiên quyết xử lý các vi phạm, loại ra khỏi bộ máy những cán bộ, công chức tha hóa, biến chất, tiếp tay cho tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật. Đối với tội phạm có tổ chức, mua bán người, ma túy, “tín dụng đen”, khai thác trái phép tài nguyên, cát sỏi, buôn lậu… cần tổ chức điều tra triệt phá tận gốc, xử lý nghiêm đối tượng cầm đầu.

Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình chỉ đạo Bộ Công thương khẩn trương rà soát, sửa đổi, bổ sung và đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định về xuất xứ hàng hóa, nơi sản xuất hàng hóa, tỷ lệ để được gọi là hàng hóa Việt Nam, bảo đảm chặt chẽ, đúng quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế, không để bị lợi dụng, để lừa dối khách hàng, xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài để hưởng ưu đãi về thuế áp dụng cho hàng hóa Việt Nam. Bộ Quốc phòng chỉ đạo Bộ đội Biên phòng tăng cường tuần tra, kiểm soát biên giới, ngăn chặn tình trạng xuất cảnh trái phép hoạt động mua bán người, vận chuyển trái phép chất ma túy. Nếu địa bàn nào hàng hóa thẩm lậu xảy ra nhiều lần thì phải điều chuyển ngay người đứng đầu (đồn trưởng), nếu đủ kết luận có tiêu cực thì phải xử lý nghiêm. Chỉ đạo lực lượng cảnh sát biển phối hợp với lực lượng khác xác lập chuyên án triệt phá các đường dây buôn lậu xăng dầu, khoáng sản, các loại hàng hóa qua biên giới. (Sài Gòn Giải Phóng 26/7, Phan Thảo - Thi Hồng​)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Ứng dụng công nghệ thông tin tiếp sức "tinh giản" thủ tục hành chính

Nhằm nâng cao hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân, giúp xử lý thủ tục hành chính nhanh gọn, nhiều tỉnh, thành phố thời gian qua đã nối tiếp nhau ứng dụng Zalo trong giải quyết thủ tục hành chính. Với ứng dụng trên, người dân và doanh nghiệp ở các tỉnh thành này có thể tra cứu thông tin dịch vụ công, tra cứu tình trạng hồ sơ… bằng điện thoại di động.

Là tỉnh đầu tiên trên cả nước áp dụng mô hình này, “Cổng hành chính công tỉnh Tây Ninh” đã rất thành công trong việc cho phép người dân làm thủ tục ngay tại nhà qua điện thoại di động. Cổng thông tin phục vụ hành chính công tỉnh Tây Ninh trên ứng dụng mạng xã hội Zalo là ứng dụng được triển khai trên địa bàn tỉnh. Không chỉ là kênh kết nối chính quyền với người dân, đây còn là một phương thức tiếp nhận và xử lý phản ánh, ý kiến của người dân nhanh chóng, thuận tiện.

Gần đây nhất, vào ngày 28/6, UBND tỉnh Trà Vinh đã chính thức ký kết hợp tác khai thác tính năng của ứng dụng Zalo, phục vụ cải cách hành chính. Theo đó, người dân và doanh nghiệp có thể tra cứu thông tin hồ sơ, đánh giá sự hài lòng về sự phục vụ hành chính, liên lạc với cơ quan chức năng… qua “Cổng thông tin điện tử tỉnh Trà Vinh” trên Zalo.

Với việc ký kết văn bản hợp tác ngày 28/6, hai hệ thống của chính quyền tỉnh Trà Vinh sẽ được kết nối với Zalo gồm: Hệ thống cổng thông tin điện tử và Hệ thống cổng dịch vụ công. Bắt đầu từ tháng 7/2019, người dân và doanh nghiệp có thể theo dõi “Cổng thông tin điện tử tỉnh Trà Vinh” trên Zalo để cảm nhận sự thuận tiện trong giải quyết thủ tục hành chính.

Trước đó, ngày 12/3, tỉnh Cà Mau cũng tổ chức lễ ký kết hợp tác khai thác ứng dụng Zalo trong công tác cải cách hành chính của tỉnh để cho phép sử dụng, khai thác, ứng dụng Zalo trong công tác giải quyết các thủ tục hành chính và công tác cải cách hành chính trên địa bàn toàn tỉnh.

Cụ thể, các thủ tục khai thác trên Zalo trong công tác cải cách hành chính, gồm nộp hồ sơ trực tuyến; tra cứu thông tin và kết quả giải quyết thủ tục hành chính; trao đổi, hỏi đáp, phản ánh, kiến nghị về thủ tục hành chính; đánh giá mức độ hài lòng đối với cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức; đăng ký giao, nhận hồ sơ qua dịch vụ bưu chính ngay trên Zalo.

Còn tại Bình Dương, Cổng thông tin “Binh Duong Smartcity” được chính thức đưa vào hoạt động trên Zalo để cập nhật tin tức, giải quyết thủ tục hành chính trên toàn bộ địa bàn của tỉnh. Không chỉ ứng dụng Zalo trong mô hình “Binh Duong Smartcity”, tỉnh Bình Dương đã ký kết hợp tác khai thác ứng dụng Zalo trong cải cách hành chính và ký kết thanh toán phí TTHC công trực tuyến qua ngân hàng Vietinbank.

Tính đến nay, cả nước có khoảng 40 tỉnh thành đã và đang kết nối kỹ thuật triển khai mô hình dịch vụ công trên ứng dụng công nghệ, với mục tiêu cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính, qua đó phục vụ người dân một cách tốt nhất và cải thiện mức độ hài lòng về giao dịch giữa chính quyền và người dân. Ứng dụng này đã và đang mang lại hiệu quả tích cực và lâu dài cho cả chính quyền và người dân, phù hợp với xu thế của cách mạng 4.0.

Các chuyên gia và lãnh đạo các tỉnh, thành cho rằng đây là bước tiến dài về cải cách thủ tục hành chính, góp phần xóa bỏ cơ chế “xin-cho”… mà người dân vẫn phàn nàn lâu nay. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tiền Giang Trần Thanh Đức nhận định, việc ứng dụng công nghệ sẽ giúp công khai, minh bạch hoạt động hành chính của chính quyền, mang đến cho người dân sự đơn giản, tiện lợi, tiết kiệm thời gian và nguồn lực xã hội.

Tuy nhiên phải thận trọng, có những giải pháp bảo mật thông tin cá nhân và doanh nghiệp khi triển khai mô hình này. Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận Nguyễn Ngọc Hai đánh giá, việc xây dựng mô hình chính quyền điện tử 4.0 nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả, phục vụ tốt hơn cho người dân, giúp quá trình giải quyết thủ tục hành chính được thuận tiện hơn.

Đích thân lãnh đạo Bộ Nội vụ - cơ quan của Chính phủ chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác cải cách hành chính - Thứ trưởng Trần Anh Tuấn đã trực tiếp trải nghiệm tính năng tra cứu hồ sơ trên ứng dụng công nghệ và rất tâm đắc với việc tỉnh Đồng Nai khi triển khai ứng dụng công nghệ vào cải cách hành chính, đáp ứng mô hình xây dựng chính quyền điện tử 4.0.

Ưu điểm của mô hình này là người dân có thể tra cứu và nhận kết quả của hơn 2.000 thủ tục hành chính như: Đăng ký kết hôn, đăng ký hộ tịch, đăng ký hộ kinh doanh, cấp giấy phép lái xe quốc tế, đăng ký giấp phép xây dựng, giấy sở hữu nhà đất,… thậm chí cả kết quả giải quyết khiếu nại, tranh chấp.

Thay vì phải trực tiếp đến trung tâm hành chính, người dân có thể thực hiện các thao tác nhanh chóng và dễ dàng thông qua ứng dụng ngay trên điện thoại. Chính quyền các tỉnh cũng có thể chủ động gửi các thông tin quan trọng tới người dân một cách nhanh chóng và đầy đủ, chính xác.

Không chỉ dừng lại ở mức tra cứu, nhận kết quả hồ sơ, một số địa phương đã có kế hoạch cho người dân làm thủ tục trực tiếp trên ứng dụng, bằng cách điền thông tin vào tờ khai điện tử và đính kèm hình ảnh giấy tờ cần thiết đến Trung tâm hành chính công của tỉnh. Nếu thành công, mô hình này sẽ giải quyết triệt để những rào cản trong công tác cải cách hành chính hiện tại, tạo ra kết quả đột phá cho cả chính quyền lẫn người dân. (Phapluatplus.vn 25/7, Hoàng Thư) Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

Tư nhân hóa và vấn đề tham nhũng gia tăng

Giáo sư kinh tế Jomo Kwame Sundaram, nguyên Trợ lý Tổng Thư ký Liên hợp quốc về phát triển kinh tế cho rằng, mặt trái của tư nhân hóa các doanh nghiệp Nhà nước là tạo ra cơ hội cho những người sống bằng lợi tức, làm suy yếu ý chí của Chính phủ và giảm khả năng kiềm chế tham nhũng.

Theo ông Sundaram, các tổ chức tài chính quốc tế (IFIs) thường đưa ra cải cách chính sách trên phạm vi rộng - được gọi là “những điều kiện” - yêu cầu Chính phủ các nước thực hiện để đổi lấy quyền tiếp cận hỗ trợ tài chính cho mình.

IFIs có thể đưa ra yêu cầu về các chính sách chống tham nhũng và điều kiện chính sách khác mà chúng ta thường thấy, đó là tư nhân hóa các doanh nghiệp Nhà nước (SOEs). Tuy nhiên, giáo sư Sundaram nhận định, bên cạnh những lợi ích mà tư nhân hóa mang lại, mặt trái của việc này là tạo ra cơ hội cho những người sống bằng lợi tức và làm suy yếu ý chí của Chính phủ cũng như khả năng kiềm chế tham nhũng.

Ông Sundaram đặt câu hỏi: Việc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) yêu cầu tư nhân hóa phải chăng đã khiến căn bệnh tham nhũng trở nên trầm trọng hơn?

Giáo sư Sundaram đã tiến hành phân tích thống kê các điều kiện mà IMF đặt ra cho 141 quốc gia đang phát triển từ năm 1982 - 2014, qua đó đã phát hiện ra rằng, việc IMF yêu cầu tư nhân hóa các doanh nghiệp Nhà nước đã làm suy yếu những nỗ lực chống tham nhũng.

Nghiên cứu cho thấy, các điều kiện IMF yêu cầu tư nhân hóa doanh nghiệp Nhà nước đã làm suy yếu nỗ lực chống tham nhũng cả trong ngắn hạn (lên đến 5 năm) và đặc biệt là trong dài hạn. Trong khi đó, những can thiệp khác của IMF đã không ngăn chặn được tham nhũng một cách hiệu quả. Và thực tế, tham nhũng đã tăng lên rõ rệt sau khi tư nhân hóa, đặc biệt là ở châu Mỹ Latin, khu vực châu Phi cận Sahara và Đông Á.

Kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 - 2009, IMF đã tiến hành nghiên cứu và đưa ra các mô hình chính sách, nhưng thay vì những chính sách thực tế, những cải cách chỉ nằm trong các bài hùng biện, khi các lãnh đạo IFI có quá nhiều lý do để duy trì các thông lệ cũ.

Những cải cách mang tính áp đặt của IFI thường yêu cầu Chính phủ các nước cắt giảm chi tiêu công, tư nhân hóa tài sản Nhà nước, tự do hóa thị trường và bãi bỏ việc định giá, rõ ràng là nhằm mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy quản trị tốt và chống tham nhũng.

Các cố vấn của IFI cho rằng, cải cách tự do thị trường hàng hóa sẽ chống lại tham nhũng. IFIs tìm cách tư nhân hóa các doanh nghiệp Nhà nước, với giả định, tại các doanh nghiệp Nhà nước tồn tại cơ cấu tổ chức quản lý có khả năng bị can thiệp chính trị, ảnh hưởng tới sự phát triển.

Và thực tế hiện nay đang có 2 luồng quan điểm. Trong khi một số người cho rằng, thị trường tự do ít có liên quan đến tham nhũng hơn, thì những người khác lại cho rằng, tư nhân hóa doanh nghiệp Nhà nước gây ra tham nhũng.

IFIs quyền lực đã thành công trong việc thúc đẩy những chương trình cải cách của họ ở các nước đang phát triển, trong bối cảnh Chính phủ các nước này thiếu khả năng chống lại các yêu cầu. Do đó, IFIs đóng vai trò là tác nhân của cải cách chính sách mà Chính phủ các nước hùng mạnh mong muốn, hơn là những gì cần thiết cho tiến trình phát triển quốc gia.

Giáo sư Sundaram nhấn mạnh, IFIs thúc đẩy tư nhân hóa, trong khi thiếu sự xem xét các điều kiện cần thiết để tránh sự lạm dụng quyền lực.

Họ đã cấy ghép những điều chỉnh đổi mới từ thế giới của các nước phát triển vào các quốc gia đang phát triển, mà thường không chú ý tới bối cảnh của quốc gia đó. Bởi vậy, IFIs hiếm khi tạo điều kiện thuận lợi, mà đơn phương đưa ra các yêu cầu về trách nhiệm điều chỉnh.

Tư nhân hóa gây ra tham nhũng bằng cách tạo ra những sự thuê mua mới và sự buông lỏng các quy trình làm suy yếu những nỗ lực chống tham nhũng.

Các dạng thức khác nhau của tư nhân hóa tài sản Nhà nước tạo ra sự chia rẽ kinh tế. Việc đưa tài sản Nhà nước ra để bán sẽ dễ dàng hơn chiếm đoạt tư nhân. Tham nhũng có cơ hội phát sinh từ quá trình tư nhân hóa, đặc biệt là từ việc bán tài sản công, nhất là khi tài sản này được quản lý bởi các cựu lãnh đạo doanh nghiệp Nhà nước.

Trong khi những người ngoài cuộc thì có ít quyền truy cập thông tin hơn, các nhà quản lý, quan chức Nhà nước có lợi thế về thông tin có khả năng sử dụng các thông tin này để làm giàu cho bản thân, khuyến khích tham nhũng sinh sôi.

Những nhà quản lý tham lam có thể giả mạo các tài khoản và các công ty được định giá thấp nhằm mua được với giá rẻ. Các nhà thầu cũng có thể cố gắng tác động đến những người có quyền ra quyết định quan trọng để bảo đảm hợp đồng thuê mướn với các doanh nghiệp Nhà nước được tư nhân hóa.

Sau khi “các tư nhân” có được tài sản, họ cố gắng bảo vệ quyền lợi cho những tài sản và các khoản thu nhập có liên quan, và để tránh bị phát hiện sai phạm hay trừng phạt, họ có thể thực hiện hối lộ, mua chuộc các quan chức Chính phủ để được hoạt động thuận lợi.

Theo giáo sư Sundaram, tư nhân hóa có xu hướng làm suy yếu các nỗ lực chống tham nhũng khi các thể chế xuống cấp. Tư nhân hóa có thể làm giảm tham nhũng trong ngắn hạn, nhưng có khả năng gây bất lợi trong dài hạn.

“Những người trong cuộc” sử dụng lợi thế của mình để có được tài sản Nhà nước mới được tư nhân hóa, nắm bắt các cơ hội mới được tạo ra từ tư nhân hóa. Những sự thuận lợi, tạo điều kiện này được đổi bằng những “cảm ơn” đối với những người ra quyết định. Và khi việc này là bất hợp pháp, những người liên quan tìm cách để che đậy hành vi tham nhũng.

Do đó, ông Sundaram nhận định, việc giảm vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế, tự do hóa thị trường và tư nhân hóa đã khiến tình hình tham nhũng xấu đi. (Thanh Tra 26/7, Hoài Phương) Về đầu trang./.

 

    Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.038.199 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này